Phẩm
Tựa Thứ Nhất
“Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ Xà Quật nơi thành
Vương Xá cùng chúng Đại Tỳ kheo một ngàn hai trăm vị”.
Trong chúng hội này không những chỉ có hàng Tỳ kheo mà còn
có đầy đủ chư vi Đại Bồ Tát, lại có Thiên Long Bát bộ,
có cả dân chúng vua chúa đều nhất tâm quy ngưỡng mong chờ
nghe pháp.
“Bấy
giờ Đức Thế Tôn vì các Bồ Tát mà thuyết kinh Đại thừa
Vô lượng nghĩa giáo Bồ Tát pháp Phật sở hộ niệm. Thuyết
kinh này xong Đức Thế Tôn ngồi xếp bằng nhập vào chánh
định “Vô lượng nghĩa xứ” thân và tâm đều không lay
động”.
Thuyết
kinh Đại thừa vô lượng nghĩa là thuyết như thế nào? Thuyết
ở đâu?
Đây
là nói về hành tướng như chân tướng, nghĩa là các hành
tướng: đi, đứng, nằm, ngồi... mỗi cử động của Đức
Thế Tôn đều giống như phàm phu không khác. Nhưng trong sự
bình thường ấy lại chứa đựng cái diệu dụng phi thường.
Thị hiện như phàm phu là để dung nhiếp, để hộ niệm và
phó chúc cho chúng sinh trở về chỗ “bản lai diện mục”
của chính mình.
Sự
tướng thâm diệu ấy không phải cảnh giới của thức tâm
suy lường mà thấy được. Chỉ có chư vị Đại Bồ Tát
mới nhận thấy. Từ dáng đi, đứng, nằm, ngồi kia đã tỏa
ra muôn pháp thậm thâm vi diệu, tự tại dung thông.
Sự
tướng ấy từ trong “tánh giác viên minh” chiếu tỏa để
hộ niệm, để phó chúc cho hàng Bồ Tát y theo đó mà hành.
Chính
sự tướng thâm diệu ấy nơi đạo tràng đã làm chấn động
sáu căn, sáu trần, sáu thức của chúng hội, khiến cho tất
cả nhân hạnh Phật thừa của chúng hội đều khởi động.
Sự hưng phấn như thế đã phát khởi những loài hoa quý từ
trong nhân hạnh quy ngưỡng tung ra để cúng dường đạo tràng
nghiêm minh.
“Khi
đó trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn
thù sa, hoa Ma ha Mạn thù sa, để rải trên Đức Phật cùng
hàng đại chúng, khắp cõi Phật sáu điệu vang động”.
“Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn từ nơi tướng lông trắng giữa chặn
mày phóng ra luồng hào quang chiếu cả một muôn tám nghìn
cõi ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A
Tỳ, trời suốt thấu trời Sắc Cứu Cánh”.
Do
sức “Vô tác diệu lực” của Đức Thế Tôn đã làm chấn
động hang sâu vô minh của chúng sinh. Luồng bạch hào tướng
quang ấy lại ở giữa chặn mày phóng về phương Đông. Đó
là ánh sáng trí huệ dung thông đối đãi, nên gọi là giữa
chặn mày. Hình ảnh lông trắng ở giữa là tượng trưng cho
sự không mắc kẹt ở hai bên. Hào quang là tượng trưng cho
Trí Huệ Bát Nhã. Chính Trí Huệ ấy mới soi thấy tất cả
sự lý nhân quả các loài chúng sinh trong lục đạo.
Soi
thấu nhân quả của các hàng Thanh văn, Duyên giác... và nương
theo ánh sáng đó, chúng ta cũng thấy như vậy.
Nhưng
tại sao lại chiếu về phương Đông, mà không chiếu về phương
khác? Bởi vì phương Đông dụ cho nguồn động hóa, nghĩa
là nơi ấy một khi có ánh bình minh xuất hiện, thì muôn vật
trỗi dậy tác hành.
Mười
tám nghìn thế giới, dụ cho sáu căn, sáu trần, sáu thức.
Với 18 giới ấy, không ngoài luồng “bạch hào tướng quang”.
Trong cái quang minh vi diệu ấy soi đủ sự tướng của muôn
vạn pháp, dưới thấu địa ngục A Tỳ, trên suốt trời Hữu
Đảnh. Đó là ý chỉ thâm diệu của kinh Pháp Hoa.
Những
ảnh tượng được dựng lên để hiển bày Phật lý thâm
sâu. Ảnh tượng hào quang, nương hào quang để thấy những
nguyên nhân nào trôi lăn trong lục đạo, những nguyên nhân
nào thoát ly sinh tử luân hồi.
“Khi
ấy Ngài Di Lặc Bồ Tát nghĩ rằng: Hôm nay Đức Thế Tôn
hiện thần biến tướng, vì nhân duyên gì mà có điềm lành
này? Nay Đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện
hi hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?
Ngài lại nghĩ: Ngài Pháp Vương tử Văn Thù Sư Lợi này đã
gần gũi cúng dường vô lượng các Đức Phật đời quá khứ
chắc đã thấy tướng hi hữu này, ta nên hỏi Ngài”.
Đến
đây chúng ta lại thấy rõ hơn về ý chỉ trong kinh. Vì Ngài
Di Lặc là một vị “nhất sinh bổ xứ Bồ Tát” cùng với
Ngài Văn Thù bồ Tát đều là bậc thượng thủ. Nên đối
với điềm lành trên đâu phải không biết. Nhưng Ngài thị
hiện để độ thoát chúng sinh, nên Ngài đã dùng phương tiện
Duy thức quán, tượng trưng cho thức, mà thức thì làm sao
tránh khỏi vọng niệm điên đảo mê lầm. Nên khi thấy việc
hi hữu khó nghĩ, khó bàn, đâu có thể suy lường được.
Chỉ
có Ngài Văn Thù Sư Lợi đủ đức Căn Bản Diệu Trí, tượng
trưng cho chân trí viên minh mới tương ứng với điềm lành
hi hữu ấy. Do vậy ta có thể hiểu rằng Ngài Di Lặc đâu
phải không biết việc này.
Tất
cả những ảnh tượng trên đã cho chúng ta cảm nhận được
rằng chỉ có trí huệ mới không mắc kẹt hai bên. Và cũng
chỉ có trí huệ mới thấu rõ được một cách toàn triệt
về nguyên nhân sinh tử, nguyên nhân tu hành giải thoát.
Khi
ấy Ngài Di Lặc muốn tuyên lại nghĩa trên dùng kệ hỏi rằng:
Ngài
Văn Thù Sư Lợi
Đức
đạo sư cớ chi
Lông
trắng giữa chặn mày
Phóng
ánh sáng khắp soi
Trời
mưa hoa Mạn đà
Cùng
hoa Mạn thu sa
Gió
thơm mùi chiên đàn
Vui
đẹp lòng đại chúng
Vì
nhân duyên như vậy
Cõi
đất đều nghiêm tịnh
Mà
trong thế gian này
Sáu
điệu vang động lên
Bấy
giờ bốn bộ chúng
Thảy
đều rất vui mừng
Thân
cùng ý thơ thới
Đặng
việc chưa từng có
Aùnh
sáng giữa chặn mày
Soi
sáng thẳng phương Đông
Một
muôn tám ngàn cõi
Đều
ánh như sắc vàng
Từ
địa ngục A Tỳ
Lên
đến trời Hữu Đảnh
Trong
các thế giới đó
Cả
sáu đạo chúng sinh
Sống
chết của kia đến
Nghiệp
duyên lành cùng dữ
Thọ
báo có tốt xấu
Tại
đây đều thấy rõ
Lại
thấy các Đức Phật
Đấng
Thánh Chúa Sư Tử
Diễn
nói các kinh điển
Phần
trùng tụng một lần nữa nhắc cho chúng ta thấy rõ hơn về
những chúng sinh trong lục đạo, sống chết cùng nghiệp duyên
lành dữ thọ báo tốt xấu.
Những
quả vị tu chứng của các hạng người. Nếu ưa đạo tịch
diệt thì chư Phật thuyết về Tứ Đế để đạt đến quả
vị Thanh Văn. Khá hơn thì thuyết về Thập nhị nhân duyên
chứng quả vị Duyên giác. Kế đó là Bồ Tát tu pháp bố
thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
Phần
trùng tụng Ngài Di Lặc lập lại lời hỏi tựu trung hai vấn
đề:
-Những
ảnh tượng đã thấy.
- Yêu
cầu Bồ Tát Văn Thù giải nghi cho đại chúng. Bởi vì pháp
vi diệu nên Đức Thế Tôn trước phải dùng ảnh tượng hiển
bày, sau mới dùng ngữ ngôn dẫn nhập.
“Lúc
bấy giờ Ngài Văn Thù sư Lợi nói với Ngài Di Lắc Bồ Tát
cùng các vị Đại sĩ: Các thiện nam tử! Như chỗ ta xét nghĩ
thời nay Đức Thế Tôn muốn nói đại pháp, mưa đại pháp
vũ, thổi pháp loa lớn, đánh trống pháp lớn và diễn nói
nghĩa của đại pháp”.
Để
dẫn chứng, Ngài nhắc lại chuyện thuở xưa Ngài đã từng
gặp vô lượng, vô biên chư Phật, và lúc đó có Đức Phật
hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu: Như Lai,
Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế
gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân
sư, Phật Thế Tôn, với ý nghĩa:
- NHƯ: Trí huệ căn bản sẵn có bất động ở trong ta.
- LAI: Sau khi đầy đủ công hạnh diệu dụng tùy duyên.
- ỨNG
CÚNG: Đáng cho tất cả chúng sinh cúng dường.
- CHÁNH
BIẾN TRI: Khắp biết tất cả.
- MINH
HẠNH TÚC: Hạnh tam minh đầy đủ .
- THIỆN
THỆ: Khéo qua bờ sinh tử.
- THẾ
GIAN GIẢI: Thấu suốt cội nguồn thế gian.
- ĐIỀU
NGỰ TRƯỢNG PHU: Bậc trượng phu điều phục muôn loài.
- THIÊN
NHÂN SƯ: Thầy của trời người.
- PHẬT
THẾ TÔN: Bậc giác ngộ đáng kính phục
Danh
hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh với ý nghĩa thâm diệu là ánh
sáng trí huệ như mặt trời, mặt trăng hay đèn có đủ khả
năng chiếu tỏa nơi tăm tối mê muội.
Vì
nói đến Phật là nói đến sự “giác ngộ”, nói đến
trí huệ Bát Nhã tuyệt vời.
Đức
Phật Nguyệt Đăng Minh là ảnh tượng tượng trưng cụ thể
cho tánh giác của muôn loài. Học Phật là mồi ánh sáng trí
tuệ của Trí Tuệ. Học đạo giác ngộ là học cái sáng.
Thế
nên danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai đến hai muôn
mà vẫn cùng danh hiệu. Tất cả Đức Phật đều gì chúng
sinh mà thuyết pháp.
Pháp
của chư Phật thuyết ra thật cao siêu và hi hữu, khác với
pháp của thế gian nay dời mai đổi.
Pháp
của thế gian không phải là pháp rốt ráo. Đối với pháp
Phật cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai đều lành và
rốt ráo. Ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời nào pháp ấy
đều có một giá trị tuyệt đối. Ví như lời dạy: “Tất
cả các pháp của thế gian đều vô thường, tất cả hình
tướng đều vô thường”, xưa nay vẫn đúng như thế.
- Pháp
mà mọi nơi mọi thời đều đúng, thì pháp ấy không cao diệu,
không vô thượng, thì còn gì vô thượng hơn?
Thế
nên đọc lại đoạn kinh chúng ta sẽ thấy rõ:
“Kế
đó lại có Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại
có Đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh nữa, cho đến
hai muôn Đức Phật đều cùng một tên, hiệu Nhật Nguyên
Đăng Minh, lại cũng đồng một họ, họ Phả La Đọa. Di Lặc
nên biết! Đức Phật trước, Đức Phật sau đều đồng một
tên hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đầy đủ mười hiệu, những
pháp nói ra đầu, giữa, sau đều lành” (quá khứ, hiện tại,
vị lai).
Đến
đây kinh lại viện dẫn: “Đức Phật rốt sau lúc chưa xuất
gia có tám vị vương tử : người thứ nhất tên là Hữu Ý,
thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên
Bửu Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ
bảy tên Hưởng Ý, thứ tám tên Pháp Ý. Tám vị vương tử
ấy có oai đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ.
Nghe vua cha xuất gia chứng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác cũng đều bỏ ngôi báu cũng xuất gia theo”.
Đức
Phật sau rốt lúc chưa xuất gia có tám người con, người
nào cũng mang tên có chữ ở sau là “Ý” cả. Nghĩa là từ
“tánh giác viên minh” hay từ “Như Lai tạng tâm” của
mỗi chúng sinh đã có tự muôn đời, nhưng khi mê nên bị
ẩn tàng mà sinh ra tám thức.
- Với
A lại da thức thì mang tên Hữu ý, vì thức này làm căn bản
cho hữu vậy.
- Với
Mạt na thức thì mang tên Thiện ý, vì thức này là chỗ nương
của các pháp thiện, ác, nhiễm, tịnh.
- Với
Ý thức thì mang tên Vô lượng ý, vì ý thức này năng duyên
với tất cả các pháp.
- Với
Thân thức thì mang tên Bảo ý.
- Với
Thiệt thức thì nang tên là Năng ý.
- Với
Tỷ thức thì mang tên là Trừ Nghi ý.
- Với
Nhãn thức thì mang tên là Pháp Ý.
- Với
Nhĩ thức thì mang tên là Hưởng ý (hưởng là tiếng vang).
- Tám
vị vương tử hay tám thức tâm vương, mỗi thức đều thống
lãnh các tương ương tâm sở và các cảnh sở duyên. Nghe vua
cha xuất gia, chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nghĩa
là tám thức tâm vương trở thành diệu dụng của “Như Lai
tạng tâm”. Hay nói cách khác, chuyển thức thành trí.
Do
vậy tám vị vương tử này sau khi Đức Nhật Nguyệt Đăng
Minh Như Lai diệt độ đều học với ngài Diệu Quang Bồ Tát
và được ngài Diệu Quang dạy bảo cho đến khi đạt thành
bậc Chánh đẳng Chánh giác.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi thuật lại việc xưa và việc nay cũng giống
nhau như thế.
“Rồi
Đức Nhật Nguyện Đăng Minh từ trong chánh định mà khởi,
vì Diệu Quang Bồ Tát mà nói kinh Đại thừa “Diệu Pháp
Liên Hoa giáo Bồ Tát pháp Phật sở hộ niệm”. Trải 60 tiểu
kiếp chẳng rời chỗ ngồi. Lúc ấy trong hội người nghe
pháp cũng ngồi một chỗ cho đến 60 tiểu kiếp thân và tâm
đều không lay động nghe Đức Phật nói pháp cho là như trong
khoảng bữa ăn”.
Như
vậy chúng ta nghĩ gì ở điểm này? Chỉ nghe pháp mà mất
hàng tỉ năm (1 tiểu kiếp gồm có 16.798.000 năm).
Ngồi
nghe pháp mà thân và tâm đều không lay động, còn chúng ta
bây giờ thì sao ? Nghe pháp chỉ chừng 1 hay 2 giờ đã thấy
nôn nóng, nào chuyện gia đình, chuyện làm ăn, chuyện buồn,
chuyện vui dồn dập, làm cho thân tâm dao động, trăm mối
ngổn ngang, thân thể mệt mỏi. Nghe nói tu khoảng 100, 1000
năm mới có thể thật hiểu Phật pháp. Có lẽ chúng ta lắc
đầu ngán ngẫm, bởi vì vọng tưởng mê lầm, dùng thức
để suy lường thời gian lâu, mau, suy tính thiên sai vạn biệt
về cảnh giới do vọng thức nảy sinh.
Thuyết
kinh Pháp Hoa là chỉ bày “Tri kiến Phật”, chính tri kiến
ấy đã dung nhiếp sự suy lường về thời gian và không gian.
Thể
nhập “Tri kiến Phật” thì đâu còn lệ thuộc thời gian,
không gian. Bởi vì còn suy lường là còn mê lầm tham nhiễm.
Nói
đến “Tri kiến Phật” là nói đến cái trí tuệ tuyệt
vời vô thủy vô chung vượt ngoài vọng thức, hiểu được
như thế ta mới hiểu được Phẩm Tựa này.
Khi
“Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong 60 tiểu kiếp nói
kinh đó rồi, liền ở trong chúng ma phạm, sa môn, Bà la môn
và trời, người, Atula mà tuyên lên rằng: Hôm nay vào nửa
đêm sẽ nhập Vô dư Niết bàn”.
Trước
khi nhập Vô dư Niết bàn Ngài đã trao ký cho Đức Tạng Bồ
Tát mà kinh đã viện dẫn: “Đức Phật Bồ Tác này kế đây
sẽ thành Phật, hiệu là Tịnh Thân Như Lai, Ứng cúng, Chánh
đẳng giác”.
Như
vậy có nghĩa là chư Phật thị hiện chỉ vì muốn cho chúng
sinh ngộ nhập “Tri kiến Phật”. Khi đã trải qua một thời
gian lâu xa, các Ngài dùng nhiều phương tiện dẫn bày, và
đến lúc cần tuyên bày giáo nghĩa Đại thừa, cùng trao ký
cho kẻ kế thừa thì việc làm như thế đã xong. Lúc đó chư
Phật thị hiện nhập Niết bàn, với ý nghĩa phó chúc cho
chúng hội về sau.
Tám
người con được Bồ Tát Diệu Quang giáo hóa, vị rốt sau
thành Phật hiệu là Nhiên Đăng.
- Cha
là Nhật Nguyệt Đăng Minh.
- Con
là Nhiên Đăng.
Thật
tuyệt diệu làm sao! Một khi ánh sáng trí tuệ bừng lên, quả
vị “Diệu giác chân thường” đâu có ở xa.
Đến
đây trong kinh lại đề cập đến “vị thành Phật rốt sau
là Nhiên Đăng. Trong hàng 800 người đệ tử có một người
tên là Cầu Danh, người này tham ưu danh lợi, tuy cũng đọc
tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất
nên gọi là Cầu Danh”.
“Di
Lặc nên biết, lúc đó Diệu Quang Bồ Tát đâu phải người
nào lạ, chính là Ta đây, Cầu Danh Bồ Tát là ngài đó”.
Do
vậy, chúng ta mới hiểu thêm rằng: Bồ Tát Di Lặc đã thị
hiện tượng trưng cho thức, mà thức thì ưa dong ruổi theo
sau trần, đuổi theo danh tướng nên làm sao nắm vững được
lý đạo. Học rồi quên rồi, bôn tẩu trần lao nhơ nhiễm,
tâm trí cưu mang nhiều nỗi. Tuy vậy, nếu có người thức
tỉnh thì thức kia trở thành trí. Vì thế, Cầu Danh nhờ Diệu
Quang hướng dẫn.
- Trước
nói là Cầu Danh, nay nói là Di Lặc.
- Trước
nói là Diệu Quang, nay nói là Văn Thù.
Nên
những danh hiệu ở phẩm Tựa này phần nhiều là tượng trưng.
Chúng ta không nên mắc kẹt vào danh từ và tên hiệu thì mới
thấu rõ ý kinh.
Phần
trùng tụng dẫn lại ý trên một cách chi tiết hơn. Tuy nhiên,
chúng ta cũng cần hiểu thêm về ý nghĩa ở phần trùng tụng
có ghi:
“Đêm
đó Phật diệt độ
Như
củi hết lửa tắt”
Tại
sao Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nhập Niết bàn lại
như củi hết lửa tắt?
Củi
hết lửa tắt rồi về đâu?
Đáng
lẽ ra khi Đức Phật nhập Niết bàn thì phải có những hiện
tượng khác lạ, như chư Phật phóng quang dùng tràng phan bảo
cái rước về cõi Phật, chứ sao ở đây lại nói củi hết
lửa tắt.
Củi
là tường trưng cho nghiệp, cho phiền não.
Nghiệp
hết hay là củi hết, đến đó không còn sinh tử , nên gọi
là củi hết lửa tắt.
Còn
củi là còn nghiệp, còn phiền não, hết củi là hết nghiệp,
hết phiền não. Sinh tử không còn nên goi là lửa tắt.
Với
ý nghĩa cho chúng ta thấy là muốn đạt đến Niết bàn, thoát
ly sinh tử, thì phải dùng lửa trí huệ, đốt hết củi phiền
não.
Và
cho đến cuối phẩm kinh với bài xứng tán:
“Ánh
sáng chiếu phương Đông
Lý
diệu trọn bày
Không
thể dùng suy lường
Mà
suy lường được
Thầm
nhận nơi lòng
Phương
tiện truyền trao
Chỉ
một luồng hào quang
Mà
bao thứ hương trời tỏa ngát”
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch