Phẩm
Phương Tiện
Thứ
Hai
Phương
tiện là gì?
Phương
tiện là chỉ cho sự áp dụng một số phương pháp nào đó
tiện lợi để đạt cứu cánh.
Trong
nhà Phật thường dùng hai từ cứu cánh và phương tiện.
Cứu
cánh đã hiển bày. Vì Phẩm Tựa đã cho chúng ta thấy rõ
Đức Thế Tôn nhập vô lượng nghĩa xứ, phóng luồng bạch
hào tướng quang hiện “Chân cảnh diệu minh”, ý nuốn cho
chúng hội lãnh hội hiện tiền, khỏi phải dùng ngôn ngữ
chuyển đạt. Nhưng vì “Tri kiến Phật” thậm thâm vi diệu
khó nghĩ, khó bàn, đại chúng chưa nhận ra “bản giác diệu
minh” ly ngôn thật tướng.
Nên
“Lúc bấy giờ Thế Tôn từ chánh định thung dung mà khởi,
bảo Ngài Xá Lợi Phất : Xá Lợi Phất! Trí tuệ của các
Đức Phật rất thẳm sâu vô lượng, trí tuệ đó khó hiểu,
khó vào, tất cả hàng Thanh văn và Bích Chi Phật không biết
được”.
Đức
Thế Tôn từ “tánh giác viên minh” xuất nhập tự tại,
đã dùng ngôn ngữ mà bảo Ngài Xá Lợi Phất. Ở đây chúng
ta có thể tự hỏi: “Tại sao Đức Thế Tôn không bảo Ngài
Văn Thù Bồ Tát hay chư vị Bồ Tát khác, mà lại bảo Ngài
Xá Lợi Phất?
Với
ý nghĩa “khai quyền hiển thật” không phải để dạy chúng
Đại thừa, mà để thu nhiếp dẫn dắt chúng Nhị thừa. Vì
nếu bảo hàng Bồ Tát thời chúng Thanh văn sẽ cho rằng Diệu
pháp này Phật thuyết cho Bồ Tát chứ mình không can dự gì.
Với
trí tuệ Phật thâm vi diệu vượt thoát sự đối đãi, sinh
diệt, dù cho bậc Đẳng giác Bồ Tát cũng không thấu rõ được.
Trí tuệ ấy không thể dùng ngôn ngữ để tuyên bày, vì nó
rốt ráo viên mãn, vì nó là “chân như pháp tánh”. Nên trong
kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới, Ngài Thiện Tài Đồng
tử tham vấn 53 vị thiện tri thức nhờ sự khuyến khích của
Ngài Văn Thù. Đầu tiên Ngài đến tham vấn Tỳ kheo Đức
Vân ở núi Diệu Phong. Nhưng đến nơi lại không gặp Tỳ
kheo Đức Vân, mà phải sang núi Biệt Phong mới gặp.
Hình
ảnh trong kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm đều giống nhau ở điểm
này.
- Một
bên mở đầu bằng ảnh tượng hi hữu: Tướng lông trắng
giữa chặn mày, phóng ánh sáng khắp soi, trời mưa hoa Mạn
đà la, gió thơm mùi chiên đàn.
- Một
bên là núi Diệu Phong mù mịt chẳng thấy bóng dáng của Tỳ
kheo Đức Vân.
Cả
hai đều không dùng đến ngôn ngữ, mà chỉ dùng ảnh tượng
tượng trưng để hiển bày “Tri kiến Phật”.
Sau
khi xuất định Đức Thế Tôn mới dùng ngôn ngữ để dìu
dắt chúng sinh, đó là phương tiện.
Cũng
như Thiện Tài Đồng tử rời ngọn Diệu Phong đến Biệt
Phong, đó là phương tiện.
Đã
là phương tiện, nhưng phải áp dụng đúng thời, đúng lúc,
xứng hợp với sự ân cần thiết tha của chúng hội thì phương
tiện ấy mới đạt thành cứu cánh.
Vì
sao? Vì chư Phật đã trọn nên pháp vi diệu, bất khả tư
nghị, ứng hợp thời cơ mà nói pháp ý thú khó hiểu, hàng
Nhị thừa không thể nào nhận biết. Cảnh giới của chư
Phật chỉ có chư Phật mới biết được, đâu có thể
dùng ngôn ngữ văn tự mà vào được.
“Xá
Lợi Phất! Từ ta thành Phật đến nay các món nhân duyên,
các món thí dụ rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện
dìu dắt chúng sinh”.
Tại
sao nói: “Từ Ta thành Phật đến nay”?
Như
chúng ta đã biết Phật đâu có tướng thành. Nhưng vì ứng
hiện đồng cư với chúng sinh, để dẫn độ chúng sinh từ
thấp đến cao, nên mới có tướng thành. Nói “Từ Ta thành
Phật đến nay” là dùng phương tiện nói. Vì thương xót
chúng sinh nên Ngài đã thị hiện có tướng thành, để từ
đó dùng các món nhân duyên, lời lẽ, thí dụ dắt dìu chúng
sinh xa lìa lòng chấp. Cho nên tri kiến Như Lai thật rộng lớn
sâu xa. Và chỉ có tri kiến ấy mới thấu rõ cội nguồn của
vạn pháp. Pháp Phật nói ra có mục đích để làm cho chúng
sinh thấy rõ lý chân thật của vạn pháp, như Phật đã thấy
và sống với cái chân thật đó.
Nhưng
thấy rõ lý chân thật của vạn pháp là thấy thế nào? Nghĩa
là thấy các pháp ”Tướng như vậy, thể như vậy, tánh như
vậy, lực như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như
vậy, báo như vậy, gốc ngọn rốt ráo thảy như vậy”.
Nhìn
các pháp bằng trí tuệ Bát Nhã thì không pháp nào có thật
tướng cả. Bởi các pháp đều duyên khởi giả lập, tự
tánh của nó là không, tự tánh của nó thường tịch diệt.
Vì ở thể vắng lặng nên tất cả các pháp đều “như thị”.
Đã “như thị” thì chúng ta chỉ tùy duyên nhân phân biệt
rõ ràng các pháp, nhưng không nghĩ tưởng gì về sự phân
biệt ấy. Nói cách khác là chúng ta có đi, đứng, nằm, ngồi,
ăn cơm, mặc áo, cứ phân biệt bình thường vì đó là nhu
cầu của sự sống. Chỉ có một điều rắc rối là chúng
ta nghĩ về sự phân biệt ấy, mà nghĩ về nó thì liền có
sự đối đãi, làm sao dung thông tự tại.
Trong
kinh Pháp Bảo Đàn có câu :
Tư
tưởng tới lui tự do
Tâm
thể không vướng mắc, ấy là Bát Nhã.
Hay
câu chuyện về Lục Tổ Huệ Năng, khi Ngài mới đến chùa
Ấn Tông, thấy hai ông Sa di đang nhìn cây phướn thấy động
mới đố nhau:
- Gió
động hay phướn động ?
- Một
ông cho là Phướn động.
- Một
ông cho là gió động.
Ai
cũng cho mình là đúng.
Lúc
đó Lục Tổ mới nói: “không phải phướn động, cũng không
phải gió động, mà chính tâm nhân giả động”.
Trong
chứng Đạo Ca của Ngài Huyền Giác nói:
“Đi
cùng thiền, ngồi cùng thiền
Nói,
im, động, tịnh thảy an nhiên,
Phỏng
gặp gươm đao thường nhẹ hững,
Vì
nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh”.
Bởi
vì mỗi pháp đều có đủ tính, tướng, lực, tác, dụng của
nó. Ví như lửa lấy sáng làm tướng, lấy nóng làm tính,
lấy đốt làm tác, lấy thiêu hủy làm dụng. Tất cả đều
tùy duyên biến hiện, giả hợp tác thành. Cội nguồn rốt
ráo của muôn vạn pháp vẫn là tánh không tịch. Chỉ có “Tri
kiến Phật” mới biết một cách rốt ráo như vậy.
Biết
như thế để chứng minh, để tùy thuận, để giáo hóa mà
vẫn không bị vướng mắc ở một pháp nào cả.
Chúng
ta cần phải hiểu rằng: “không phải cảnh như, mà điều
cần yếu là tâm như, tâm như thì cảnh mới như”. Ai sống
như thế là sống hợp với “tri kiến vô kiến” hay có thể
nói là sống hợp với “tri kiến Phật” và chỉ có ai nhận
chân được các pháp thì mới sống như thế được.
Đến
đây dựa vào phần trùng tụng trong phẩm kinh lại một lần
nữa nói về “tri kiến Phật”.
“Giả
sử đầy thế gian
Đều
như Xá Lợi Phất
Cùng
suy chung so lường
Chẳng
lường được Phật trí
Dù
cho khắp mười phương
Đều
như Xá Lợi Phất
Và
các đệ tử khác
Cũng
đầy mười phương cõi
Cùng
suy chung so lường
Lại
cùng chẳng biết được
Và
cho đến
Hàng
bất thối Bồ Tát
Số
đông như hằng sa
Một
lòng chung suy cầu
Cùng
lại chẳng biết được”.
Như
thế thì ai là người thâm nhập được Phật trí. Ở đây
chúng ta cần chú ý đến từ “suy lường”. Dù cho ở ngôi
vị nào đi nữa mà còn dấy niệm suy lường thì làm gì thông
đạt Phật trí.
Chỉ
trừ những ai thấy cảnh mà không dấy niệm phân biệt, tâm
nhất như kia mới là người thâm nhập Phật trí. Chúng ta
thử nghiệm xem hiện giờ chúng ta sống bằng trí hay bằng
thức ?
-Nếu
sống bằng trí mà trí biết thì không động.
- Nếu
sống bằng thức thì thức biết sinh tình.
Nhìn
một sự vật hay một người, thường chúng ta có sự phân
biệt đẹp, xấu, ghét, thương ...
Thấy
cảnh sinh tình để rồi phân biệt, đó là vọng thức điên
đảo, làm gì thấu đạt lý chân thường.
Câu
chuyện giữa Ngài Huyền Giác và Lục Tổ Huệ Năng ( trích
câu chuyện này ở quyển Chứng Đạo Ca ) có thể cho chúng
ta thấu rõ hơn về cái vô tâm, vô niệm, cái hồn nhiên sống
động, cái “tri kiến vô kiến” nghĩa là cái thấy biết
mà không lập trên thấy biết, đạt đến “Tâm như thì cảnh
như”.
Huyền
Giác vừa gặp Huệ Năng đi quanh ba vòng chống tích trượng
đứng.
Huệ
Năng bảo:
- Phàm
làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại
đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy.
Huyền
Giác đột ngột dùng ngay nhát kiếm:
Sinh
tử sự đại
Vô
thường tấn tốc
Nghĩa
là sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, cần giải quyết
ngay lễ nghĩa làm gì.
Huệ
Năng đáp:
Hà
bất thể thủ vô sinh
Liễu
vô tốc hồ
Sao
không nhận cái lý “Vô sinh” và thấu rõ cái nghĩa “không
chóng”.
Nghĩa
là sao không tự nhận cái nguyên lý vô sinh thường còn bất
biến. Nguyên lý vô sinh ấy là “tự tánh”.
Bởi
vì chữ “thể” chỉ cho “tự tánh” và chữ “liễu”
là chỉ cho cái dụng của “tự tánh”, đó là trí.
Vậy
ý của Tổ muốn thử xem Huyền Giác đã thấy “tánh” chưa.
Mà nếu đã thấy tánh, thì tánh tức là dụng, là trí huệ
Bát Nhã. Dùng trí này mà quán chiếu thì làm gì có vấn đề
sống chết và mau chóng phải đặt ra.
Thấu
rõ ý ngầm của Tổ trong câu hỏi, Huyền Giác đáp ngay:
Thể
tức vô sinh, liễu bổn vô tốc.
(Thể
tức vô sinh, thấu vốn không chóng).
Như
vậy Huyền Giác đã biết được tự tách vốn không sinh diệt,
vượt cả không gian, thời gian, làm gì có mau chóng.
Nghe
Huyền Giác đáp, Huệ Năng khen:
Như
thị! Như thị!
(Đúng
thế! Đúng thế!)
Như
thế Huyền Giác tìm đến Tổ vừa để thử thầy vừa để
xin ấn chứng.
Và
Huyền Giác chống tích trượng đứng, đâu phải là ngạo
mạn, mà đó là ý chỉ thâm diệu của thiền tông.
Nhưng
đến đây cuộc thử thách vừa ngưng lại, để rồi tiếp
tục gay cấn hơn.
Thừa
cơ hội Huyền Giác xin kiến về, Huệ Năng lại dùng mũi nhọn
đâm vào đối thủ (cơ phong vấn đáp) một lần nữa lại
nói về việc “chậm mau”.
Phản
thái tốc hồ?
(Về
chóng thế sao?)
Huyền
Giác đỡ ngay thế kiếm “mau chóng” bằng thế kiếm “Bất
động”
Bổn
tự phi động, khởi hữu tốc đa?
(Vốn
mình chẳng động, há có mau chóng sao?)
Với
ý nghĩa tự tánh, vốn là tự tại, vượt ngoài động tịnh,
chóng chậm, vượt cả không gian, thời gian, làm gì có mau
chóng?
Huệ
năng liền tấn công quyết liệt, dồn đối phương ở vào
thế chân tường bằng nhát kiếm “Ai’’.
Thuỳ
tri phi động?
(Ai
biết chẳng phải động?)
Chữ
“Ai” là năng, là chủ tể.
“Cái
chẳng động” là sở.
Năng
và sở nối liền nhau bằng nhịp cầu “biết”.
Nếu
Huyền giác mà suy tư để thấy mình có “Cái chẳng động”
thì rõ là Huyền Giác còn động.
Nhận
được ý đó, Huyền Giác lập tức đẩy lại ngay:
- Nhân
giả tự sinh tâm phân biệt.
Ấy
là tại Tổ sinh tâm phân biệt.
Câu
trả lời ấy đủ chứng tỏ là Huyền Giác không phải suy
lường về “cái chẳng động” mà đã liễu được cái
chân lý “bổn lai chẳng động”.
Lục
Tổ liền khen :
Nhữ
thậm đắc vô sinh chi ý
(Người
thực đã thấu được cái ý vô sinh)
Lời
khen của Lục Tổ là một nhát kiếm bọc nhung vô cùng nguy
hiểm. Vì lời khen này nhấn mạnh vào chữ “Ý”.
- Trên
kia là chữ “Ai”
- Bây
giờ là chữ “Ý”
Trên
kia là chủ – bây giờ là khách.
Ý
của Tổ trắc nghiệm Huyền Giác đã thật sự dung thông chưa?
Lãnh hội được ý đó. Huyền Giác đáp lại:
- Vô
sinh khởi hữu đa? (Vô sinh há có ý sao?)
Một
ý nghĩ mà không móng lên, ấy là trạng thái “vô sinh”.
Thế
chưa đủ, Lục Tổ còn bồi thêm một nhát kiếm Tối thượng
thừa, chẻ vào ba vấn đề: Ai, Ý, phân biệt.
- Vô
ý thuỳ dương phân biệt?
(không ý thì ai phân biệt?).
Đây
là vấn đề cơ bản nhất. Nếu phá hết ngã, pháp, vượt
qua mọi đối đãi thì đi đến kết quả gì ?
- Nếu
phân biệt, nếu suy lường thì vọng niệm dấy lên.
- Không
phân biệt, không suy lường lại khác gì gỗ đá.
Nếu
phân biệt rõ cội nguồn, muôn vật mà bổn tánh vẫn như
như bất động, tức là nhảy được qua bờ kia vậy.
Do
vậy Huyền Giác mới trả lời:
Phân
biệt diệt phi ý.
(Phân
biệt cũng chẳng phải là ý)
Huyền
Giác đã vượt qua mọi ý niệm suy lường.
Đó
chính là “Tri kiến Phật”.
Do
vậy phần trùng tụng ở đoạn trên vừa nêu, cho chúng ta
thấy rằng: Tri kiến Phật không thể dùng suy lường mà thấy
được.
Đến
đây trong chúng hội đều ghi hoặc về quả vị tu chứng của
mình.
Bởi
vì Đức Thế Tôn từ lâu nói một nghĩa giải thoát, các Ngài
đã chứng được pháp đó đến nơi Niết bàn, mà nay Đức
Thế Tôn lại tuyên bày tri kiến Phật, cho là sự hướng dẫn
tu chứng quả vị như thế chỉ là phương tiện để đạt
đến “Tri kiến Phật”.
“Khi
ấy Ngài Xá Lợi Phật biết lòng nghi của bốn chúng, chính
mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng : “Bạch Thế Tôn
! Nhân duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương tiện
thứ nhất nhiệm mầu rất thâm sâu khó hiểu của các Đức
Phật. Con từ trước đến nay chưa từng nghiệp Phật nói
điều đó. Hôm nay bốn chúng đều có lòng nghi, cúi xin Đức
Thế Tôn nói hết cho việc đó”.
“Khi
đó Đức Thế Tôn bảo Ngài Xá Lợi Phất: Thôi, thôi! Chẳng
nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời trời,
người đều kinh sợ nghi ngờ”.
Tại
sao Đức Thế Tôn vừa khen ngợi trí tuệ Phật thậm thâm
vi diệu, nhưng khi Ngài Xá Lợi Phất hỏi, Ngài lại bảo thôi
ba lần như vậy?
- Bảo
thôi lần thứ nhất là vì “Tri kiến Phật” chẳng thể
dùng ngữ ngôn tuyên bày được. Chỉ mong chúng hội tự nhận
biết, chẳng nên trụ chấp nơi quả vị tu chứng và phương
tiện ngữ ngôn.
- Bảo
thôi lần lần thứ hai là vì Xá Lợi Phất nhận thấy bậc
trung căn còn vướng mắc khó ngộ được diệu lý cao siêu
nên thỉnh cầu Phật thuyết.
-Bảo
thôi lần thứ ba là để cho những kẻ muốn nghe Diệu pháp
phát khởi sự tha thiết mong cầu và cũng để cho những
kẻ không muốn nghe rời khỏi chúng hội, tránh cho họ phát
khởi sự huỷ báng mà vùi lấp “Tri kiến Phật” ở nơi
họ.
Việc
thâm nhập pháp Phật không phải dễ dàng. Điều cần yếu
là chính người nghe pháp phải hết sức tha thiết mong cầu.
Xưa
kia Ngài Huệ Khả đứng suốt đêm để tuyết ngập đến
thân mình mà vẫn tươi tỉnh mong cầu Tổ Đạt Ma truyền
tâm pháp.
Tổ
bảo : “Ông cầu gì mà khổ hạnh như thế? ”
Huệ
Kha thưa:
“Xin
Hoà thượng mở lòng đại bi dạy cho con pháp môn cam lồ để
tu hành”.
Tổ
bảo: “Pháp Phật cao siêu với khổ hạnh cỏn con ấy làm
sao thấu được”.
Đứng
suốt đêm tuyết ngập đến lưng mà cho là khổ hạnh cỏn
con.
Còn
chúng ta giờ đây thế nào?
Nghe
pháp là nghe cho vui.
Lúc
nào cũng nói rỗng rang tự tại, nhưng đối với cảnh duyên
thì buông trôi dật dờ theo nó.
Nói
tâm như thì cảnh như, nhưng có bao giờ ta được tâm như.
Nói
Bồ Tát thì việc gì cũng làm, làm mà xem như không làm, nhưng
đến khi nhúng tay vào việc thì đầy dẫy lòng tham lam, sân
hận, si mê và phiền não bao quanh.
Chúng
ta suốt ngày dong ruổi theo trần lao nhơ nhiễm, đâu có giờ
nào để quay lại để nghe tiếng huyền diệu của chân tâm.
Có
đến Chùa lễ Phật tụng kinh, ngồi thiền, sám hối, thì
mong cầu phước báo.
- Nếu
gặp duyên lành nghe được vài ba bộ kinh thì tự ngôn chứng
Thánh.
- Nếu
gặp được môi trường học hỏi Phật pháp thì học chữ
nghĩa thật nhiều. Nói ra toàn là chữ nghĩa để khoe mình
là thâm hiểu được nhiều kinh điển.
Cách
Phật đã xa, khó tìm người không vướng cấp ngữ ngôn, văn
tự mà tìm sâu lý đạo, để sống với lý đạo ấy. Việc
thấu rõ giáo pháp Đại thừa vô cùng khó khăn. Nếu dùng
ngôn ngữ, thì ngôn ngữ chỉ là phương tiện. Nếu dùng chữ
viết thì chữ viết đâu chở nổi điệu lý cao siêu.
Nếu
dùng quả vị tu chứng thì quả vị tu chứng chỉ là bậc
thang hữu hạn.
Điều
cần yếu là chúng ta phải rỗng rang như : “Theo gió tiếng
còi luồn bụi trúc” mới không bị vọng thức đánh lừa,
mới không bị chữ nghĩa trói buộc.
“Lúc
ấy Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Cúi
xin nói đó, cúi xin nói đó. Nay trong hội này hạng người
sánh bằng con có trăm nghìn muốn ức, đời đời đã từng
theo Phật học hỏi. Những người như thế chắc hay kính tin,
đêm dài an ổn, nhiều điều lợi ích”.
Như
vậy Ngài Xá Lợi Phất đã dùng Túc mạng thông mà nhìn nhận
rằng đa số chúng hội từ thuở lâu xa đã nơ sự giáo
hoá của chứ Phật, nay quyết lòng kính tin, xin Phật thương
xót thuyết cho. Vì chúng con như kẻ đêm dài không lối, rất
mong Phật đem ánh sáng trí tuệ ban cho, chúng con sẽ đặng
nhiều lợi ích.
“Bây
giờ Đức Thế Tôn bão Ngài Xá Lợi Phất: Ngươi đã ân cần
ba phen thưa thỉnh đâu đặng chẳng nói, người hãy lắng
nghe, khéo suy nghĩ nhớ đó. Ta sẽ vì ngươi phân biệt giải
nói”.
“Bấy
giờ trong hội có các Tỳ khéo, tỳ khéo ni, Cận sự nam, Cận
sự nữ, cả thảy 5.000 người liền từ chỗ ngồi đứng
dậy lễ Phật mà lui ra”.
- Tại
sao lại có trường hợp ra về như thế? Vì đó là những
người tội căn sâu nặng, gốc tin chưa bền chắc, cội đức
chưa sâu dày, nên đối với giáo pháp Đại thừa chưa có
thể thâm nhập và họ tự biết không thể nào nhận lãnh
giáo pháp thận thâm ví điệu này được, nên đã tự rút
lui, và Đức Thế Tôn yên lặng không ngăn cản.
- Sự
ra về và yên lặng không ngăn cản của Đức Thế Tôn có
một ý nghĩa thâm sâu và nhằm phó chúc cho kẻ kế thừa phải
biết sức mình và phải biết đúng thời, đúng lúc, tùy nhằm
đối tượng mà truyền trao giáo pháp Tối thượng thừa.
Sau
đó, Ngài Xá Lợi Phất bạch rằng: “Vâng, thưa Thế Tôn
con nguyện ưa muốn nghe”.
Đức
Thế Tôn lại bão: “Xá lợi Phất! Các Đức Phật theo thời
nghi nói pháp ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương
tiện, các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp.
Pháp đó không phải là suy lường, phân biệt mà có thể biết
được. Duy có các Đức Phật mới có thể biết thôi. Vì
sao? Vì các Đức Phật Thế Tôn chỉ do một đại sự nhân
duyên mới hiện ra nơi đời”.
“Các
Đức Thế Tôn vì muốn khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật
tri kiến mà hiện ra nơi đời”.
Vì
“Tri kiến Phật” vi diệu khó lường, không thể dùng ngữ
ngôn, văn tự để tuyên bày được. Vì “Tri kiến Phật”
vô thỉ, vô chung, thường hằng viên mãn ở nơi chúng sinh
nhưng bị các món phiền não vô minh che khuất. Chư Phật đã
thấy biết, nên phát khởi nguyện lực đại từ, đại bi,
mà thị hiện, khai phá và chỉ dạy cho chúng sinh biết được
cái thể tính thâm diệu nhất như. Cái “Tri kiến Phật”
viên mãn mà chúng sinh cùng Phật vốn đồng.
Khai
thị là các vấn đề của chư Phật.
Ngộ
nhập là vấn đề của chúng ta.
Muốn
ngộ nhập trước hết chúng ta phải liễu tri về “Tri kiến
Phật”.
Thường
ngày
chúng ta sống với “Tri kiến lập tri”
Thấy
biết vạn pháp rồi dấy niệm theo sự thấy biết nơi vạn
pháp ấy.
Thí
dụ: Nhìn hoa hồng, ta cho hồng này đẹp, sinh tâm ưa thích
và muốn chiếm hữu. Nhưng khi chiếm hữu không được ta lại
phát khởi sự đau buồn, do đó sinh ra nghiệp cấu vô minh.
Nhưng
nếu nhìn hoa hồng, biết là hoa hồng. Giống như cảnh hiện
trước gương, gương liền cho cảnh, nhưng cảnh dời đi, gương
chẳng lưu hình.
Đó
là “Tri kiến vô kiến” hay gọi là “Tri kiến Phật”.
- Nếu
ta đối cảnh không sinh tình thì tâm liền rỗng rang vắng
lặng. Tâm đã rỗng rang thì mặt trời huệ tự chiếu.
Như
thế, Đức Thế Tôn thị hiện nơi đời là chỉ vì muốn
khai thị cho chúng sinh ngộ nhập vào “Tri kiến Phật”.
Đức
Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Đức Như Lai chỉ dùng một
Phật thừa mà vì chúng sinh nói pháp, không có các thừa khác,
hoặc hai hoặc ba”.
Nghĩa
là chư Phật chỉ giáo hoá cho chúng sinh giác ngộ thành Phật
chứ không làm một việc nào khác. Nếu có thuyết ra hai hoặc
ba thừa cũng chỉ là phương tiện để dẫn đến Phật thừa.
Hơn nữa Nhị thừa hay Đại thừa cũng chỉ là giả lập để
thẳng tiến đến “Nhất thừa” nên “pháp của chư Phật
ở mười phương cũng như thế”.
Chư
Phật thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đời đời cũng
chi đem tri kiến Phật chỉ bày cho chúng sinh tỏ ngộ và thể
nhập.
Tại
sao chư Phật lại chỉ nhằm một mục đích ấy ? Vì chư Phật
đã rõ biết chúng sinh đều có tri kiến phật.
Chỉ
khổ là làm thế nào tri kiến của chúng sinh, tri kiến Nhị
thừa trong mỗi chúng sinh trở thành tri kiến Phật.
Đức
Thế Tôn lại bảo: “Xá Lợi Phất! Các Đức Phật hiện
ra trong đời ác năm trước, nghĩa là kiếp trước, phiền
não trước, chúng sinh trước, kiến trước, mạng trước.
Như thế Xá lợi Phất ! Lúc kiếp loạn trước chúng dinh phiền
não nặng, bỏn xẻn, tham lam, ganh ghét, trọn nên các căn chẳng
lành. Cho nên Đức Phật dùng sức phương tiện nơi một Phật
thừa, phân biệt nói thành ba”.
Chúng
sinh ở một kiếp ô trược bị bụi ơi phủ lập cái chân
trí của mình, vì chấp lấy sự thấy biết sai lầm,
vì đời sống quá nghiêng về dục lạc, và quá nhiều phiền
não mà căn trí hạ liệt “nam điều nan phúc” nên Đức
Thế Tôn lập ra ba thừa để dẫn dụ.
Nếu
đã lập Tam thừa để dẫn dụ tiến đến Nhất thừa “Nhưng
trong hàng Thanh văn, Duyên giác, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni nào mà
cho mình đã chứng đạt đến quả vị Niết bàn mà tự trụ
vào quả vị đó. Chẳng thấu rõ rằng những quả vị tu chứng
như vậy chỉ là phương tiện để tiến đến Nhất thừa,
thì những hạng người như trên chẳng phải là đệ tử Phật,
cũng chẳng thật chứng quả của Nhị thừa, trừ sau
khi Phật diệt độ và hiện tiền không Phật. Lời nói của
Đức Thế Tôn không bao giờ hư vọng, không có thừa nào khác,
chỉ có một Phật thừa thôi”.
Phần
trùng tụng một lần nữa Đức Thế Tôn đã ân cần bảo
cho muôn loài biết rằng: bản nguyện của Ngài muốn cho chúng
sinh đồng như Ngài không khác.
Phật
tự trụ Đại thừa
Đúng
như pháp đã chứng
Định,
huệ, lực trang nghiêm
Dùng
đây độ chúng sinh
Tự
chứng đạo vô thượng
Pháp
Đại thừa bình đẳng
Nên
dùng Tiểu thừa độ
Nhẫn
đến chừng một người
Thời
ta đoạ xan tham.
Thật
tuyệt diệu làm sao tâm đại từ, đại bi của chư Phật,
các Ngài đã đem chỗ mình giác ngộ truyền trao cho mọi người
cũng giác ngộ như mình.
Tuy
nhiên không phải một sớm một chiều mà chúng sinh trong đời
ác ngũ trước nhận chân được giáo nghĩa Đại thừa... nên
đối với kẻ:
”
Trong nghìn muôn ức kiếp
Chẵng
nghe danh tự Phật
Người
như thế khó độ
Cho
nên Xá Lợi Phất
Ta
vì lập phương tiện
Nói
các đạo dứt khổ
Chỉ
có là Niết bàn
Cũng
chẳng phải thiệt diệt
Các
pháp từ xưa nay
Tướng
thường tự vắng lặng (tịch diệt)
Phật
tử hành đạo rồi
Đời
sau đặng thành Phật
Ta
có sức phương tiện
Mở
chỉ pháp ba thừa”.
Ở
đây một lần nữa phần trùng tụng có dịp phân tích về
câu:
“Các
pháp từ xưa nay
Tướng
thường tự vắng lặng” (tịch diệt)
Như
trong phần trường hàng đã nói dùng trí tuệ Bát Nhã để
xét soi thì rõ ràng:
“Các
pháp từ xưa nay
Tướng
thường tự vắng lặng” (tịch diệt)
Thông
thường thì chúng ta xét soi các pháp thay đổi theo thời gian
và không gian. Sinh, trụ, dị, diệt luân chuyển mãi không thôi.
Tại
sao nói là tích diệt? Bởi vì tướng sinh, trụ, dị, diệt
luân chuyển hay vô thường, đó là tướng duyên hợp. Vì tướng
duyên hợp nên nó bị thay đổi theo thời gian và không gian.
Còn tướng tịch diệt, đó là nói về “tánh” của “tướng”.
Đó
là “chân thật tướng” phi ngôn ngữ và văn tự. Nên xưa
kia có một Thiền sư khi đọc đến hai câu :
“Chư
pháp tùng bổn lai
Thường
tự tịch diệt tướng”
Ngày
xưa suy nghĩ, chợt một hôm cảnh trời Xuân tươi mát, muôn
hoa rộ nở, chim hoàng oanh hót trên cành liễu rũ, trực ngộ
được diệu lý cao siêu.
Ngài
lập lại:
“Chư
pháp tùng bổn lai
Thường
tự tịch diệt tướng
Xuân
đáo bách hoa khai
Hoàng
anh đề liễu thượng”
Dịch:
“Các
pháp từ xưa nay
Tướng
thường tự vắng lặng (tịch diệt)
Xuân
đến trăm hoa nở.
Hoàng
anh cành liễu hót”
Với
ý nghĩa tự tánh của các pháp từ xưa đến nay là tịch diệt.
Nhưng đủ duyên ứng hợp mà có cảnh mùa Xuân đến, trăm
hoa đua nở, chim hoàng anh hót trên cành liễu.
Chim
hót, hoa nở, mùa Xuân đến, đó là sự đổi thay theo duyên
hợp. Thể của các pháp vẫn tịch diệt, vượt ngoài tướng
trạng, vượt khỏi ý niệm suy lường.
Nếu
chúng ta mê chấp, nhận lầm các tướng do duyên hợp cho nó
là chân thật, thì khi nó bị huỷ hoại theo duyên, lập tức
ta hoảng hốt, tưởng chừng nó mất rồi.
Cũng
vậy, sống chết là chuyện của duyên, đâu có ảnh hưởng
gì đến cái “bản lai diện mục” hay cái “chân tính thường
hằng” của chúng ta. Thế mà chúng ta lận đận vì nó. Nếu
chúng ta dùng trí tuệ Bát Nhã quán chiếu thì chúng ta sẽ
thấy rõ điều này.
Xưa
kia, cư sĩ Long Uẩn đời Đường, niên hiệu Trinh Nguyên (khoảng
785 T.L) sau khi được Ngũ Tổ truyền trao tâm pháp, ông cất
một thất nhỏ tu hành, đến lúc sắp tịch, ông bảo cô con
gái là Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ chưa vào nhà
cho ông biết. Linh Chiếu ra xem vào thưa : mặt trời đúng ngọ
mà có nhật thực. Ông ra cửa xem, Linh Chiếu lên toà của
ông ngồi, rồi kiết già chấp tay thị tịch.
Ông
vào xem thấy, cười nói:
- Con
gái ta lanh lợi quá!.
Ông
bèn chậm lại 7 ngày sau.
Châu
Mục Vu Công đến thăm bệnh.
Ông
bảo : Chỉ mong các cái đều không dè dặt, các cái không
đều thật, khéo ở thế gian đều như bóng vang.
Nói
xong, ông nằm gác đầu trên gối Vu Công mà thị tịch.
Bà
vợ ông hay được, bà nói :
“Con
gái ngu si, với ông già vô trí, không báo tin mà đi sao đành
vậy?
Bà
đến báo tin cho con trai ở ngoài đồng ruộng, bà nói :
- Long
Công với Linh Chiếu đi rồi con.
Người
con trai đang bừa đáp: Dạ!
Rồi
lặng thinh giây lâu bèn đứng mà thị tịch.
Bà
nói: Thằng này sao ngu si lắm vậy!
Lo
thiêu con xong, bà từ biệt thân thuộc rồi biệt tích.
Đó
câu chuyện của Long Uẩn đã cho chúng ta thấy rõ chuyện sống
chết rất bình thường.
Một
khi chúng ta đã giác ngộ thì làm gì không thoát ly sinh tử,
luân hồi.
Do
vậy, trong vô lượng, vô số kiếp, các Đức Thế Tôn dùng
vô số phương tiện để độ thoát chúng sinh vào nơi Phật
đạo.
Các
Ngài biết rõ tánh dục của mỗi loài mà tuỳ theo đó để
dìu dắt chúng đạt đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thuở
quá khứ, với chúng sinh ưa tu lục độ, ưa xây tháp cúng
dường, nhẫn đến đồng tử giỡn chơi lấy cát nhóm thành
tháp Phật đều được chư Phật thời đó giáo hoá vào nơi
Phật đạo. Hoặc có kẻ dựng hình tượng, dùng hoa hương
để cúng dường, nhân đến có kẻ lòng tán loạn vào nơi
pháp miếu mà xưng “Nam mô Phật” đều đã thành Phật đạo.
Ở quá khứ ai đã làm như thế đều đã vào Phật đạo.
Bây giờ chúng ta thử xem chúng ta đã làm như thế chưa? Chúng
ta có tin mình sẽ thành Phật chăng?
Xưa
đã có người làm như thế và đã thành Phật. Nay chúng ta
cũng sẽ làm như thế, chúng ta phải vững tin rằng chúng ta
sẽ thành Phật.
Các
Đức Phật đời vị lai cũng như thế. Nếu có người nghe
pháp này đều sẽ thành Phật cả.
Các
Đức Thế Tôn đều thấy rõ các pháp thường không tánh,
nghĩa là ư tánh vốn không, nến tướng của nó không ở dạng
nào nhất định. Tất cả đều giả lập theo duyên tác thành.
Các
Đức Thế Tôn cũng thấy rõ hạt giống vô lậu hay hạt giống
Phật đều sẵn có nơi chúng sinh, nhưng bị vô minh che khuất.
Nếu đúng thời cơ, mưa pháp thấm nhuần hạt giống vô lậu
ấy sẽ nẩy mầm.
Do
vậy, chư Phật vì chúng sinh mà nói lý Nhất thừa.
“Các
Phật lưỡng túc tôn
Biết
pháp thường không tánh
Giống
Phật theo duyên sinh
Cho
nên nói Nhất thừa
Pháp
đó trụ ngôi pháp
Thế
gian tướng thường trụ”.
Pháp
đó chỉ cho “Nhất chân thật tướng pháp giới” mà chư
Phật đã chứng biết. “Nhất chân thật tướng pháp giới”
ấy thường trụ ở ngôi vị các pháp sai biệt của tất cả
thế gian và xuất thế gian.
Và
tướng chân thật thường trụ của thế gian chỉ có Phật
ở chốn đạo tràng mới chứng biết.
- Chính
vì thấy rõ một cách rốt ráo về nhân hạnh Phật thừa của
chúng sinh vốn sẵn có mà các Đức Phật mới dùng phương
tiện dìu dắt chúng sinh đạt đến lý Nhất thừa.
- Chính
Đức Thế Tôn xưa ngồi nơi đạo tràng xem cây và kinh hành
trong 21 ngày, Ngài đã suy nghĩ là nên y theo tất cả chư Phật
thuở quá khứ mà dùng sức phương tiện dìu dắt chúng sinh.
“Suy
nghĩ việc đó rồi
Liền
đến thành Ba Nại
Các
pháp tướng tịch diệt
Không
thể tỏ bằng lời
Bèn
dùng sức phương tiện
Vì
năm Tỳ kheo nói
Đó
gọi chuyển pháp luân
Bèn
có tiếng Niết bàn
Cùng
với A La Hán
Tên
pháp, Tăng sai khác
Từ
kiếp xa xưa nay
Dứt
hẳn khổ sống chết
Ta
thường nói như thế”.
Mãi
cho đến khi Đức Thế Tôn thất căn cơ của chúng hội quyết
chí cầu Phật đạo. Bây giờ là lúc phải thời để nói
pháp vi diệu. Người nghe được pháp này giống như hoa linh
thoại, loài hoa sen vàng lớn như bánh xe, chỉ khi nào có vị
Kim Luân Vương ra đời, thiên hạ mới thấy một lần.
Người
nghe pháp khó như vậy, mà lãnh hội được càng khó hơn. Vì
pháp này là tạng bí yếu của chư Phật. Trong đời ác năm
trước, chúng sinh si mê, tham dục, khó mà tin nhận được...
Người
không tin nhận thì không nên thuyết, vì không tin nên họ sẽ
phá pháp mà rơi vào ba đường dữ. Tại sao phá pháp lại
rơi vào ba đường dữ? Bởi vì pháp vi diệu đây chính là
“Tri kiến Phật” của mỗi chúng sinh. Phá pháp là không
tin mình có tri kiến Phật, là tự vùi chôn Phật tánh của
mình, không rơi ba đường dữ sao được.
Nếu
gặp người biết hổ thẹn, biết giữ giới luật trong sạch
và quyết chí cầu Phật đạo, mà chẳng cầu gì khác thì
nên vì chúng sinh như thế rộng nói pháp này.
“Người
ác đời sẽ tới,
Nghe
Phật nói Nhất thừa,
Mê
lầm không tin nhận,
Phá
pháp đoạ đường dữ,
Người
tâm quý trong sạch,
Quyết
chí cầu Phật đạo,
Nên
vì bọn người ấy,
Rộng
khen đạo Nhất thừa”.
Như
vậy phần trùng tụng, Đức Thế tôn đã tuyên bày lại cho
chúng hội việc làm của chư Phật trong ba đời; quá khứ,
hiện tại, vị lai, chỉ đem pháp Nhất thừa mà hoá độ chúng
sinh.
Những
kẻ pháp tâm tu lục độ xây tháp cúng dường, đắp vẽ,
tán tụng, cho đến kẻ tán tâm loạn tưởng “Nam mô Phật”
đều đã thành Phật. Quá khứ đã như thế, hiện tại, vị
lai đều như thế. Chúng ta tự xem xét lại mình đã có gieo
chút ít nhân lành như người ở quá khứ chưa? Vậy chúng
ta có tự tin rằng mình sẽ thành Phật chăng? Chúng ta có tin
là chúng ta sẽ ngộ nhập được tri kiến Phật chăng?
Chúng
ta tin chắc rằng chúng ta sẽ thành Phật. Chúng ta tin chắc
rằng chúng ta sẽ ngộ nhập Tri kiến Phật, vì chúng ta có
hạt giống Phật. Hạt giống ấy chỉ chờ cơn mưa pháp đúng
thời, đúng lúc sẽ nẩy mầm. Đó làm niềm tin vững chắc,
chỉ có niềm tin vững chắc như thế chúng ta mới có thể
ngộ nhập được diệu lý của Pháp Hoa.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch