Phẩm
Thí Dụ
Thứ
Ba
Qua
phẩm Phương Tiện chúng ta đã thấy rõ rằng: Đức Thế Tôn
từ thánh định thung dung mà khởi thuyết cho hội chúng nghe
về “Tri kiến Phật”. Sự lãnh hội ngôn giáo ấy chỉ có
hạng thượng căn như Ngài Xá Lợi Phất mới có thể thấu
rõ được. Nhưng bậc trung và hạ căn vẫn chưa phát khởi
lòng tin, nên Đức Thế Tôn đã thuỳ từ lân mẫn mà dùng
thí dụ để thuyết. Ngõ hầu bậc trung và hạ căn trong hội
chúng phát khởi lòng tin mà thâm nhập Phật trí.
“Lúc
bấy giờ Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng liền đứng
dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan Đức Phật mà bạch Phật
rằng : Nay con theo Đức Thế Tôn nghe đặng tiếng pháp này
trong lòng hớn hở đặng điều chưa từng có”.
Không
hớn hở làm sao được! vì suốt bốn mươi năm nghe pháp,
tu chứng đến quả vị Thanh văn, tưởng chừng mình đã rốt
ráo tận cùng, nay mới thấy rõ rằng quả vị tu chứng kia
chỉ là phương tiện để đạt thành “Tri kiến Phật”.
Mặc
dù tu chứng đến quả vị Thanh văn, nhưng có những lúc Xá
Lợi Phất thấy các vị Bồ Tát được Đức Thế Tôn thọ
ký thành Phật, mà mình lại không can dự gì. Nên khi ở trong
núi rừng vắng vẻ, khi ngồi hoặc đi kinh hành, Xá Lợi Phất
đã từng nghĩ: chúng ta đồng vào phát tán, tại sao Đức
Thế Tôn lại dùng pháp Tiểu thừa mà tế độ cho. Lỗi ấy
ở ai? Hôm nay Xá Lợi Phất đã tự biết lỗi ấy ở nơi
mình.
Vì
căn cơ chưa thuần thục, nên Đức Thế Tôn mới dùng phương
tiện mà dắt dìu cho.
Cũng
như thế, chúng ta ngày hôm nay, nếu có người đến hỏi đạo,
có lúc ta bảo họ ăn hiền ở lành làm sao cho gia đình hoà
thuận ấy là tu. Nhưng có lúc ta lại bão: cần phải quán
các pháp như huyễn để khỏi bị vướng chấp và phiền não
trói buộc thì việc tu hành mới đạt thành kết quả.
Như
vậy, chúng ta mới thấy rõ là tuỳ theo trình độ, tuỳ theo
căn cơ của từng hạng, từng người mà chúng ta nói đạo
lý có khác nhau.
Nay
Xá Lợi Phát đã dứt lòng nghi hối. Vì Ngài đã nhận ra rằng
chính nơi việc tu chứng của Ngài chỉ là những nấc thang
vững chắc để tiến đến Phật thừa.
Do
đó, Xá Lợi Phất biết mình là chân Phật tử. Vì nhân lời
dạy của Đức Thế Tôn mà Ngài phát sinh trí tuệ. Vì nhân
giáo pháp ấy mà trí tuệ càng ngày càng mở rộng, và chứng
được một phần tri kiến Như Lai.
Cho
đến hôm nay Đức Thế Tôn mới khai mở lý đạo Nhất thừa,
Ngài thể nhập được ngay nên rất vui mừng, cho là đặng
điều chưa từng có.
Còn
chúng ta giờ đây thế nào? Chúng ta đã tự xưng mình là Phật
tử, nghĩa là con của đấng Giác Ngộ. Nếu không giác ngộ
như Ngài Xá Lợi Phất thì ít ra chúng ta cũng giác ngộ được
một vài phần, nghe kinh, suy nghĩ những lời dạy ấy để
đạt đến “diệu lý chân thường” đó mới là Phật tử.
Như
quý vị tụng kinh Pháp Hoa, mà không thông đạt diệu lý của
Pháp Hoa thì tụng để làm gì? Tụng cho có phước, hay tụng
để mà tụng? như thế mình có đúng là Phật tử chăng?
- Nếu
Phật tử sao không nhận thấy “Các pháp từ xưa đến nay
tướng thường tự tịch diệt?”.
- Nếu
đã thấy tướng thường tự tịch diệt, sao lại vướng chấp
tướng vô thường?
- Nếu
không vướng chấp tướng vô thường, nghĩa là đã quán được
“Các pháp hữu vi đều vô thường” rồi suy nghĩ nhàm chán,
buông bỏ để thõng tay vào núi chăng?
Tướng
vắng lặng của các pháp chỉ tương ứng với tâm thể rỗng
rang, sáng suốt hoàn toàn. Tướng đó là chân tướng của
vạn pháp, chứ không phải tướng do duyên hợp. Vì quán triệt
như thế mà chư vị Đại Bồ Tát phát khởi lòng đại từ
bi để đồng cư với chúng sinh mà dẫn độ chúng sinh thoát
ra khỏi vòng nhiễm chấp.
Lúc
đầu Xá Lợi Phất nghe Đức Thế Tôn thuyết về “Tri kiến
Phật” lòng kinh nghi lo sợ, tưởng rằng ma thuyết. Bởi vì
lúc xưa Ngài tu theo giáo phái Bà la môn, cầu được sinh Thiên,
nằm trong sinh tử luân hồi. Đức Thế Tôn đã phá trừ tà
kiến của Ngài, nhân đó thuyết về Tứ Đế, để Ngài đạt
đến quả vị Thanh văn, nay đã thành thục, Đức Thế Tôn
dứt trừ lưới nghi và cho Ngài biết đó là phương tiện,
để dẫn đến Nhất thừa. Nên ngài liền tỏ ngộ và an trụ
vào thật trí. Do đó phần trùng tụng trong phẩm kinh đã nêu:
“Nghe
tiếng Phật êm dịu
Sâu
xa rất nhiệm mầu
Nói
suốt pháp thanh tịnh,
Tâm
con được vui mừng,
Nghi
hối đã hết hẳn,
An
trụ trong thật trí”.
Đã
an trụ trong thật trí, nên Ngài thấu hiểu một cách rõ ràng
về vấn đề “Khai quyền hiển thật” của Đức Thế Tôn
và chư Phật trong ba đời vẫn thế. Do vậy, Ngài rất vui
mừng và biết chắc rằng mình sẽ thành Phật, được trời,
người cung kính, chuyển pháp luân vô thượng để giáo hoá
mọi người.
“Con
quyết sẽ thành Phật,
Được
trời, người cung kính,
Chuyển
pháp luân vô thượng,
Giáo
hoá các Bồ Tát”.
Và
Đức Thế Tôn đã thọ ký cho Ngài:
“Xá
lợi Phất! Ngươi đến đời vị lai quá vô lượng, vô biên
bất khả tư nghì kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức
Phật, phụng trì chánh pháp, đầy đủ đạo tu hành của Bồ
Tát, sẽ thành Phật, hiệu là Hoa Quang Như Lai, đầy đủ mười
hiệu, nước tên là Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng, thanh tịnh,
đẹp đẽ, yên ổn, giàu vui, trời, người đông đảo. Xá
Lợi Phất, Đức Phật Hoa Quang ấy thọ 12 tiểu kiếp, quá
12 tiểu kiếp trao ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
cho Kiên Mãn Bồ Tát ... sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An
Hành Như Lai”.
Nếu
chúng ta được thọ ký như Ngài Xá Lợi Phất, chúng ta
có vui mừng chăng? Có lẽ chúng ta không vui mừng, vì tới
vô lượng, vô biên bất khả tư nghì kiếp mới thành Phật,
thật là lâu xa quá, làm sao mừng được.
Như
vậy chúng ta chưa thấy “tánh”, nên chưa đạt lý “bất
sinh, bất diệt”, còn vướng mắc ở thời gian bám chặt
lấy thân này mà phát sinh vọng niệm.
Còn
Ngài Xá Lợi Phất đã nhận rõ về “Tri kiến Phật” giải
thoát sự nô lệ của thời gian, do vậy, Ngài rất vui mừng.
Thông
thường chúng ta muốn tu độ 5–10 năm thì đạt đạo. Nhưng
5–10 năm vẫn chưa thấy lý đạo, ta lại chán nản. Trong
lúc chán nản gặp người bạn nào đó rủ mình, này bạn!
Chỗ này có pháp môn niệm Phật hay lắm, dễ đạt đạo lắm,
hãy đến đó mà niệm Phật. nhưng rồi 3-4 năm sau vẫn chưa
thấy đạt, hay chứng gì cả, lại đâm ra chán nản. Có người
bạn khác đến, sau khi nghe mình kể lại pháp môn niệm Phật
chẳng thấy chứng đạt gì. Người bạn thứ hai này cho biết
ở nơi kia có pháp môn ngồi thiền, nghe ông thầy nói tu mau
chứng lắm, mình lại lật đật đến nơi, cũng ngồi thiền,
3,4 năm nhưng rốt cuộc cũng chẳng thấy chứng đạt gì cả.
Cứ thế suốt cuộc đời loanh quanh lẩn quẩn, tìm cầu nhọc
sức mà chẳng thông lý đạo.
Đạo
Phật là đạo giác ngộ. Lấy trí tuệ làm căn bản cho việc
hành trình vào lý đạo cao siêu. Nếu một lòng vững tin mình
có trí tuệ Bát Nhã tuyệt vời đồng với chư Phật không
khác. Trí tuệ ấy không phải nơi chữ nghĩa, ngôn ngữ, thời
gian hay không gian, hay nơi quả vị tu chứng. Mà nó ở nơi
sự trực nhận lẽ thật của muôn vạn pháp và sống đúng
với lẽ thật ấy.
Do
vậy, dù có tu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mới thành Phật,
chúng ta vẫn chẳng thấy ngán ngại gì cả.
Ngài
Xá Lợi Phất đã nhận chân được điều ấy và biết được
rằng ngay chính thân phàm phu này đã ẩn tàng thân Phật.
Trong
Chứng Đạo Ca Ngài Huyền Giác cũng có câu: “Thân không huyễn
hoá, tức pháp thân”.
Như
thế ai lại chẳng có pháp thân. Nhưng mình lại chối từ
không nhận, cho là phàm phu “vô phần”, lại đi tìm cầu
“pháp thân” nơi xa xăm vô tận. Có lẽ thiên vạn ức kiếp
chẳng bao giờ ta gặp được “pháp thân” đó cả.
“Bấy
giờ bốn bộ chúng : Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni... thấy Xá Lợi Phất
ở trước Phật lãnh lời dự ghi sẽ thành Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng, mỗi người đều cởi
y trần của mình đang đắp để cúng dường Phật”.
Chúng
ta hãy xem, thuở quá khứ, trong chúng hội thấy có một người
được trao ký thành Phật mọi người đều vui mừng.
Nhưng
bây giờ chúng ta thấy một người nào đó được bậc tôn
túc ngợi khen thì chúng ta có vui mừng chăng? Hay chúng ta sinh
tâm tật đố?
Ngài
Xá Lợi Phất vừa được trao ký ở đời vị lai quá vô lượng
vô biên bất khả tư nghì kiếp sẽ thành Phật, liền ân cần
thưa thỉnh Đức Thế Tôn về các vị tâm tự tại 1.200 đây
lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng : “Pháp
của ta hay lìa sinh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết bàn, các
vị hữu học, vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã,
cùng chấp có chấp không... Nói là đặng Niết bàn mà nay
ở trước Đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa
vào nghi lầm. Hay thay! Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói
nhân duyên đó khiến lòng lìa nghi hối”.
Điều
đó cho chúng ta thấy rõ rằng: Tinh thần vị tha của “người
xưa” thật là cao quý, mình đã được trao ký mong mọi người
cũng được trao ký như mình.
Nhưng
tại sáo bốn chúng lại có lòng nghi như vậy? Bởi vì bốn
chúng đã từng theo Phật nghe pháp và họ y theo pháp đó để
tu hành, đạt thành quả vị Thanh văn, đúng như lời giáo
huấn của Như Lai.
Nhưng
nay Đức Thế Tôn lại “khai quyền hiển thật” thì quả
vị tu chứng của họ sẽ đi về đâu? Như thế các pháp mà
do Đức Thế Tôn đã thuyết ra cho họ tu đó có pháp là thật
pháp hay chăng? Cho nên bốn chúng mới phát khởi lòng nghi như
vậy.
Đức
Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: “Ta trước đâu không nói rằng:
Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên, lời lẽ, thí dụ,
phương tiện mà nói pháp đều là đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác ư? Các điều nói đó đều vì dạy Bồ Tát vậy.
Nhưng Xá Lợi Phất! Nay Ta dùng một thí dụ để chỉ rõ lại
nghĩa đó, nhưng người có trí do thí dụ mà đặng hiểu”.
Điều
đó chúng ta thấy rằng: Các pháp mà Đức Thế Tôn đã tuyên
bày để dìu dắt chúng hội từ trước đến nay vẫn là những
pháp hướng về “Nhất thừa”.
Những
điều chỉ dạy của Đức Thế Tôn để tiến tu đều nằm
trong giáo pháp Đại thừa. Điều cần yếu là không nên trụ
vào những pháp đó, thì mới có thể tiến đến chỗ thâm
diệu của pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nhưng
để rõ nghĩa hơn, Đức Thế Tôn đã dùng một thí dụ để
minh chứng điều đó.
“Xá
Lợi Phất! Như trong quốc ấp tụ lạc có vị đại trưởng
giả tuổi đã già suy yếu, của giàu vô lượng, có nhiều
gia trạch, ruộng nương và tôi tớ, nhà ông rộng lớn mà
chỉ có một cửa để ra vào”.
Với
ý nghĩa là Đức Như Lai thường trụ ở chân tâm vắng lặng
thành tịnh, viên mãn, đầy đủ phước huệ trang nghiêm.
Vì
“quốc ấp tụ lạc” là chỉ cho cõi “thường tịch quan”,
“ông trưởng giả” là chỉ cho “ứng thân Phật”.
Từ
trong tánh giác viên minh đầy đủ phước huệ mà phát khởi
lòng đại từ đại bi thị hiện để độ thoát chúng sinh.
- Vì
trưởng giả tuổi đã già suy của giàu vô lượng nghĩa là
sự tu hành đã trải qua vô lượng kiếp. Các căn thuần thục,
không còn nhiễm chấp nên đã thành tựu công đức vô lượng,
vô biên.
- Có
nhiều gia trạch ruộng nương và tôi tớ, là chỉ cho trạch
thức hay vô cấu thức. Ở nơi mảnh đất vô cấu ấy, năng
sinh các công đức. Chuyển tất cả phiền não hay tôi tớ
thành diệu dụng của chân tâm.
Còn
chúng ta giờ đây bị vô minh sai khiến, bọn tôi tớ lắm
mưu nhiều kế, ông chủ lại bạc nhược ngớ ngẩn cho nên
bao nhiêu ruộng nương của cải bị chúng chiếm đoạt cả.
Do
đó chúng ta nghèo cùng khốn khổ. Nghĩa là chúng ta không có
phước huệ trang nghiêm nên bị sinh tử luân hồi.
- Nhà
ông trưởng giả thật rộng lớn, là chỉ cho “pháp giới
tính” viên mãn thường hằng.
- Chỉ
có một cửa ra vào, là chỉ cho giáo môn Nhất thừa.
- Người
trong đó rất đông hoặc 100, 200 cho đến 500 người, lầu
gác đã mục, vách phên sụp đổ, chân cột hư nát, trính
xiên xiêu ngã, bốn phía cùng một lúc lửa bổng nổi lên
đốt cháy nhà cửa.
- Các
người con ông trưởng giả hoặc 10 người, hoặc 20 người,
hoặc 30 người ở trong nhà đó.
Đoạn
kinh trên cho chúng ta thấy rằng : “Thể tính viên minh” Phật
và chúng sinh vốn đồng, nhưng chúng sinh vì vô minh vọng động
nên có sự sai khác. Từ vọng thức đảo điên nảy sinh
tam giới, để rồi có sáu nẻo luân hồi.
Cái
“Thể tính viên mãn” kia bị phiền não đốt cháy nên “cái
nhà rộng lớn đó” đã trở thành nhà lửa hay còn gọi là
hoả trạch.
Trong
nhà đó rất đông người : hoặc 100, 200 cho đến 500 người
là chỉ cho ngũ thú (trời, người, địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh) lăn lộn chung nhau.
- Lầu
gác đã mục, tượng trưng cho sắc ấm sinh diệt nối nhau.
- Vách
phên sụp đổ, tượng trưng cho tưởng ấm niệm niệm đổi
thay.
- Chân
cột hư nát tượng trưng cho hành ấm liên tục thế nhau.
- Trính
xiên xiêu ngã, tượng trưng cho thọ ấm bại hoại tiêu vong.
- Bốn
phía cùng một lúc lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa,
tượng trưng cho ngũ ấm niệm niệm dấy lên. Không từ đâu
đến các phiền não càng ngày càng tăng trưởng để thiêu
huỷ “Chân tính viên minh”.
- Các
người con của ông trưởng giả hoặc 10 người, hoặc 20 người,
hoặc đến 30 người. Nghĩa là trong nhà lửa ấy, chúng sinh
mặc dù trôi lăn trong ngũ thú, nhưng cội nguồn sẵn có hạt
giống vô lậu xuất thế đủ “Tam thừa chủng tính” nên
mới gọi là con ông trưởng giả.
- Hoặc
10 người là tượng trưng cho chủng tính Bồ Tát Đại thừa.
- Hoặc
20 người là tượng trưng cho chủng tính Độc Giác thừa.
- Hoặc
30 người là tượng trưng cho chủng tính Thanh văn thừa.
Bằng
những chủng tính ấy nếu được khai mở sẽ đạt thành
quả vi “Diệu giác chân thường”.
Trưởng
giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ
hãi mà nghĩ rằng: “Ta dầu có thể ở nơi cửa nhà cháy
này ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui
chơi giỡn không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt
thân, rất là đau khổ, mà lòng chẳng hề nhàm lo, không có
ý cầu ra khỏi”.
Đức
Thế Tôn đã thấy rõ chúng sinh đắm mê ngũ dục, sa đoạ
vào nơi ác đạo, lửa vô thường thiêu đốt nhưng chúng chẳng
hề hay biết, cứ ở nơi nhà lửa ham chơi vui giỡn, chẳng
kinh, chẳng sợ, thật là đáng thương xót.
Đến
đây chúng ta lại tự hỏi: tại sao lửa cháy mà không biết,
không sợ?
Bởi
vì đó là lửa vô thường, không hình, không tướng khó nhận
ra được năm món dục: “Tài, sắc, danh, thực, thuỳ” luôn
luôn đẩy đưa theo vọng thức, làm lu mờ tánh giác của chúng
sinh.
Có
những lúc nhìn cảnh sinh, lão, bệnh, tử, cũng giật mình
lo sợ. Nhưng rồi cảnh dục lại thúc bách làm cho tâm trí
si mê, chỉ biết buông trôi tham nhiễm.
Nếu
có quy ngưỡng về Tam Bảo thì cũng chỉ gọi là.
Các
bậc Tổ Đức đã lận đận nhiều phen, rát cổ, khô lưỡi
để đem lý đạo nhiệm mầu để dìu dắt chúng sinh ra khỏi
nhà lửa. Nhưng nói rồi quên rồi, có bao giờ chúng sinh tỉnh
giác để ra khỏi nhà lửa đầu?
“Xá
Lợi Phất! Ông trưởng giả đó lại nghĩ thân và tay của
ta có sức mạnh nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế đẳng từ
trong nhà mà ra ngoài”.
Nghĩa
là ông có đầy đủ trí và lực như sức mạnh của thân
và tay có thể che chỡ dìu dắt kẻ hạ căn, có thể dùng
phương tiện giúp cho kẻ trung căn ra khỏi nhà lửa. Như lời
kinh dạy: dùng vạt áo hoặc dùng ghế đẳng từ trong nhà
mà ra ngoài.
Đó
là Đức Thế Tôn muốn đem trí tuệ thần thông không thể
nghĩ bàn để tiếp độ chúng sinh. Nhưng vì chúng sinh nghiệp
quả nặng nên không tiếp nhận nổi.
“Ông
lại nghĩ : nhà chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các
con thơ bé chưa hiểu gì mê đắm chơi giỡn, hoặc vấp ngã
bị lửa cháy. Ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng
sợ”.
Nếu
không dùng trí tuệ thần thông thì Đức Thế Tôn lại nghĩ
là đem “Nhất thừa giáo môn” để chỉ bày. Nhưng chúng
sinh vẫn chưa đủ căn trí để tin được, Ngài lại thuyết
về sinh, lão, bệnh, tử, vô thường đáng sợ mà thúc dục
chúng sinh mau phát khởi sự tu hành để ra khỏi nhà lửa.
Nhưng
cuối cùng chúng vẫn chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ hãi,
trọn không có lòng muốn ra, lại chẳng hiểu gì là lửa,
gì là nhà, thế nào là hại, chỉ cứ đông tây chạy giỡn
nhìn cha mà thôi.
Biết
được các con vốn sẵn có hạt giống vô lậu xuất thế
nhưng tham ưa ngũ dục, ông trưởng giả bèn dùng chước phương
tiện, theo những điều ước mong của chúng. Nếu chúng ưa
“tài, sắc, danh, thực, thùy”, ông sẽ thuyết về những
món tài, sắc, danh, thực, thùy, ông sẽ thuyết về những
món tài, sắc, danh, thực, thuỳ vui sướng gấp vô lượng
lần như thế. Như cảnh giới Cực lạc ở Tây phương, như
những phước báu trang nghiêm nơi các quả vị tu chứng, chắc
chúng sẽ ưa thích, nương theo đó mà ra khỏi nhà lửa vậy.
“Cha
biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu
lạ lùng, nếu có, chắc chúng ưa đắm, nên bảo các con rằng
: đây này là những món đồ ít có khó đặng, mà các con
có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy, sau chắc buồn
ăn năn, các thứ xe dê, xe trâu, xe hươu như thế này ở ngoài
cửa, có thể dùng dạo chơi. Các con ở nơi nhà lửa nên mau
ra đây tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con”.
Đức
Thế Tôn nói thẳng sự hiểm nguy của nhà lửa. Chúng sinh
vẫn không tin, lại cứ rong chơi trong ngũ dục, thỉnh thoảng
nhìn cha, rõ là chúng sinh quá mê muội. Tuy nhiên vì lòng thương
xót bao la, Ngài đã dẫn dụ bằng cách hứa cho những đồ
chơi tốt đẹp để ở ngoài nhà lửa, mặc tình con lấy dạo
chơi thỏa thích. Hay nói đúng hơn là Đức Thế Tôn đã dùng
phương tiện mà lập Tam thừa giáo pháp, để cho chúng sinh
thoát ly sinh tử.
Với
những quả vị Thanh văn, Duyên giác Bồ Tát, nếu đạt thành
thì xem như con đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chẳng
còn bao xa nữa. Vì xe dê, xe hươu, xe trâu là dụ cho Tam thừa
giáo pháp.
“Lúc
bấy giờ các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa
ý mình, nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn
nhau, cùng đua nhau ruổi chạy tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó
ông trưởng giả thấy các con đặng an ổn ra khỏi nhà lửa,
đều ở trong ngã tư, ngồi nơi đất trống. Không còn bị
chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở”.
Do lòng thương xót vô hạn, Đức Thế Tôn đã chiều uốn
theo sở thích của từng hạng, từng người, mà làm cho họ
phát khởi lòng tinh tấn, dòng mãnh tu theo pháp “Tứ Đế”
chứng “vô trụ Niết bàn” đè bẹp được phiền não, không
còn có gì làm chướng ngại. Nên đoạn kinh đã ghi : “Ra
khỏi nhà lửa đều ở trong đường ngã tư, ngồi nơi đất
trống, không còn bị chướng ngại”. Nên khi đó chính là
lúc ông trưởng giả đem xe báu cho các con.
“Xá Lợi Phất! Khi đó ông trưởng giả đều cho các con
đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng, chưng dọn bằng các
món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn rộng
giăng che ở trên cũng dùng đồ báu tốt đẹp lạ mà trau
giồi đó, giây bằng báu kết thắt các giải hoa rũ xuống,
nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng
trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp, có
sức rất mạnh, bước đi ngay thẳng mau lẹ như gió, lại
có đông tôi tớ để hầu hạ đó”.
- Với xe lớn này là dụ cho Đại thừa giáo pháp, không bị
thời gian và không gian chi phối, nên gọi là cao rộng.
- Chưng
dọn bằng các món báu là chỉ cho muôn hạnh muôn đức trang
nghiêm.
- Giữ
thiện bên trong, ngăn ác bên ngoài, gọi là lan can bao quanh.
- Dùng
biện tài vô ngại để giáo hóa chúng sinh nên gọi là bốn
phía treo linh.
- Dùng
tứ vô lượng tâm để hàng phục muôn loài gọi là màn lọng
giăng che.
- Dùng
thiền định để thâu nhiếp các căn, nên gọi là nệm chiếu
mềm mại gối đỏ để trên.
- Tâm
thể rỗng rang, trí tuệ tuyệt vời, các pháp đều biến thành
“vô lậu công đức”, nên gọi là trâu trắng kéo, sắc
da mập sạch, thân hình mập đẹp.
- Dùng
“vô phân biệt trí” làm “sức mạnh kéo đi” đè bẹp
các phiền não bằng “nhị không chân trí” nên gọi là bước
đi ngay thẳng.
- Dùng
“chánh trí đốn viên” vào nơi Phật đạo, nên gọi là
mau lẹ như gió.
- Chuyển
tất cả phiền não thành công đức vô lượng vô biên, gọi
là có đông tôi tớ để hầu hạ.
Với
cỗ xe như vậy đã vượt ra khỏi sự suy lường của các
người con ông trưởng giả.
“Lúc
ấy các người con đều ngồi xe lớn, đặng điều chưa từng
có, quá hơn chỗ trước kia mình mong”. Như thế ông trưởng
giả có mắc tội hư dối chăng?
Ngài
Xá Lợi Phất khẳng định rằng: Ông trưởng giả không có
lỗi hư dối. Vì mục đích của ông là muốn cho các người
con ra khỏi nhà lửa. Khi các người con đã ra được rồi,
dù ông không cho một chiếc xe nhỏ nào cả, ông cũng không
mắc tội hư vọng. Huống là ông cho các người con loại xe
báu lớn bình đẳng.
Như
vậy, câu chuyện ông trưởng giả mà Đức Thế Tôn vừa nêu
đã làm cho chúng hội hiểu rõ rằng: Đức Thế Tôn cũng như
thế, Ngài đã “thùy từ lân mẫn” thị hiện đồng cư
với chúng sinh, để độ chúng sinh ra khỏi nạn lửa: sinh,
già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não, ngu si tối tăm, ba độc,
dạy bảo cho chúng đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bốn
tướng sinh, lão, bệnh, tử, luôn luôn lưu chuyển, tam độc
tham, sân, si luôn luôn nối nhau không dứt. Chốn vùi chân trí
của chúng sinh, làm cho chúng sinh trôi lăn trong lục đạo của
nhà lửa tam giới.
Tánh
dục của chúng sinh lẫy lừng, chưa được cố tìm cầu kỳ
cho được, được rồi lại chấp giữ lo sợ mất đi. Trong
thì ôm ấp điều lo, ngoài thì ló dáng sự lo buồn, đâu có
khi nào rỗng rang tự tại, lửa vô thường không hẹn mà đến.
Vì
si mê “lấy khổ để trừ khổ”. Nghĩa là tìm cầu những
cái vui tạm bợ, đến khi buồn chán lại tìm cái vui tạm
bợ khác để lấp vào. Nhưng khi đi tìm cái vui tạm bợ lại
phải dùng đến trăm mưu nghìn kế, tạo ra không biết bao
nhiêu tội lỗi về “sát, đạo, dâm, vọng”. Nghiệp lực
chất chồng như dòng thác lũ cuốn trôi vào ba đường ác,
địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, luân hồi khổ đau mà tự
mình chẳng biết.
Mặc
dù thế, Đức Thế Tôn đã thấy biết chúng sinh vốn có Tam
thừa chủng tính, nên Ngài đã dùng vô số phương tiện để
dìu dắt, làm cho chúng từ bỏ sự khởi tâm điên đảo mà
tinh tấn tu dưỡng để vượt thoát ra khỏi nhà lửa tam giới.
Ngài
dạy: “Các người không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới,
chớ có tham mê các món sắc, thanh, hương, vị, xúc, thô hèn,
nếu tham mê ắt sinh ái nhiễm, thời sẽ bị nó đốt. Các
người mau ra khỏi ba cõi sẽ đặng chứng ba thừa: Thanh văn,
Duyên giác và Phật thừa”.
Bởi
vì các món sắc, thanh hương, vị, xúc do duyên mà có. Nếu
chúng ta bám chặt vào duyên cho đó là chân thật, để rồi
si mê hưởng thụ, thì vũng lầy sinh tử kia sẽ là nơi chúng
ta lặn hụp muôn đời.
Với
ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát đó là những cổ xe
vượt thoát ra khỏi “vũng lầy sinh tử”, vượt thoát ra
khỏi “nhà lửa tam giới”.
Nhưng
khi ra khỏi nhà lửa rồi sao nữa? Ra khỏi nhà lửa rồi, ông
trưởng giả cho các con biết rằng: những cổ xe kia chỉ là
phương tiện. Theo căn cơ, theo sỡ thích của từng đứa con
mà ông dẫn dụ để chúng phấn khởi chạy ra. Vì sao thế?
Vì các con đã miệt mài chơi giỡn chẳng biết gì là lửa
cũng chẳng biết gì là nhà? Nói những điều đáng sợ trong
nhà lửa chúng cũng không tin, nên ông đã giả lập ba cỗ
xe theo sở thích mà dẫn dụ chúng. Thật ra ông trưởng giả
có của giàu vô lượng chỉ muốn cho các con cùng một thứ
xe lớn thật báu đẹp, bình đẳng như ông không khác. Đó
là lòng thương xót bao la! Đó là tinh thần bình đẳng, từ
bi tuyệt đối.
“Xá
Lợi Phất! Như ông trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ
dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn, vật báu trang nghiêm
an ổn thứ nhất. Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên đó nên phải
biết Đức Như Lai dùng sức phương tiện một Phật thừa
phân biệt nói thành ba”.
Đến
đây phần trùng tụng lại một lần nữa nói về nhà lửa.
Đặc biệt là chúng ta đi sâu vào phần minh chứng về những
tướng trạng trong nhà lửa. Nghĩa là phần thuyết minh về
những điều do vọng thức nảy sinh.
- Có
những lúc chung sinh phát khởi lòng sân hận, giống như loài
rắn rít hay độc trùng nguy hiểm đụng đến là chúng cắn
xé châm chích ngay. Loài người xà, phúc yết (rắn độc, bò
cạp, đỉa rừng).
Giống
con rít con sên,
Loài
thú cung bát túc,
Dứu
ly cùng hề thử (chồn, cáo, chuột)
Các
giống dữ độc trùng,
Ngang
dọc xen ruổi chạy.
- Có
những lúc chúng sinh vì đam mê vật dục mà không đủ lý
trí để phân biệt những thú tánh thấp hèn, giống như loài
“bọ trùng” bu nhóm trên chỗ phân dãi hôi thối và đồ
bất tịnh chảy tràn mà lấy làm ưa thích
Chỗ
phân dãi hôi thối
Đồ
bất tịnh chảy tràn
Các
loài trùng khương lương
Bu
nhóm ở trên đó.
- Có
những lúc chúng sinh phát khởi lòng nghi không tin chánh pháp,
chẳng biết nhân quả, nên tư tưởng và hành động dẫy đầy
thâm độc để giết hại lẫn nhau, giống như loài cáo, sói
và dã can.
Cáo
sói và dã can,
Liếm
nhắm và dày đạp,
Cắn
xé những thây chết,
Xương
thịt bừa bãi ra.
- Do
vì nghi ngờ, nên có những lúc chúng sinh phát khởi lòng ngạo
mạn, chẳng tin chẳng kính ai cả. Vì tham nhiễm mà giành giựt
cấu xé nhau, như những bầy chó ốm đói và sợ sệt đi tìm
món ăn mà tranh nhau vậy.
Do
đây mà bầy chó
Đua
nhau đến ngoạm lấy
Ốm
đói và sợ sệt
Nơi
nơi tìm món ăn
Giành
giựt cấu xé nhau
Gầm
gừ gào sủa rân
Nhà
đó rất kinh sợ
Những
biến trạng dường ấy.
- Có
những lúc chúng sinh chấp vào sự thấy biết sai lầm hay gọi
là tà kiến, bác bỏ đạo lý nhân quả, cho nên không việc
ác nào không làm, giống như loài “ác quỷ” tàn phá cả
nhân đạo và thiện đạo. Chúng cùng với loài độc trùng,
ác thú giành nhau. Để kiếm ăn càng ngày càng hỗ tương tăng
trưởng thật là đáng kinh sợ.
Khắp
chỗ đều có những
Quỷ,
ly, mị, vọng lượng
Quỷ
Dạ Xoa, quỷ dữ
Nuốt
ăn cả thịt người
(tàn
phá nhân, thiên đạo).
Các
loài độc trùng dữ
Những
cầm thú hung ác
Sản,
sinh, ấp cho bú
Đều
tự giấu gìn giữ
Quỷ
Dạ xoa đua đến
Giành
bắt mà ăn đó
Ăn
cho no nê rồi
Lòng
hung dữ thêm hăng
Tiếng
chúng đánh cãi nhau
Thật
là đáng kinh sợ.
- Có
những chúng sinh giữ giới cấm phi lý, như ăn những vật
trâu ăn hay gà ăn, rồi tự cho những ý nghĩ của mình là
hơn hết, đã vượt thoát được cõi Dục, cõi Sắc, Vô Sắc,
dạo quanh xuống lên một cách mệt nhọc mà chẳng có chút
công đức nào, giống như
Những
quỷ Cưu bàn trà
Ngôi
xổm trên đống đất (lìa cõi Dục)
Một
thước hay hai thước (cõi Sắc, Vô Sắc)
Qua
rồi lại dạo đi
Buông
lung chơi cùng giỡn.
Chấp
giữ giới cấm phi lý như thế lại còn rao truyền ra ngoài
tự cho giới cấm mình là hơn cả, giống như loài quỷ Cưu
bàn trà.
Nắm
hai chân của chó
Đánh
cho la thất thanh
Lấy
chân đạp lên cổ
Khủng
bố chó làm vui.
- Có
những lúc chúng sinh si mê chấp ngã, cho thân này là thật
của ta, tài sản này là thật của ta, ngã tham tương ưng,
thúc đẩy lẫn nhau, tìm cầu vật thực, tạo ra không biết
bao nhiêu điều ác, giống như các loài quỷ
Thân
nó rất cao lớn (chấp ngã)
Trần
truồng thân đen xấu
Thường
ở luôn trong nhà (không buông xả)
Rền
tiếng rất hung ác
Kêu
la tìm món ăn.
- Có
những chúng sinh chấp đắm hai bên như đầu trâu có hai sừng,
lòng muốn ăn tươi nuốt sống kẻ thù, thực hành các điều
ác, hiện ra tướng hung hiểm như: đầu tóc bờm xờm, ăn
cả thịt người, hay thịt cho, chẳng có chút phước báu nào
cả, bị đói khát bức ngặt kêu gào rong chạy.
Lại
có các giống quỷ
Đầu
nó như đầu trâu
Hoặc
là ăn thịt người
Hoặc
là ăn thịt chó
Đầu
tóc rối tung lên
Rất
ác lại hung hiểm
Bị
đói khát bức ngặt
Kêu
la vừa rong chạy
- Có
những lúc chúng sinh chẳng theo chánh lý, lại mê hoặc lòng
người, rình tìm chỗ dở của người để hãm hại, giống
như là quỷ.
Dạ
xoa cùng quỷ đói
Các
chim muông ác độc
Đói
gấp rảo bốn bề
Rình
xem nơi cửa sổ
Các
nạn dường thế ấy
Vô
lượng việc ghê sợ.
- Đó
là những tướng trạng từ vọng thức đảo điên đắm nhiễm
của chúng sinh đã và đang tác hành trong nhà lửa tam giới.
Muôn vạn thứ phiền não của phàm phu, của ngoại đạo, của
Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới trùng trùng duyên khởi,
tác hành làm cho chúng sinh xa rời tánh giới.
Nhà
lửa đó dường ấy,
Rất
nên ghê sợ thật,
Độc
hại cùng hỏa tai,
Các
nạn hẳng phải một.
Như
vậy từ trong vọng thức nảy sinh những cảnh tượng huyễn
như, trói buộc và đẩy chúng sinh trôi lăn trong tam giới.
Nhưng nếu chúng sinh nào biết tỉnh giác, tĩnh tâm tu dưỡng
trong pháp Phật, thì những cảnh tượng huyễn hư kia sẽ dần
dần tẩy sạch.
- Các
pháp mà Đức Thế Tôn thuyết ra đó là những phương tiện
thiết yếu để chúng sinh thoát ra khỏi nhà lửa, tiến vào
Phật đạo.
- Các
quả vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát là những nấc thang
vững chắc tùy theo căn cơ để đạt thành “Tri kiến Phật”.
Do
đó, Đức Thế Tôn dầu có nói diệt độ cho hạng người
cầu quả vị Thanh văn, Duyên giác... cũng chỉ là phương tiện
để rửa sạch vết nhơ phiền não nổi bật, trong một chiếc
áo phiền não chưa được sạch hoàn toàn.
Đó
mới là một chặng đường của con đường dài miên viễn
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Do
vậy:
Nếu
người có trí nhỏ,
Quá
mê nơi ái dục,
Phật
bèn vì hạng này,
Mà
nói lý khổ đế,
Chúng
sinh nghe lòng mừng,
Đặng
điều chưa từng có,
Đức
Phật nói khổ đế,
Chắc
chắn khổ không sai.
Và
nếu chưa biết cội nguồn của khổ:
Phật
vì hạng người này,
Nói
nguyên nhân của khổ,
Tham
dục là cội nguồn,
Nên
dứt được tham dục,
Khổ
không chỗ nương đỗ.
Cho
nên:
Lìa
các khổ trói buộc
Gọi
đó là giải thoát
Nhưng
thật ra chỉ mới xa rời hư vọng, vì chưa đạt đến quả
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nhưng
nếu có kẻ nào nghe đến chỗ này mà tin hiểu được thì
kẻ ấy bước vào Phật đạo không còn khó khăn.
Nếu
có người nghe đến,
Tùy
hỷ lãnh hội ấy,
Phải
biết rằng người ấy,
Là
bậc bất thối chuyển.
Cho
nên Đức Thế Tôn vì người trí sâu mà thuyết kinh Pháp Hoa
này. Nếu ai dùng vọng thức để suy lường thì không thể
nào hiểu được.
Chính
như Ngài Xá Lợi Phất đã do lòng tin mà thấu được kinh
này.
Tất
cả hàng Thanh văn
Cùng
với Bích Chi Phật,
Đối
với kinh pháp này,
Sức
họ không hiểu được,
Chỉ
ngươi Xá Lợi Phất,
Hãy
còn nơi kinh này,
Dùng
lòng tin đặng vào.
Như
vậy, chúng ta mới thấy rằng chỉ có lòng tin vững chắc
là mình sẽ thành Phật, mình sẽ ngộ nhập vào “Tri kiến
Phật” đó là điều thiết yếu để bước vào giáo pháp
Đại thừa.
- Nếu
không tin như thế là tự ta đã phủ nhận “Tri kiến Phật”
của chúng ta. Tự ta đã phủ nhận “hạt giống vô lậu”
vốn sẵn có từ vô thỉ vô chung ở tự thân ta. Và chỉ
có khi nào tin tưởng rằng ta có “Tri kiến Phật” thì mới
có thể đạt thành “Tri kiến Phật”.
Nếu
chúng sinh nào vì vọng ngữ mà nảy sinh kiêu mạn, biếng lười
để ngũ dục cuốn trôi thì sẽ khó tin, khó hiểu kinh này.
Và kể cả những ai đắm nhiểm vào những điều mình đã
đạt thành trong Phật pháp, thì cũng khó tin, khó hiểu kinh
này.
Do
vậy, Đức Thế Tôn đã ân cần dặn bảo Ngài Xá Lợi Phất:
Lại
này Xá Lợi Phất,
Kẻ
kiêu mạn biếng lười,
Vọng
so chấp lấy ngã,
Chớ
vì nói kinh này,
Hạng
phàm phu biết cạn,
Quá
mê năm món dục,
Nghe
pháp không hiểu được,
Cũng
chẳng nên vì nói.
- Nếu
đã không tin không hiểu thì dễ sinh lòng hủy báng. Do sự
hủy báng, nghi hoặc, chê bai, mà làm cho hạt giống vô lậu
xuất thế bị chôn vùi, đắm chìm trong ngũ dục, tâm trí
theo cảnh duyên mà thay đổi, buồn, vui, thương, yêu, giận,
ghét, oán thù, phải trái, hơn thua... liên tục thay nhau. Tâm
địa ấy bị nhiều lớp vô minh che khuất nên gọi là sa vào
địa ngục A Tỳ (A Tỳ sâu thẳm).
Người
đó khi mạng chung,
Sa
vào ngục A Tỳ,
Đầy
đủ một kiếp chẵn,
Kiếp
mãn lại sinh lại,
Cứ
xoay vần như thế,
Nhẫn
đến vô số kiếp.
- Nếu
ra khỏi địa ngục, ngạ quỷ vì còn vô minh nên tạo nhiều
điều ác. Do vậy, nghiệp lưc sẽ dẫn dắt ở cảnh giới
của súc sinh, chịu nhiều đau khổ như làm than chó, dã can,
than hình ghẽ lác, nhơ nhớp, bị người nhờm gớm, thường
ngày đói khát, xương thịt khô khan.
Từ
trong địa ngục ra,
Sẽ
đoạ vào súc sinh,
Hoặc
làm chó dã can,
Thân
thể nó ốm gầy,
Đen
điu thêm ghẻ lác,
Bị
người thường chọc ghẹo,
Lại
còn phải bị người,
Gớm
nhờm và ghét rẻ,
Thường
ngày đói khác khô,
Lúc
sống chịu khổ sở,
Khi
chết bị ngói đá,
Vì
đoạn mất giống Phật,
Nên
thọ tội báo đó.
Thoảng gặp phúc duyên thọ được thân người thì:
Các
căn đều ám độn,
Lùn
xấu lại tật què,
Đui
điếc thêm lưng gù,
Có
nói ra lời gì,
Mọi
người không tin nhận,
Hơi
miệng thường hôi thối,
Bị
quỷ mị dựa nhập.
Chẳng có chút phước báu nào cả nên suốt đời bị tai ương,
bị cảnh trần trói buộc, khó có dịp nghe giáo pháp của
nhà Phật.
Những
người tội như đây,
Thường
sinh chổ hoạn nạn,
Tâm
cuồng loạn tai điếc,
Trọn
không nghe pháp được,
Trải
qua vô số kiếp,
Như
số cát sông Hằng,
Sinh
ra liền điếc câm,
Các
căn chẳng đầy đủ.
Cho nên khinh chê kinh này, chính là tự khing chê "Trì kiến
Phật" của mình.
Một khi đã xa rời tánh giác thì việc ác nào chẳng làm,
món dục nào lại chẳng ưa. Thế nên bị nghiệp lực vùi
dập, chịu nhiều tướng trạng khổ sở khôn lường, quanh
quẩn trong sáu nẻo, ba đường không có ngày thoát được.
Đức Thế Tôn lại ân cần dặn dò Xá Lợi Phất:
Nếu
có những chúng sinh,
Có
trí tuệ sáng suốt,
Lại
mong cầu Phật đạo.
o
Những chúng sinh đã từng vun trồng cội đức, thân tâm vững
bền hay thực hành hạnh bố thí.
o
Những chúng sinh thường tu tập lòng từ, chẳng hề tiếc
thân mạng.
o
Những chúng sinh xa lìa thế sự, ở riêng một mình tu tập
thiền định.
o
Những chúng sinh rời bỏ ác tri thức, gần gũi thiện tri thức,
ham cầu giáo pháp Đại thừa.
o
Những chúng sinh có lòng thương xót mọi loài, cung kính các
Đức Phật.
o
Những chúng sinh thuần một lòng thanh tịnh, dùng các món nhân
duyên, lời lẽ và thí dụ mà nói pháp không chướng ngại.
o
Và các tỳ kheo cầu nhất thiết trí, khắp bốn phương cầu
pháp, chỉ ưa thọ trì các kinh điển Đại thừa. Cùng những
người chỉ chú tâm cầu nghe kinh điển Đại Thừa.
Tất cả những chúng sinh như thế mới nên vì họ nói kinh
Pháp Hoa này.
Qua phẩm Thí Dụ chúng ta mới thấy rõ lòng từ bi vô lượng
của Đức Thế Tôn. Người đã khéo dùng phương tiện chỉ
bày cho chúng sinh về "Tri Kiến Phật". Ngài đã ân cần dìu
dắt chúng sinh ra khỏi nhà lửa tam giới bằng những con đường
vô lượng lẩn vui sướng hơncon đường ngũ dục mà chúng
sinh đang lặn hụp đắm say.
Bằng những ngôn ngữ chứa đựng lòng yêu thương tuyệt đối,
Ngài chỉ cho chúng sinh thấu rõ về nhà lửa tam giới, để
cho mỗi chúng sinh tự thấy rõ rằng chín hững vọng niệm
điên đảo, chính những sự lầm chấp mà nhà lửa kia được
dựng lập một cách đáng kinh sợ.
Muốn thoát được khỏi nhà lửa tam giới không còn cách nào
hơn là đi vào "Giáo Môn Nhất Thừa" và chỉ có Giáo Môn Nhất
Thừa mới đạt thành "Tri Kiến Phật"
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch