Sao
lục 2
Toát
yếu Pháp Hoa
Lời
dẫn
Tiểu phẩm này
đáng lẽ gọi là lược dịch, nhưng có mấy chỗ không là
như vậy nên phải để chữ toát yếu. Lược dịch và toát
yếu ở đây là lấy ý chính, ý quan trọng, và sự thể chủ
yếu. Do vậy, ở đây chỉ toát lược văn mà thôi.
Tiểu phẩm này
nên đọc trước khi đọc tụng chính văn hoặc đọc trước
hay sau khi đọc lược giải. Nhất thiết không có cái việc
tụng tiểu phẩm này thay cho chính văn. Tụng sau khi tụng chính
văn thì được.
Phật đản 2542
(1998)
Trí Quang
_________
TOÁT
YẾU PHÁP HOA
Phẩm
1:
Mở
đầu
Kinh này tôi nghe
đức Thế Tôn tuyên thuyết trong thì gian ngài ở trong đỉnh
Linh sơn, thuộc thành Vương xá. Cùng hiện diện là một đại
hội có chúng đại tỷ kheo gồm nhiều vị La hán, nhiều vị
tu học tiếp tục và tu học hoàn tất, nhiều vị tỷ kheo
ni; có chúng đại bồ tát gồm rất nhiều vị. Ngoài ra, 8
bộ phi nhân loại và 4 chúng nhân loại cũng qui tụ đông đủ.
Đại hội các
chúng như vậy đảnh lễ và ngồi quanh đức Thế Tôn. Ngài
tuyên thuyết kinh Nghĩa Vô Lượng, rồi nhập định Vị trí
của nghĩa vô lượng, và từ tướng bạch hào phóng ra ánh
sáng, chiếu qua nhiều thế giới hệ ở chính đông, làm cho
cả đại hội thấy sự huy hoàng của các thế giới hệ ấy,
thấy hết các chủng loại chúng sinh làm gì và được gì
hay bị gì, thấy chư vị Thế Tôn và nghe Pháp của các ngài
nói, thấy chư vị bồ tát đủ cách đi theo đường đi của
bồ tát.
Bấy giờ đức
Di Lạc hỏi đức Văn Thù, tại sao đức Thế Tôn biểu hiện
như vậy, và kết thúc rằng đức Thế Tôn muốn nói cái Pháp
mà ngài chứng ngộ khi mới ngồi nơi bồ đề tràng, hay muốn
thọ ký làm Phật cho đệ tử của ngài? Đức Văn Thù nói,
đó là điềm đức Thế Tôn sẽ nói cái Pháp vĩ đaị. Vì
như tôi biết, đức Nhật Nguyệt Đăng Minh Thế Tôn cuối
cùng, trong nhiều vị kế tiếp nhau và cùng danh hiệu, đã
từng làm như vậy. Nên đức Thế Tôn hiện nay phóng hào quang
lớn là đếå hỗ trợ cho sự phát lộ thật tướng _ Ngài
sẽ tuyên thuyết Pháp Hoa, giải trừ hoài nghi cho mọi người
cầu tuệ giác Thanh văn, tuệ giác Duyên giác, tuệ giác Phật
đà.
_____
Phẩm
2:
Phương
tiện
Khi ấy đức Thế
Tôn thung dung xuất định, nói với đại hội qua tôn giả
Xá Lợi Phất, rằng từ chư vị Như Lai, Như Lai đã thực
hành trọn vẹn các pháp của tuệ giác vô thượng, nên tuệ
giác ấy của Như Lai thì Thanh văn Duyên giác Bồ tát đều
không thể thấu triệt. Do tuệ giác ấy mà Như Lai thành tựu
sự hiếm có bậc nhất, đó là tùy nghi thuyết pháp, dẫn
dắt chúng sinh thoát khỏi mọi sự vướng mắc. Như Lai tùy
nghi thuyết được như vậy là vì tuệ giác của Như Lai (tức
Phật tri kiến: sự thấy biết của Phật) thì đủ mọi phẩm
chất: 4 tâm vô hạn, 4 trí thông suốt, 10 đại năng lực,
18 sự đặc biệt, 4 sự không sợ, 4 thiền, 4 định, 8 sự
giải thoát, 3 pháp tam muội...Do vậy, chỉ có Như Lai, và chư
vị Như Lai, mới cùng tận và tuyên thuyết về thật tướng:
biểu hiện như vậy, đặc tính như vậy, bản thể như vậy,
năng lực như vậy, động tác như vậy, nhân tố như vậy,
duyên tố như vậy, kết quả như vậy, hình thành như vậy,
toàn bộ như vậy. Nên nguyên tắc của Như Lai là sau cùng
phải nói thật, rằng niết bàn mà Như Lai làm cho Thanh văn
Duyên giác đạt được, niết bàn ấy chỉ do Như Lai tùy nghi
thuyết ra ba cỗ xe, làm cho chư vị trước đây đã thoát khỏi
sự vướng mắc vào sinh tử khốn khổ, và nay đây sẽ thoát
khỏi sự vướng mắc vào niết bàn giả thiết.
*
Lời này của
đức Thế Tôn làm cho các vị La hán rơi cả vào sự hoài
nghi. Chính tôn giả Xá Lợi Phất cũng hoài nghi tuệ giác của
mình: đã cứu cánh hay phải tu hành nữa? Tôn giả thỉnh cầu
đức Thế Tôn giải thích cho về lời ngài đã dạy. Sau ba
lần thỉnh cầu, đức Thế Tôn mới chấp thuận thì có nhiều
vị tăng thượng mạn, vẫn tự cho niết bàn của mình là
đã hoàn toàn, nên lạy đức Thế Tôn mà rời khỏi đại
hội. Đức Thế Tôn không ngăn cản. Ngài nói những hạt lép
đã tự loại. Đại hội nay toàn là hạt chắc. Chư vị hãy
khéo nghe. Như Lai, và chư vị Như Lai, chỉ vì lý do duy nhất
và trọng đại mà xuất thế, ấy là khai mở và chỉ thị
sự thấy biết của Phật cho chúng sinh tỉnh ngộ và nhập
vào _ có nghĩa chỉ đem cỗ xe Phật đà mà hóa độ.
Thế nhưng Như
Lai xuất hiện vào thời kỳ dữ dội, đầy cả 5 thứ vẩn
đục, chư vị và chúng sinh lại vốn ham dục lạc nên bị
khốn khổ tác loạn. Như Lai nếu chỉ nói, và nói liền, về
cỗ xe Phật đà, thì không nhờ vậy mà chư vị và chúng sinh
được hóa độ. Do đó, y như chư vị Như Lai đã khuyến cáo
khi Như Lai mới hoàn thành tuệ giác vô thượng, Như Lai quan
sát trình độ và đạo hạnh của chư vị và chúng sinh mà
tùy nghi thuyết ra cỗ xe Thanh văn và cỗ xe Duyên giác, phương
tiện tuyên ngôn chư vị chứng được niết bàn, và nhờ vậy
mà chư vị được hóa độ. Rồi có vô số con Phật là các
vị Bồ tát, trong số đó có chính chư vị nhưng ngày nay đã
có thể chuyển biến, biết tìm đến Như Lai, vì quyết chí
tìm cầu và lắng nghe về tuệ giác của Như Lai. Thế nên
ngày nay Như Lai hoan hỷ hết sức, tuyên thuyết Pháp Hoa mà
nói thẳng về cỗ xe Phật đà, công bố chư vị _ Thanh văn
La hán _ sẽ được làm Phật cả.
Như vậy là, sự
thật, Như Lai chỉ hóa độ chư vị và chúng sinh bằng cỗ
xe Phật đà, vì 9 thể loại kinh pháp Như Lai nói trước đây
đều lấy cỗ xe Phật đà làm căn bản; vì Như Lai vốn lập
chí nguyện làm cho ai cũng như Như Lai; vì mục đích Như Lai
xuất thế là để công bố sự thấy biết của Phật đà;
vì Như Lai tự đi bằng cỗ xe Phật đà thì cũng đem cỗ xe
ấy mà chở chư vị và chúng sinh; vì cỗ xe Thanh văn và cỗ
xe Duyên giác chỉ là Như Lai thiện dụng danh từ mà giả thiết;
vì phải thể hiện nguyên lý"các pháp thường tự vắng lặng’’,
đi trọn đường đi của Bồ tát và trở thành Phật đà,
mới thật là niết bàn; vì chư vị Như Lai trong 3 thì gian
của 10 phương quốc độ đều nói chỉ cỗ xe Phật đà là
thật; vì từ chư vị Như Lai quá khứ, những ai biết nói
một tiếng con tôn kính Phật hay biết hiến cúng Phật bằng
một cái cúi đầu, và bao sự đồng đẳng như vậy, thì do
cái"giống Phật’’ này mà rồi ra đã thành Phật tất cả;
vì chính Như Lai cũng làm như chư Phật trong ba thì gian, áp
dụng phương tiện tuyên thuyết cỗ xe Thanh văn và cỗ xe Duyên
giác, rồi cuối cùng, ngày nay tuyên thuyết cỗ xe Phật đà;
vì tất cả Thanh văn La hán"ai nấy cũng sẽ được làm Phật
cả’’.
Như Lai và chư
vị Như Lai tuyên thuyết cỗ xe Phật đà là vì biết giống
Phật cũng phát từ các yếu tố, vì biết giống Phật ấy
bản thể là thường trú. Và đó là ấn tín thật tướng
của Như Lai mà, cuối cùng, ngày nay Như Lai mới công bố.
Ấy vậy, chư
vị phải nhận thức sự tùy nghi thuyết pháp của Như Lai,
và"hãy vui mừng lên khi tự biết chắc mình sẽ làm Phật’’.
________
Phẩm
3:
Ví
dụ
Khi ấy tôn giả
Xá Lợi Phất tức thì đứng dậy mà bạch đức Thế Tôn,
ngài đã làm cho con hết hoài nghi không được thọ ký như
Bồ tát, hết hối tiếc không được thành quả như Thế Tôn.
Con biết ngài tùy nghi thuyết ra cỗ xe Thanh văn và cỗ xe Duyên
giác là để tạo phương tiện cho ngày nay, cuối cùng, thuyết
về cỗ xe Phật đà, làm cho các chúng sẽ được làm Phật
cả. Và biết con thật là con Phật, biết phải đến lúc làm
Phật, đủ 32 tướng, 4 chúng 8 bộ đều tôn kính, bấy giờ
mới được gọi là niết bàn.
Khi mới nghe đức
Thế Tôn nói sự niết bàn của Thanh văn La hán chỉ là giả
thiết thì con cả sợ, nghĩ đây là ma hóa ra Phật để quấy
rối chúng con. Nhưng rồi lòng con yên như biển cả khi nghe
đức Thế Tôn nói chư vị Thế Tôn quá khứ và vị lai đều
áp dụng phương tiện, tùy nghi mà thuyết pháp. Ngài cho biết
ngài cũng dùng phương tiện giáng sinh, xuất gia, thành đạo,
chuyển pháp luân, và cả sự nhập niết bàn sau này, mà công
bố con đường đích thực. Tiếng nói của ngài làm cho con
đứng vững trong sự biết chắc mình sẽ làm Phật, chư thiên
nhân loại đều tôn kính, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp tối
thượng, giáo hóa chư vị bồ tát.
Đức Thế Tôn
nói, Xá Lợi Phất, xưa kia Như Lai đã dạy cho tôn giả phát
nguyện mong cầu tuệ giác Phật đà, vậy mà tôn giả quên
hết. Ngày nay Như Lai muốn làm cho tôn giả nhớ lại cái nguyện
ấy, và đường đi của cái nguyện ấy, nên tuyên thuyết
Pháp Hoa, thọ ký làm Phật cho chư vị. Xá Lợi Phất, trong
thì vị lai, tôn giả trải qua nhiều thời kỳ, phụng sự
nhiều vị Như Lai, kính giữ chánh pháp của các ngài, đi trọn
đường đi của bồ tát rồi, sẽ được thành Phật với
danh hiệu Hoa Quang, đủ 10 đức hiệu: bậc Đến như chư Phật,
bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc
Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ
trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người,
bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác hoàn toàn: bậc
Tôn cao nhất đời. Quốc độ tên Ly cấu, đẹp, sạch, yên
vui, nhân loại và chư thiên đều đông đảo. Hoa Quang Như
Lai xuất thế không phải thời kỳ dữ dội, nhưng vì chí
nguyện xưa nên cũng tuyên thuyết đủ cả 3 cỗ xe. Thời kỳ
của Hoa Quang Như Lai tên là Đại bảo trang nghiêm, vì được
trang hoàng bởi vô số bồ tát tu chứng rất cao. Hoa Quang Như
Lai và người trong quốc độ của ngài sống đến nhiều thời
kỳ bậc nhỏ. Ngài nhập diệt rồi, giáo pháp nguyên chất
và giáo pháp tương tự cũng tồn tại nhiều thời kỳ bậc
nhỏ. Hoa Quang Như Lai là hậu thân của tôn giả, Xá Lợi Phất,
tôn giả hãy vui mừng lên.
Cả đại hội
nghe thấy tôn giả Xá Lợi Phất được thọ ký làm Phật
thì cực kỳ hoan hỷ. Thiên chúng hiến cúng đức Thế Tôn
bằng hoa và nhạc, rồi thưa, xưa kia đức Thế Tôn chuyển
pháp luân tứ đế, ngày nay ngài chuyển pháp luân tối thượng.
Đức Thế Tôn tuyên thuyết cỗ xe Phật đà, chúng con kính
xin tùy hỷ. Tôn giả Xá Lợi Phất được thọ ký thì chúng
con rồi cũng chắc chắn được làm Phật. Bao nhiêu phước
đức chúng con có được, chúng con hồi hướng cả về nơi
tuệ giác của đức Thế Tôn và nguyện được tuệ giác ấy.
Tôn giả Xá Lợi
Phất bạch đức Thế Tôn, con hoàn toàn không còn hoài nghi
gì nữa khi đích thân được ngài thọ ký thành tựu tuệ
giác vô thượng, nhưng 1200 vị La hán đây vẫn còn hoài nghi.
Lành thay đức Thế Tôn, xin ngài giải thích thêm cho chư vị
ấy. Đức Thế Tôn nói, Như Lai đã chăúng mới nói chư vị
sẽ được làm Phật cả hay sao. Nhưng nay Như Lai đem một
sự ví dụ để nói thêm về ý nghiã ấy.
Ví như vị đại
trưởng giảcó một ngôi nhà lớn. Ngôi nhà ấy chỉ có một
cửa, mà ở trong lại có nhiều con của đại trưởng giả.
Ngôi nhà hư hỏng, lại có lắm chim dữ, thú dữ, bò sát dữ,
quỷ quái càng dữ hơn. Đại trưởng giả mới đi ra, ngôi
nhà đột nhiên lửa dậy đốt cả bốn phía. Đại trưởng
giả trở lại ngoài cửa. Biết các con đang còn trong đó,
ông liền trở vào. Ông nghĩ thân mình và cánh tay của ông
rất mạnh, có thể dùng vạt áo hay ghế đẳng, gom các con
lại ôm mà chạy ra. Nhưng cửa chỉ một cái mà lại nhỏ
hẹp thì các con có sẽ rơi lại và bị đốt cháy. Nên ông
nói rõ cho các con nghe mọi sự tai họa. Nhưng chúng vẫn ham
chơi. Hơi lửa xáp tới, nóng rát mà chúng vẫn không biết
gì. Đại trưởng giả liền nghĩ, các con ta vốn có sở thích,
liền bảo, những cỗ xe dê, xe hươu, xe bò, mà các con thích,
cha để cả ngoài cửa. Các con thích xe gì thì ra mà lấy gấp.
Nghe nói những cỗ xe, các con ông tức thì tranh nhau chạy ra,
thoát khỏi nhà lửa. Bấy giờ đại trưởng giả chỉ đồng
đều cấp cho mỗi người con một cỗ xe bò, lớn, đẹp, được
kéo bởi con bò trăéng, đi rất êm và rất mau.
Như Lai cũng vậy.
Như Lai là từ phụ. Chúng sinh toàn là con Như Lai. Ba cõi không
yên, in như nhà lửa, đang bị đốt cháy bởi đủ thứ ham
muốn, khổ não. Thế nhưng, dẫu có sức mạnh của thần thông,
và sức mạnh của tuệ giác, mà Như Lai chưa dùng được để
chỉ nói, và nói liền, về cỗ xe Phật đà. Do vậy, Như Lai
phải phương tiện giả thiết 3 cỗ xe. Ai nghe pháp với Như
Lai mà cầu tự niết bàn, thì đó là theo cỗ xe Thanh văn,
như những người con thích xe dê mà chạy khỏi nhà lửa. Ai
nghe pháp với Như Lai mà cầu tuệ giác tự nhiên, thì đó
là theo cỗ xe Duyên giác, như những người con thích xe hươu
mà chạy khỏi nhà lửa. Ai nghe pháp của Như Lai mà cầu sự
thấy biết của Phật, và cầu như vậy là để đem lại yên
vui cho chúng sinh, thì đó là theo cỗ xe Phật đà, như những
người con thích xe bò mà chạy khỏi nhà lửa. Nhưng thoát
khỏi nhà lửa ba cõi rồi thì Như Lai chỉ đồng đều cấp
cho cỗ xe Phật đà, để cùng đi thẳng đến sự thấy biết
của Phật.
Ấy vậy, Như
Lai từ cỗ xe Phật đà mà thiết ra 3 cỗ xe. Nên mọi việc
ngày nay là hướng cả vào sự thấy biết của Phật. Còn
chân lý tứ đế đem lại giải thoát thì chỉ giải thoát
hư ảo. Giải thoát ấy không phải cứu cánh, vì thoát mà
chưa được tuệ giác vô thượng. Điều này là chung kết,
là ấn tín của Như Lai, chư vị hãy công bố cho đời - cho
những người có thể tin hiểu Pháp Hoa, nhưng không tuyên truyền
bừa bãi cho những kẻ bất kính bất tín.
__________
Phẩm
4:
Tin
Hiểu
Bấy giờ các
vị tôn giả Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Mục
Kiền Liên, nghe đức Thế Tôn thọ ký làm Phật cho tôn giả
Xá Lợi Phất thì hoan hỷ, phấn chấn, quỳ xuống, chiêm ngưỡng
mà bạch ngài, chúng con đứng đầu chư Tăng, tự cho đã được
niết bàn, chỉ nghĩ về không, không sắc tướng, không ưa
thích. Còn đối với các pháp của Bồ tát, như làm sạch
thế giới, làm nên chúng sinh, thì chúng con không thích thú
gì. Ngày nay được nghe đức Thế Tôn thọ ký cho Thanh văn
thì chúng con tự mừng sâu xa, vì cái lợi ích cao cả ấy
chúng con không cầu mà tự được. Chúng con xin trình bạch
một sự ví dụ để thưa rõ ý nghĩa như vậy.
Ví như có người
tuổi nhỏ, bỏ cha trốn đi xứ khác đến 50 năm. Lớn tuổi
và nghèo khốn, người ấy bôn ba để kiếm cơm áo, lần hồi
đến nhằm đô thành cha ở. Người cha thì tìm con mãi mà
không được, nên dừng lại ở đô thành ấy. Ông giàu sang,
tư thế rất lớn. Xa con hơn 50 năm mà ông vẫn thương nhớ.
Không nói với ai, nhưng ông lo nghĩ khi chết thì tài sản biết
giao cho ai. Người con đến nhằm lâu đài của ông, đứng
ở ngoài và một bên cửa, nhìn thấy tư thế của ông thì
nghĩ đây là vua, hay ngang với vua, không phải chỗ mình kiếm
ăn. Đi đến xóm nghèo, bán sức mà dễ kiếm ăn hơn. Nghĩ
thế nên bỏ chạy. Người cha ngồi trên ngai sư tử, thấy
thì nhận ra liền, mừng rằng tài sản của ta đã có người
để giao phó rồi. Ông sai người chạy theo dẫn về. Người
con sợ quá, ngất đi. Người cha thấy vậy bảo thôi. Ông
biết con mình ý chí thấp hèn, sợ chính sự cao sang của mình.
Lập chước phương tiện, ông kín đáo sai vài kẻ không oai
phong gì, đi tìm người con, từ từ nói ông muốn thuê dọn
đồ dơ bẩn, trả giá gấp đôi, và chúng tôi cùng làm với
anh. Người con biết giá rồi, chịu đến dọn đồ dơ bẩn.
Người cha thấy
con như vậy thì biết con mình chí khí thấp hèn, chỉ thích
việc hèn. Ông liền cởi bỏ đồ sang, mặc áo rách dơ bẩn,
lại lấy đất bụi làm lấm lem cả người, rồi cầm dụng
cụ quét dọn đồ dơ bẩn, đến chỗ người làm thuê. Với
cách ấy ông mới gần được con ông. Ông bảo anh hãy làm
luôn ở đây. Ông thêm tiền thuê và cho đồ dùng. "Ta như
cha anh, anh như con ta". Người con mừng vì sự đãi ngộ ấy,
nhưng vẫn tự xưng là kẻ làm thuê hèn hạ. Do vậy mà 20
năm trời vẫn chỉ được bảo quét dọn dơ bẩn. Qua thì
gian này rồi lòng mới tin nhau, và người con được tự do
ra vào trong lâu đài, nhưng vẫn thích ăn ở chỗ cũ. Khi người
cha biết mình săép chết mới bảo ta có lắm vàng ngọc, tràn
đầy kho tàng. Và thu chi như thế nào con phải biết cho rõ.
Nay thì cha với con không khác gì cả. Người con nhận lãnh
và thu chi kho tàng, nhưng vẫn không có ý mong lấy cho đủ
một bữa ăn, ở cũng vẫn chỗ cũ, tâm lý thấp kém vẫn
chưa hết được. Phải ít lâu nữa tâm lý mới thênh thang,
chí lớn đã đạt, biết khinh bỏ tâm lý cũ. Người cha biết
như vậy, lại biết mình săép chết, nên mời họ hàng thân
thích, đủ cả quốc vương đại thần, tuyên bố người này
là con trai của tôi, tôi thật cha nó. Trước đây nó trốn
đi, nay, tại đây, tôi gặp lại nó. Ngày nay hết thảy tài
sản của tôi đều là của con tôi, và trước đây nó cũng
biết rõ cả. Người con bấy giờ rất mừng, nghĩ rằng kho
báu không cầu mà tự đến.
Bạch đức Thế
Tôn, chúng con cũng vậy. Vì ba sự đau khổ mà chúng con chịu
bao nhiêu phiền lụy trong chốn sống chết. Đời này vẫn
ngu vẫn lầm, chỉ ưa giáo pháp thấp nhỏ. Đức Thế Tôn
bảo chúng con vận dụng tư duy tu mà quét dọn cho sạch mọi
sự hý luận dơ bẩn. Chúng con nỗ lực theo huấn dụ ấy,
và chỉ được sự niết bàn nội tại như cái giá làm thuê
một ngày mà tự cho đã đủ. Biết chúng vốn khốn khổ vì
đắm say dục lạc, ưa thích giáo pháp thấp nhỏ, nên đức
Thế Tôn tạm thời gác lại mà chưa phán quyết chúng con cũng
có phần nhận được sự thấy biết của Phật - măëc dầu
ngài đã nói cho chúng con biết về kho tàng ấy, và chúng con
vâng lời ngài mà đem nói cho chư vị Bồ tát, nhưng tự thân
chúng con thì không ưa thích gì kho tàng ấy cả. Chúng con không
biết mình thật con Phật. Ngày nay, qua kinh Pháp Hoa, đức Thế
Tôn tuyên cáo chỉ có cỗ xe Phật đà là thật, Thanh văn cũng
là con Phật, và cũng sẽ được làm Phật. Do vậy, chúng con
nói chúng con vốn không có tâm nguyện gì, chỉ nhờ hồng
ân của đức Thế Tôn phương tiện dẫn dụ mà ngày nay kho
tàng thấy biết của đấng Pháp vương tự đến với chúng
con. Chúng con lâu ngày nghiêm trì tịnh giới, thực tu phạn
hạnh, ngày nay nhận được thành quả vĩ đại - Con Phật
đáng nhận được gì thì ngày nay chúng con nhận được đủ
cả.
_________
Phẩm
5:
Cây
cỏ
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo tôn giả Đại Ca Diếp và các vị đại đệ tử
của ngài, rằng Như Lai xét biết ý nghĩa của các pháp và
biết đạo hạnh của chúng sinh, biết một cách tường tận
mà khai thị về sự thấy biết của Phật. Đại Ca Diếp,
ví như khắp cả thế giới đại thiên này mây lớn nổi lên
và dăng bủa khắp cả, đổ mưa xuống một cách đồng đều,
nước mưa ướt thấm tất cả cây cối và cỏ thuốc. Cây
cối thì tùy chủng loại lớn hay chủng loại nhỏ, cỏ thuốc
thì tùy tính chất tốt, tính chất vừa, tính chất kém, đều
hấp thụ đủ cả. Mưa là một màu sắc và mùi vị mà xứng
với các mầm, nên cây cối và cỏ thuốc đều sinh ra, lớn
lên, trổ hoa, ra trái và kết hạt vẫn khác nhau. Như Lai thuyết
pháp cũng vậy. Pháp ấy chỉ một màu sắc và mùi vị là
đạt đến sự thấy biết của Phật. Nhưng chúng sinh tùy
tâm tính và thị hiếu mà hấp thụ được cả, và được
ở vào những vị trí như sau.
Được ngôi vị
cao cả trong nhân loại và chư thiên là cỏ thuốc kém; được
quả vị Thanh văn và Duyên giác là cỏ thuốc vừa; chí cầu
Phật quả và biết sẽ làm Phật là cỏ thuốc tốt. Con Phật
chuyên tâm hạnh Phật, tự biết quyết định làm Phật, Bồ
tát như vậy là cây nhỏ; chuyển đẩy bánh xe chánh pháp không
còn thoái chuyển mà cứu độ vô số chúng sinh, Bồ tát như
vậy là cây lớn. Lại nữa, Thanh văn và Duyên giác bằng cái
thân tối hậu mà nghe pháp đắc đạo, là cỏ thuốc cùng
được lớn lên; Bồ tát trí tuệ vững chắc, cầu cỗ xe
Phật đà tối thượng, là cây nhỏ cùng được lớn lên;
Bồ tát được thần thông lực, thấu triệt về Không, phóng
ánh sáng nhiệm mầu mà hóa đạo chúng sinh, là cây lớn cùng
được lớn lên.
Ấy vậy, Như
Lai thuyết pháp như mây lớn đổ mưa một vị mà thấm khắp
hoa người, làm cho kết trái hạt cả. Thế nên chư vị phải
biết La hán chưa thật niết bàn; tất cả chư vị đều là
đi theo đường đi Bồ tát, và sẽ làm Phật cả.
_________
Phẩm
6:
Thọ
ký
Nói những lời
trên đây rồi, đức Thế Tôn tuyên cáo với đại hội, rằng
Như Lai lấy mắt Phật mà nhìn thì đại đệ tử của Như
Lai là tôn giả Đại Ca Diếp đây, vị lai phụng sự nhiều
vị Như Lai, tu tập và tuyên thuyết vô số chánh pháp vĩ đại
của các ngài, rồi thân cuối cùng thành đức Phật đà danh
hiệu Quang Minh, đủ mười đức hiệu, quốc độ tên Quang
Đức, thời kỳ tên Đại Trang Nghiêm. Ngài sống nhiều thời
kỳ bậc nhỏ, giáo pháp nguyên chất và giáo pháp tương tự
đều tồn tại nhiều thời kỳ bậc nhỏ. Quốc độ của
ngài đẹp, sạch, Bồ tát chúng và Thanh văn chúng đều vô
lượng. Không có việc ma, vua ma và dân ma dầu có cả, nhưng
toàn là hộ trì Phật pháp.
Bấy giờ các
tôn giả Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề và Ca Chiên Diên đều
chấn động cả người, chiêm ngưỡng đức Thế Tôn mà thưa,
rằng y như những kẻ đến từ nước đói, gặp cỗ bàn của
đức vua, nhưng không được vua bảo thì không dám dùng, chúng
con cũng vậy. Đức Thế Tôn đã nói chúng con sẽ làm Phật
cả, nhưng xin ngài thọ ký cho, như kẻ đói cần được bảo
mới dám ăn. Đức Thế Tôn biết nỗi mong ước của các đại
đệ tử, nên bảo, chư vị Tỷ kheo, tôn giả Tu Bồ Đề vị
lai sẽ phụng sự nhiều vị Như Lai, thường hành phạn hạnh,
đi trọn đường đi Bồ tát rồi, thân cuối cùng thành đức
Phật đà danh hiệu Danh Tướng, đủ mười đức hiệu. Thời
kỳ tên Hữu Bảo, quốc độ tên Bảo Sinh. Quốc độ ấy
đẹp, sạch, dân chúng đều ở lầu ngọc, đài ngọc; Thanh
văn chúng thì không thể xác định, Bồ tát chúng thì vô số.
Danh Tướng Như Lai sống nhiều thời kỳ bậc nhỏ. Giáo pháp
nguyên chất và giáo pháp tương tự đều tồn tại nhiều
thời kỳ bậc nhỏ. Danh Tướng Như Lai thường đứng trong
không gian mà thuyết pháp, hóa độ vô lượng Bồ tát và Thanh
văn.
Đức Thế Tôn
lại bảo chư vị Tỷ kheo, tôn giả Ca Chiên Diên trong thì
vị lai, phụng sự nhiều vị Như Lai, đi trọn đường đi
Bồ tát rồi, thân cuối cùng được thành Phật đà, danh hiệu
Diêm Phù Na Đề Kim Quang, đủ mười đức hiệu. Quốc độ
đẹp, sạch, không có bốn nẻo đường dữ mà lại có lắm
chư thiên nhân loại. Thanh văn chúng và Bồ tát chúng thì vô
số, trang hoàng cho quốc độ ấy. Diêm Phù Na Đề Kim Quang
Như Lai sống nhiều thời kỳ bậc nhỏ, giáo pháp nguyên chất
và giáo pháp tương tự cũng tồn tại nhiều thời kỳ bậc
nhỏ.
Đức Thế Tôn
lại bảo đại hội, tôn giả Mục Kiền Liên trong thì vị
lai phụng sự nhiều vị Như Lai, thường hành phạn hạnh và
duy trì giáo pháp của các ngài, rồi thành đức Phật đà
danh hiệu Đa Ma La Bạc Chiên Đàn Hương, đủ mười đức
hiệu. Thời kỳ tên Hỷ Mãn. Quốc độ tên Ý Lạc, đẹp,
sạch, rất nhiều chư thiên và nhân loại, Bồ tát và Thanh
văn cũng vô số. Đa Ma La Bạc Chiên Đàn Hương Như Lai sống
nhiều thời kỳ bậc nhỏ, giáo pháp nguyên chất và giáo pháp
tương tự cũng tồn tại nhiều thời kỳ bậc nhỏ.
Trước khi năm
trăm vị đệ tử uy đức toàn vẹn của Như Lai được thọ
ký làm Phật, Như Lai nói cho chư vị nghe sự tương quan xa
xưa giữa Như Lai với chư vị.
________
Phẩm
7:
Tương
quan xa xưa
Đức Thế Tôn
bảo chư vị tỷ kheo, trong thì quá khứ, cách nay vô lượng
thời kỳ, có đức Phật đà danh hiệu Đại Thông Trí Thắng,
bậc Đến như chư Phật, bậc Thích Ứng hiến cúng, bậc Biết
đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết
bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần
hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác
hoàn toàn: bậc Tôn cao nhất đời. Quốc độ của ngài tên
Hảo thành, thời kỳ của ngài tên Đại tướng. Chư vị tỷ
kheo, đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà nhập diệt cách
nay những thời kỳ hơn cả vi trần nghiền từ nhiều quốc
độ. Vậy mà sức mạnh sự thấy biết của Như Lai nhìn lại
sự nhập diệt ấy thấy như thể mới xảy ra hôm nay.
Chư vị tỷ kheo,
đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà sống lâu rất nhiều
thời kỳ. Khi ngồi nơi bồ đề tràng, ngài phá tan quân đội
ma vương rồi, nhưng trải qua không dưới 10 thời kỳ bậc
nhỏ nữa các pháp của tuệ giác vô thượng mới thể hiện
như ở trước mắt.
Đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà khi chưa xuất gia đã có 16 vương tử.
Nghe thân phụ hoàn thành tuệ giác vô thượng thì họ bỏ
hết những gì họ thích, cùng nhau đi đến bồ đề tràng.
Ai cũng kính lạy và tán dương đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà. Rồi cùng nhau khuyến thỉnh ngài chuyển đẩy bánh
xe chánh pháp, rằng xin ngài phô bày sự thấy biết của ngài
để làm cho chúng con cùng với chúng sinh cũng trở thành như
ngài.
Đức Thế Tôn
lại bảo, chư vị tỷ kheo, khi đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà hoàn thành tuệ giác vô thượng thì khắp các cõi
Phật mười phương đều chấn động đủ hết sáu cách. Những
chỗ tối tăm, và cung điện chư thiên, cũng chấn động và
sáng hơn lên. Phạn vương ở các cõi Phật lần theo ánh sáng
mà đi tìm, và ai cũng thấy đức Đại Thông Trí Thắng Phật
đà ngồi trên tòa sư tử dưới cây bồ đề, với các chúng
nhân loại và không phải nhân loại bao quanh. Lại thấy 16
vương tử đang thỉnh cầu ngài chuyển đẩy bánh xe chánh
pháp. Các vị Phạn vương đảnh lễ đức Đại Thông Trí
Thắng Phật đà, đem thiên hoa tung rải mà hiến cúng ngài
và cây bồ đề của ngài, lại dâng lên ngài cung điện của
họ. Rồi ai cũng thỉnh cầu ngài chuyển đẩy bánh xe chánh
pháp.
Lúc bấy giờ
đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà nhận lời thỉnh cầu
của các vị Phạn vương và 16 vị vương tử, chuyển đẩy
bánh xe chánh pháp 4 chân lý, bằng cách 3 lần chuyển đẩy
với 12 phương thức: Đây là khổ; đây là khổ, chư vị phải
biết; đây là khổ, Như Lai đã biết. Đây là khổ tập; đây
là khổ tập, chư vị phải đoạn; đây là khổ tập, Như
Lai đã đoạn. Đây là khổ diệt; đây là khổ diệt, chư
vị phải chứng; đây là khổ diệt, Như Lai đã chứng. Đây
là khổ diệt đạo; đây là khổ diệt đạo, chư vị phải
tu; đây là khổ diệt đạo, Như Lai đã tu. Rồi 4 chân lý
như vậy lại được nói rộng thành 12 duyên khởi. Nói rộng
khổ và khổ tập như sau: vô minh sinh thì hành sinh, cho đến
sinh sinh thì khổ não sinh. Nói rộng khổ diệt và khổ diệt
đạo như sau: vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sinh diệt
thì khổ não diệt. Khi đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà
ở giữa đại hội tuyên thuyết chánh pháp trên đây thì có
hàng ức hàng triệu người, vì không tham đắm các pháp, nên
tâm được giải thoát, 3 minh trí và 6 thần thông họ có đủ
cả. Rồi lần thứ hai, lần thứ ba và lần thứ tư, cũng
đều như vậy. Từ đó về sau, riêng chúng thanh văn cũng đã
vô lượng vô biên. Như thế đó là cỗ xe Thanh văn và cỗ
xe Duyên giác được thiết lập và vận dụng mà hóa độ
2 chúng sinh này. Còn sự thiết lập và vận dụng cỗ xe Phật
đà như sau.
Phần 16 vương
tử thì cùng đem cái tuổi đồng niên mà xuất gia, làm sa
di bồ tát. Ai cũng từng phụng sự rất nhiều chư vị Như
Lai, thực hành phạn hạnh một cách trong sáng mà cầu tuệ
giác vô thượng. Cùng nhau, họ thưa đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà, rằng vô số chư vị thanh văn như trên đã thành
thục cả rồi, kính xin đức Thế Tôn nói cho về pháp của
tuệ giác vô thượng. Tâm chí chúng con là nguyện được tuệ
giác ấy. Đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà nhận lời,
và qua nhiều thời kỳ rồi, ngài ở giữa đại hội mà nói
kinh Pháp Hoa. Nói rồi, 16 sa di bồ tát vì tuệ giác vô thượng
mà ai cũng tiếp nhận, ghi nhớ và đọc tụng một cách thông
suốt, sắc sảo. Trong khi ngài nói kinh ấy thì 16 vị sa di
bồ tát, và chúng bồ tát, ai cũng tin hiểu được cả. Trong
chúng thanh văn cũng có vị tin hiểu. Nhưng nhiều người khác
sinh ra nghi ngại.
Đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà nói kinh Pháp Hoa suốt nhiều thời kỳ
mà không lúc nào nghỉ. Nói rồi, ngài nhập thất mà thiền
định đến hàng ngàn thời kỳ. Bấy giờ, cũng trong thì gian
ấy, 16 vị sa di bồ tát đều giảng diễn phong phú về kinh
Pháp Hoa. Vị nào cũng hóa độ hằng sa chúng sinh cho họ phát
tâm tuệ giác vô thượng. Hàng ngàn thời kỳ qua rồi, đức
Đại Thông Trí Thắng Phật đà xuất định, bảo đại hội,
bất cứ thanh văn, duyên giác hay bồ tát, ai tin được kinh
pháp do 16 vị sa di bồ tát tuyên thuyết, thì những người
ấy rồi ra ai cũng được sự thấy biết của Phật.
Chư vị tỷ kheo,
16 vị sa di bồ tát thường vui thích nói Pháp Hoa. Mười sáu
số lượng hằng sa chúng sinh mà mỗi vị giáo hóa thì đời
đời sinh ra ở đâu cũng chung với mỗi vị, theo mỗi vị
mà nghe pháp thêm nữa. Do vậy mà 16 số lượng hằng sa chúng
sinh ấy gặp được hàng ức chư vị Như Lai nữa, và việc
ấy đến nay vẫn chưa chấm dứt. Chư vị tỷ kheo, nay Như
Lai nói để chư vị biết, 16 vị sa di bồ tát, đệ tử của
đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà, hiện nay cùng thành
tựu tuệ giác vô thượng và đang thuyết pháp giáo hóa khắp
cả mười phương quốc độ. Hai vị ở chính đông là A Súc
Như Lai và Tu Di Đảnh Như Lai. Hai vị ở đông nam là Sư Tử
Âm Như Lai và Sư Tử Tướng Như Lai. Hai vị ở chính nam là
Hư Không Trú Như Lai và Thường Diệt Như Lai. Hai vị ở tây
nam là Đế Tướng Như Lai và Phạn Tướng Như Lai. Hai vị
ở chính tây là A Di Đà Như Lai và Độ Nhất Thế Thế Gian
Khổ Não Như Lai. Hai vị ở tây bắc là Đa Ma La Bạt Chiên
Đàn Hương Thần Thông Như Lai và Tu Di Tướng Như Lai. Hai vị
ở chính bắc là Vân Tự Tại Như Lai và Vân Tự Tại Vương
Như Lai. Một vị ở đông bắc là Hoại Nhất Thế Thế Gian
Bố Úy Như Lai. Còn vị thứ 16 là ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai,
ở quốc độ Kham Nhẫn này.
Chư vị tỷ kheo,
như trên đã nói, khi chúng ta làm sa di bồ tát thì ai cũng
giáo hóa hằng sa chúng sinh. Mười sáu số lượng hằng sa
chúng sinh này vì tuệ giác vô thượng mà vẫn theo nghe Pháp
với chúng ta. Nhưng trong mỗi số lượng ấy, cho đến ngày
nay, có những người vẫn còn ở vị trí thanh văn, thì chúng
ta vẫn thường giáo hóa cho bằng pháp của tuệ giác vô thượng.
Những người này, mà thuộc số lượng hằng sa chúng sinh
của phần Như Lai giáo hóa từ lúc Như Lai còn làm sa di bồ
tát, thì chính là chư vị, và chư vị đệ tử thanh văn trong
thì vị lai sau khi Như Lai nhập diệt. Chư vị đệ tử thanh
văn sau khi Như Lai nhập diệt cũng có những người không nghe
Pháp Hoa, không hay không biết gì về đường đi của bồ tát,
và đối với thành quả của mình thì phát sinh ý tưởng nhập
được niết bàn.
Chư vị tỷ kheo,
bất cứ ở quốc độ nào, khi Như Lai tự biết thì giờ nhập
diệt sắp đến, chư tăng lại thanh tịnh, sự tin hiểu cũng
vững chắc, ai cũng thấu triệt về Không, vào sâu tư duy tu,
thì bấy giờ Như Lai nói cho kinh Pháp Hoa này, minh xác rằng
thế gian không có cỗ xe thanh văn và cỗ xe duyên giác đưa
đến niết bàn, mà đưa đến niết bàn thì chỉ có cỗ xe
Phật đà.
Chư vị tỷ kheo,
nên biết Như Lai đủ mọi phương tiện, lại đi sâu vào bản
tính chúng sinh, biết chí nguyện của chúng sinh ưa thích giáo
pháp thấp nhỏ là vì đã đắm sâu vào trong năm thứ dục
lạc; vì những người như vậy mà Như Lai nói đến niết
bàn thanh văn và duyên giác, và họ nghe thì tin hiểu được.
Sự thể ví như con đường hiểm ác dài đến năm trăm do
tuần, nằm trong chốn hoang vắng và ghê rợn. Một đoàn nhiều
người muốn vượt qua con đường ấy để đến chỗ vàng
ngọc. Một vị hướng dẫn rất thông minh, lại biết rõ con
đường hiểm ác này chỗ nào thông chỗ nào nghẽn. Vị ấy
dẫn đoàn người vượt qua con đường này. Nhưng đoàn người
nửa đường đổ nhác, muốn lui, thưa với vị hướng dẫn,
rằng chúng tôi quá mệt mà lại ghê sợ, không còn đi tới
được nữa. Chúng tôi muốn lui về. Vị hướng dẫn có lắm
chước phương tiện, nghĩ rằng đoàn người này thật đáng
thương, sao lại bỏ vàng ngọc to lớn mà muốn trở về. Nghĩ
rồi, vị ấy sử dụng phương tiện lực, ngay nơi đoạn giữa
của con đường hiểm ác, chỗ đã qua ba trăm do tuần, biến
hóa một thành quách to lớn, và bảo họ, các người đừng
sợ, đừng về. Thành quách to lớn kia các người có thể
vào nghỉ, muốn ở luôn trong đó thì yên ổn thích thú, muốn
đi tới để đến chỗ vàng ngọc thì cũng đi được. Đoàn
người mỏi mệt, lúc đó, lòng rất vui mừng, rằng chúng
ta bây giờ thoát khỏi con đường hiểm ác và được an toàn
rồi. Rồi cả đoàn bước tới mà vào trong thành biến hóa,
sinh ra ý tưởng đã vượt qua, ý tưởng đã an toàn. Nhưng
vị hướng dẫn, khi biết đoàn người nghỉ ngơi hết mệt,
tức thì diệt mất cái thành biến hóa đi, bảo đoàn người
hãy nên đi tới: chỗ vàng ngọc đã gần đây. Cái thành to
lớn vừa rồi chỉ do ta hóa ra cho các người dừng nghỉ mà
thôi. Chư vị tỷ kheo, Như Lai cũng vậy. Như Lai làm đại
đạo sư cho chư vị. Như Lai biết rõ đường dữ sống chết
phiền não là con đường đầy hiểm nạn mà lại xa dài, ai
cũng phải rời bỏ, phải vượt qua. Nhưng nếu chư vị chỉ
nghe cỗ xe Phật đà thì sẽ không thích gặp Như Lai, không
muốn thân gần, vì nghĩ rằng tuệ giác Phật đà quá dài
quá xa, siêng khó lâu lắm mới được thành đạt. Như Lai
biết rõ tâm lý khiếp nhược hèn kém ấy nên dùng phương
tiện lực, nói ra niết bàn của thanh văn và duyên giác để
cho chư vị dừng nghỉ giữa đường. Khi chư vị đã đứng
ở vị trí thanh văn và duyên giác rồi, Như Lai liền nói cho
chư vị biết việc làm của chư vị chưa được hoàn tất.
Nhưng vị trí của chư vị đang đứng thì đã gần đến sự
thấy biết của Phật. Chư vị hãy xét niết bàn mà chư vị
thực hiện: niết bàn ấy chỉ là cái thành biến hóa do Như
Lai phương tiện thiết lập mà thôi.
Chư vị tỷ kheo,
do sự tương quan xa xưa đã nói như trên, ngày nay Như Lai tuyên
thuyết Pháp Hoa, làm cho chư vị nhập vào Phật tuệ. Ngày
nay Như Lai nói thật để chư vị biết: cái chư vị được
không phải đã là niết bàn hoàn toàn. Để đạt cho được
niết bàn hoàn toàn, chư vị cần phải nổi lên tột độ
sự đại tinh tiến. Khi nào chư vị đạt được sự thấy
biết của Phật nội dung gồm đủ mọi phẩm chất Phật _
mà đại loại như 10 đại năng lực, lại có đủ cả 32 tướng
đại trượng phu, bấy giờ mới là niết bàn hoàn toàn.
_________
Phẩm
8:
Năm
trăm đệ tử tiếp nhận thọ ký
Lúc ấy tôn giả
Phú Lâu Na được nghe từ đức Thế Tôn sự phương tiện
tùy nghi thuyết pháp, sự thọ ký cho các vị đại đệ tử,
và sự tương quan xa xưa, thì tâm trí trong sáng, phấn chấn,
bước tới trước đức Thế Tôn, lạy ngang chân ngài, rồi
chiêm ngưỡng ngài mà nghĩ, đức Thế Tôn thật hiếm có,
thích ứng với mọi thành phần, sử dụng tuệ giác và phương
tiện mà thuyết pháp, kéo họ ra khỏi mọi sự vướng mắc.
Thế nên chỉ có ngài mới biết ước nguyện căn bản của
chúng ta.
Vào lúc ấy đức
Thế Tôn bảo, chư vị tỷ kheo, đệ tử của Như Lai khéo
học phương tiện, ở trong cất chứa phẩm chất bồ tát,
bề ngoài hiện ra hình dáng thanh văn. Tôn giả Phú Lâu Na đây
Như Lai thường ca tụng là người thuyết pháp bậc nhất,
duy trì và tuyên dương chánh pháp của Như Lai và của chư
Phật quá khứ vị lai. Tôn giả thấu suốt về Không mà chư
Phật nói, nên thuyết pháp một cách xác tín, trong sạch. Vì
mục đích tịnh hóa quốc độ mà tôn giả thường làm việc
Phật làm là giáo hóa chúng sinh. Chư vị tỷ kheo, khi hoàn
bị về đường đi như vậy của bồ tát, trải qua nhiều
thời kỳ rồi, tôn giả sẽ ở chính nơi quốc độ này mà
thành đức Phật đà, danh hiệu Pháp Minh, đủ mười đức
hiệu. Pháp Minh Như Lai lấy hằng sa đại thiên thế giới
mà làm một quốc độ của mình, đẹp và sạch, không có
đường dữ và nữ nhân, ai cũng sinh ra bằng biến hóa. Cả
quốc độ thường ăn bằng cái vui chánh pháp và cái vui thiền
định. Bồ tát chúng và thanh văn chúng đều vô số lượng.
Thời kỳ của Pháp Minh Như Lai tên Bảo Minh, quốc độ của
ngài tên Thiện Tịnh. Ngài sống lâu nhiều thời kỳ, giáo
pháp cũng tồn tại cực kỳ lâu dài.
Bấy giờ 1200
vị tâm đã tự tại cùng nghĩ, thật là thích thú nếu được
đức Thế Tôn thọ ký cho như các vị đại đệ tử của
ngài. Biết ý nghĩ ấy, đức Thế Tôn bảo tôn giả Đại
Ca Diếp, đại đệ tử của Như Lai là tôn giả Kiều Trần
Như đây sẽ phụng sự rất nhiều chư vị Như Lai, rồi thành
Phật với danh hiệu Phổ Minh, đủ mười đức hiệu, quốc
độ trong sạch, bồ tát dũng mãnh. Phổ Minh Như Lai sống lâu
nhiều thời kỳ, giáo pháp nguyên chất tồn tại gấp đôi
sống lâu, giáo pháp tương tự tồn tại gấp đôi giáo pháp
nguyên chất. Đại Ca Diếp, 500 vị trong số 1200 vị La hán,
đại loại như các tôn giả Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp,
Na Đề Ca Diếp, Ca Lưu Đà Di, Ưu Đà Di, A Nâu Lâu Đà, Ly
Bà Đa, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, Châu Đà, Sa Già Đà, đều
sẽ được tuệ giác vô thượng và cùng một danh hiệu Phổ
Minh Như Lai. Chư vị Như Lai như vậy sẽ tuần tự thọ ký
cho nhau, và mọi sự giống nhau tất cả.
Năm trăm vị La
hán được đức Thế Tôn thọ ký rồi, hoan hỷ, phấn chấn,
lạy ngang chân ngài, hối lỗi, tự trách, bằng cách thưa rằng,
bạch đức Thế Tôn, chúng con thường tự cho đã được niết
bàn cuối cùng. Ngày nay mới biết ý nghĩ ấy thật như kẻ
vô trí. Chúng con phải được tuệ giác vô thượng của Phật
mới là niết bàn chân thật, vậy mà tự cho tuệ giác nhỏ
mọn của mình đã là đầy đủ.
Bạch đức Thế
Tôn, ví như có kẻ đến nhà bạn thân, say rượu nằm ngủ.
Người bạn sắp đi việc công, nên đem viên ngọc vô giá
buộc vào áo trong của người ấy. Người ấy ngủ say, không
hay biết gì cả. Tỉnh dậy thì lang thang đến xứ khác, làm
ăn rất cực nhọc. Và kiếm được chút ít thì tự cho đã
đủ. Về sau người bạn gặp lại, thấy mà phải kêu lên,
sao anh đến nông nỗi này. Trước đây muốn cho anh vui thú
nên tôi đã đem viên ngọc vô giá buộc vào áo trong của anh.
Nay đang còn kia. Sao anh không biết, để phải kiếm sống khó
nhọc. Anh thật khờ dại. Hãy đem viên ngọc ấy đổi lấy
những thứ cần dùng, thì không còn thiếu thốn gì nữa.
Đức Thế Tôn
cũng vậy. Khi ngài làm bồ tát, đã gieo vào chúng con chí nguyện
tối thượng, chí nguyện mong cầu tuệ giác của bậc Toàn
giác. Nhưng chúng con quên ngay, không hay biết gì hết. Được
tuệ giác La hán là tự cho đã niết bàn, như kẻ kiếm sống
cực nhọc nên chỉ được chút ít mà tự cho đã đủ. Trong
khi đó chí nguyện nói trên vẫn còn y nguyên. Ngày nay đức
Thế Tôn thức tỉnh chúng con, dạy rằng cái mà chư vị được
chưa phải niết bàn. Bạch đức Thế Tôn, ngày nay chúng con
mới biết mình thật là bồ tát, được nhận lời ghi về
tuệ giác vô thượng. Do vậy mà chúng con cùng cực hoan hỷ,
được sự chưa từng có.
__________
Phẩm
9:
Thọ
ký cho các vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất
Lúc ấy các tôn
giả A Nan Đà và La Hầu La đều nghĩ, nếu được đức Thế
Tôn thọ ký thì thích thú biết bao. Các tôn giả đến trước
đức Thế Tôn, đầu mặt lạy ngang chân ngài và cùng thưa,
bạch đức Thế Tôn, trong sự thọ ký chúng con cũng đáng
có phần. Chúng con được chư thiên, nhân loại và tu la, ai
cũng biết đến. Nếu đức Thế Tôn thọ ký cho chúng con thì
ước nguyện của chúng con đã đạt mà ước vọng của các
chúng cũng thỏa. Bấy giờ 2000 vị đệ tử thanh văn của
đức Thế Tôn mà sự tu học đang tiếp tục hay đã hoàn tất,
cũng đều đứng dậy, đến trước đức Thế Tôn, chuyên
chú mà chắp tay chiêm ngưỡng, cùng biểu lộ sự ước nguyện
như ước nguyện của các tôn giả A Nan Đà và La Hầu La.
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo tôn giả A Nan Đà, vị lai tôn giả sẽ được thành
Phật với danh hiệu Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương, đủ
10 đức hiệu. Tôn giả sẽ phụng sự hàng ức chư vị Phật
đà, coi giữ kho tàng chánh pháp của các ngài, sau đó thực
hiện tuệ giác vô thượng, giáo hóa bồ tát nhiều bằng hàng
ức hằng sa. Quốc độ tên là Ngọn Cờ Siêu Việt thường
dựng cao lên, toàn cõi trong sạch. Thời kỳ tên là Âm Thanh
Tinh Túy vang dội khắp cả. Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương
Như Lai sống lâu hàng ức thời kỳ, giáo pháp nguyên chất
tồn tại gấp đôi sống lâu, giáo pháp tương tự tồn tại
gấp đôi giáo pháp nguyên chất. Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông
Vương Như Lai được hằng sa Như Lai khắp cả mười phương
cùng nhau ca tụng tán dương thành quả của ngài.
Bấy giờ trong
đại hội có hàng ngàn vị bồ tát mới phát tâm cùng nghĩ,
đến như chư vị đại bồ tát mà chúng ta cũng không nghe
thấy được thọ ký như vầy, vì nguyên nhân nào mà chư vị
thanh văn lại được phán quyết như vậy? Đức Thế Tôn biết
ý nghĩ ấy nên bảo, chư thiện nam tử, Như Lai cùng với tôn
giả A Nan Đà đã từng ở nơi đức Không Vương Như Lai đồng
thời phát ra tâm chí mong cầu tuệ giác vô thượng. Nhưng
tôn giả thường thích đa văn, còn Như Lai thường siêng tinh
tiến, nên Như Lai thành tựu tuệ giác vô thượng mà tôn giả
coi giữ kho tàng chánh pháp của Như Lai. Tôn giả ấy cũng
coi giữ kho tàng chánh pháp của chư Phật vị lai. Bản nguyện
của tôn giả là như vậy nên được thọ ký như trên.
Tôn giả A Nan
Đà đích thân nghe lời đức Thế Tôn thọ ký cho thì tức
khắc nhớ được kho tàng chánh pháp của vô lượng chư Phật
quá khứ như thể hiện tại mới nghe, lại nhớ được cả
bản nguyện của mình phương tiện làm thị giả để coi giữ
chánh pháp của chư Phật.
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo tôn giả La Hầu La, trong vị lai, tôn giả sẽ được
thành Phật với danh hiệu Đạp Thất Bảo Hoa Như Lai, đủ
10 đức hiệu. Tôn giả sẽ phụng sự chư Phật bằng vi trần
của hàng chục thế giới và cũng làm trưởng tử của các
ngài. Sự huy hoàng của quốc độ, số lượng thời kỳ sống
lâu, đệ tử được giáo hóa, giáo pháp nguyên chất và giáo
pháp tương tự, tất cả điều này của đức Đạp Thất
Bảo Hoa Như Lai đều giống như của đức Sơn Hải Tuệ Tự
Tại Thông Vương Như Lai. Tôn giả cũng sẽ làm trưởng tử
của ngài. Và qua thì gian ấy rồi sẽ được tuệ giác vô
thượng.
Đức Thế Tôn
lại thấy 2000 vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất tâm
ý của họ mềm dịu, vắng lặng, trong suốt, chuyên chú nhìn
ngài, nên ngài bảo tôn giả A Nan Đà, tôn giả thấy các vị
này chăng? Các vị sẽ phụng sự chư Phật nhiều bằng vi
trần của hàng chục thế giới, kính trọng, coi giữ kho tàng
chánh pháp của các ngài, và cuối cùng thì đồng thời thành
Phật ở khắp mười phương quốc độ, với danh hiệu đồng
nhất là Bảo Tướng Như Lai, đủ 10 đức hiệu. Lại cùng
sống lâu một thời kỳ. Sự tráng lệ của quốc độ, chúng
thanh văn và chúng bồ tát, giáo pháp nguyên chất và giáo pháp
tương tự, tất cả điều này cũng đồng đẳng. Lại cũng
đồng đẳng giáo hóa cứu độ mười phương chúng sinh, và
rồi dần dần nhập vào niết bàn.
Bấy giờ 2000
vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất nghe đức Thế Tôn
thọ ký cho như vậy, ai cũng hoan hỷ, phấn chấn, cùng thưa,
bạch đức Thế Tôn, chúng con nghe được tiếng ngài thọ
ký, tâm thức tràn ngập hoan hỷ, y như được rưới nước
cam lộ.
__________
Phẩm
10:
Người
diễn giảng Pháp Hoa
Khi ấy đức Thế
Tôn qua đại bồ tát Dược Vương mà nói với hàng vạn đại
sĩ, rằng Dược Vương, đại sĩ hãy nhìn, đại hội này có
vô lượng 8 bộ, 4 chúng, có những người cầu tuệ giác Thanh
văn, cầu tuệ giác Duyên giác hay cầu tuệ giác Phật đà.
Các chúng như thế này hiện ở trước Như Lai mà nghe Pháp
Hoa, thì Như Lai thọ ký cho tất cả sẽ được tuệ giác vô
thượng. Dược Vương, sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có người
nào nghe kinh Pháp Hoa thì Như Lai cũng thọ ký cho như vậy.
Nếu có người
nào đối với kinh Pháp Hoa mà biết tiếp nhận ghi nhớ, đọc
xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, giảng nói cho người,
sao chép ấn hành...; hoặc đối với cuốn kinh Pháp Hoa mà
thôi mà biết kính và nhìn như kính và nhìn Như Lai, hiến
cúng bằng các loại hoa, vòng hoa, các hương liệu, lọng dù,
tràng phan, kịch nhạc, vải lụa bao bọc..., thì Dược Vương,
hãy coi những người này như đã phụng sự rất nhiều chư
vị Phật đà. Người nào có thể tiếp nhận kính giữ kinh
Pháp Hoa này thì hãy nên coi người ấy chính là Như Lai phái
đến; thì phải nên coi người ấy là người đã được tự
do chỗ họ muốn sinh, có thể sinh trong thời kỳ dữ dội
mà nói rộng rãi Pháp Hoa tối thượng. Sau khi Như Lai nhập
niết bàn rồi, trong thời dữ dội người nào có thể tiếp
nhận kính giữ kinh Pháp Hoa này thì ai cũng nên kính như kính
Phật. Thời dữ sau này ai có năng lực kính giữ kinh Pháp
Hoa này, thì người ấy là sứ giả của Như Lai phái đến
trong loài người này để làm công việc của Như Lai.
Khi ấy đức Thế
Tôn lại bảo Dược Vương đại sĩ, bao nhiêu kinh pháp của
Như Lai tuyên thuyết, kinh Pháp Hoa này rất khó tin khó hiểu.
Dược Vương, Pháp Hoa là kho tàng bí yếu của chư Phật, được
chư Phật giữ gìn, từ trước đến nay Như Lai chưa hề nói
đến một cách minh bạch. Cho nên Dược Vương, đại sĩ nên
biết, sau khi Như Lai nhập diệt, ai có năng lực sao chép ấn
hành, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được
thuộc lòng, tôn kính hiến cúng, giảng nói cho người..., thì
người ấy được Như Lai đem pháp y mà che phủ, lại được
chư vị Như Lai hiện tại ở các quốc độ khác cùng giữ
gìn cho, nên người ấy có được sức mạnh của đức tin
vĩ đại, sức mạnh của chí nguyện, và sức mạnh của các
gốc rễ pháp lành. Nên biết người ấy cư ngụ cùng tăng
xá với Như Lai, được Như Lai đưa tay xoa đầu.
Những người
cầu tuệ giác Phật đà mà thấy nghe kinh Pháp Hoa, thấy nghe
rồi tin tưởng, lý giải, tiếp nhận, ghi nhớ, thì biết những
người ấy đã được đến gần tuệ giác vô thượng. Dược
Vương, ví như có người đang khát, cần nước, nên ở chỗ
cao nguyên đào đất mà tìm. Ra công liên tục, dần dần thấy
đất ướt rồi thấy đất bùn, thì lòng họ biết chắc đã
gần đến nước. Bồ tát cũng vậy, nếu nghe, hiểu, tư duy
và tu tập được Pháp Hoa, thì nên biết chắc chắn đã đến
gần tuệ giác vô thượng. Tại sao, vì tuệ giác vô thượng
của hết thảy bồ tát tìm cầu đều ở trong Pháp Hoa. Pháp
Hoa mở phương tiện mà chỉ thật tướng. Kho tàng Pháp Hoa
sâu, chắc, kín và xa, không ai thấu được. Như Lai ngày nay
vì giáo hóa tác thành cho các vị bồ tát mới mở ra, chỉ
cho. Dược Vương, nếu bồ tát nghe Pháp Hoa mà kinh sợ ngờ
vực thì đó là bồ tát mới phát tâm, còn thanh văn nghe Pháp
Hoa mà kinh sợ ngờ vực thì đó là kẻ tăng thượng mạn.
Dược Vương,
sau khi Như Lai nhập diệt, thiện nam hay thiện nữ nào muốn
diễn giảng Pháp Hoa cho 4 chúng, thì phải làm sao mới nên
diễn giảng? Dược Vương, thiện nam hay thiện nữ ấy phải
vào nhà của Như Lai là đại từ bi, phải mặc áo của Như
Lai là đức nhẫn nhục, phải ngồi chỗ của Như Lai là nguyên
lý Không. Phải như vậy mới nên diễn giảng Pháp Hoa, bản
kinh vua các kinh, bản kinh xác quyết cho chư vị thanh văn. Diễn
giảng Pháp Hoa mà ai thóa mạ, hành hung, thì hãy nhớ Như Lai
mà nhẫn. Người nào đủ hết 3 pháp nói trên thì diễn giảng
hay đọc tụng Pháp Hoa đều thấy được Như Lai. Và diễn
giảng Pháp Hoa mà người nghe hoan hỷ là do Như Lai hộ trì.
_________
Phẩm
11:
Bảo
tháp xuất hiện
Vào lúc bấy giờ,
trước đức Thế Tôn, một ngôi bảo tháp bằng bảy chất
liệu quí báu, cao và lớn, từ đất vọt lên, đứng trong
không gian. Bảo tháp được trang hoàng bằng đủ thứ bảo
vật. Từ trong bảo tháp xuất ra âm thanh rất lớn, tán dương
rằng tốt lắm, thưa đức Thích Ca Thế Tôn; ngài có thể
tuyên thuyết cho đại hội các chúng như thế này về kinh
Pháp Hoa của tuệ giác bình đẳng vĩ đại, bản kinh dạy
cho bồ tát và được Phật giữ gìn. Thật đúng như vậy,
thưa đức Thích Ca Thế Tôn; những điều ngài tuyên thuyết
toàn là chân thật.
Bấy giờ 4 chúng
đã thấy bảo tháp vĩ đại đứng trong không gian, lại nghe
âm thanh xuất ra từ bảo tháp ấy, thì ai cũng được sự
vui đẹp về chánh pháp, và ngạc nhiên thấy là sự chưa từng
có, nên cùng đứng dậy khỏi chỗ mình ngồi, cung kính chắp
tay mà đứng mãi với một tư thế ấy. Lúc này có vị đại
sĩ danh hiệu là Đại Lạc Thuyết, bạch đức Thích Ca Thế
Tôn, vì lý do nào mà ngôi bảo tháp như vầy từ đất vọt
lên, và trong đó phát ra âm thanh vừa rồi? Đức Thế Tôn
bảo, Đại Lạc Thuyết, trong ngôi bảo tháp này có toàn thân
của một đức Phật đà. Thì quá khứ, ở phương dưới,
có một quốc độ tên là Bảo Tịnh, đức Phật giáo chủ
danh hiệu là Đa Bảo Phật đà. Khi còn đi trên đường đi
của bồ tát, ngài phát lời nguyện trọng đại, nguyện rằng
nếu được trở thành Phật đà thì sau khi nhập diệt, trong
mười phương quốc độ, chỗ nào có Phật nói kinh Pháp Hoa,
bảo tháp của Như Lai cũng sẽ xuất hiện trước chỗ ấy
để nghe kinh ấy, và làm chứng cho kinh ấy bằng cách tán
dương rằng tốt lắm. Khi thành Phật đà rồi, lúc sắp nhập
diệt, đức Đa Bảo Phật đà ở giữa đại hội chư thiên
nhân loại mà tuyên cáo chư vị tỷ kheo, rằng khi Như Lai nhập
diệt rồi, ai muốn hiến cúng toàn thân của Như Lai thì nên
chung nhau xây dựng một ngôi bảo tháp cho vĩ đại. Rồi đức
Đa Bảo Phật đà vận dụng sức mạnh thần thông và sức
mạnh đại nguyện, bất cứ chỗ nào trong mười phương quốc
độ có Phật tuyên thuyết Pháp Hoa, bảo tháp của ngài cũng
xuất hiện ở trước, và toàn thân của ngài ở trong bảo
tháp tán dương rằng tốt lắm. Đại Lạc Thuyết, hôm nay
đức Đa Bảo Phật đà nghe Như Lai tuyên thuyết Pháp Hoa nên
bảo tháp của ngài xuất hiện mà tán dương rằng tốt lắm.
Đại Lạc Thuyết
đại sĩ lúc ấy bạch đức Thế Tôn, chúng con ước muốn
được nhìn thấy toàn thân của đức Đa Bảo Phật đà. Đức
Thế Tôn bảo, Đại Lạc Thuyết, đức Đa Bảo Phật đà còn
có lời nguyện sâu xa và trọng đại nữa, nguyện rằng khi
bảo tháp của Như Lai xuất hiện trước các đức Phật để
nghe Pháp Hoa, nếu đức Phật nào muốn đem toàn thân của
Như Lai chỉ cho 4 chúng, thì chư Phật phân thân của đức
Phật ấy đang thuyết pháp giáo hóa ở khắp mười phương
quốc độ đều qui tụ lại một chỗ, bấy giờ toàn thân
của Như Lai mới xuất hiện. Đại Lạc Thuyết, chư Phật
phân thân của Như Lai hiện đang thuyết pháp ở mười phương
quốc độ, hôm nay Như Lai cũng nên chiêu tập. Đại Lạc Thuyết
đại sĩ thưa, bạch đức Thế Tôn, chúng con cũng ước muốn
được nhìn thấy chư Phật phân thân của đức Thế Tôn để
lễ bái, hiến cúng.
Khi ấy đức Thế
Tôn phóng một đường hào quang chiếu qua hướng đông. Cả
đại hội tức thì thấy được chư Phật của hằng sa quốc
độ ở hướng ấy, và nghe các ngài thuyết pháp. Hướng đông
như vậy thì các hướng tây nam bắc, 4 góc và trên dưới,
hướng nào hào quang cũng chiếu đến, và cả đại hội cũng
thấy nghe như đã thấy nghe về hướng đông. Chư Phật phân
thân ở mười phương hướng đều bảo các vị bồ tát ở
quốc độ của mình, rằng chư thiện nam tử, Như Lai nay nên
đến quốc độ Kham nhẫn, chỗ đức Thích Ca Thế Tôn, để
cùng hiến cúng ngài và hiến cúng bảo tháp của đức Đa
Bảo Phật đà. Bấy giờ đức Thế Tôn biến quốc độ Kham
nhẫn, và tám phương hướng của quốc độ này ngài lại
2 lần, mỗi lần biến hàng trăm triệu quốc độ của mỗi
phương hướng, suốt hết tất cả quốc độ như vậy cùng
trở thành một tịnh độ, với lưu ly làm đất và trang trí
bằng cây ngọc. Dưới mỗi cây ngọc có một tòa sư tử cũng
bằng ngọc. Che khắp trên tịnh độ này là những màn được
đính kết các thứ ngọc xen nhau và bủa ra. Bảo cái được
treo lên. Đốt lên hương liệu rất quí. Rải khắp mặt đất
là thiên hoa.
Lúc ấy chư Phật
phân thân của đức Thích Ca Thế Tôn ở mười phương hướng
đều đến qui tụ, và ngài nào cũng ngồi trên tòa sư tử
ngọc dưới những cây ngọc. Các ngài ngồi tràn đầy cả
tịnh độ nói trên. Và ngài nào cũng phái vị đại bồ tát
thị giả đến vấn an đức Thế Tôn. Các ngài cầm mà đưa
hoa ngọc cho các vị ấy bưng đầy hai tay, bảo rằng Thiện
nam tử, hãy đến Linh sơn, chỗ đức Thích Ca Thế Tôn, thưa
với ngài đúng như lời của Như Lai, rằng đức Thế Tôn
ít bịnh ít phiền, khí lực yên vui chăng, thanh văn và bồ
tát yên ổn cả chăng. Hãy rải hoa ngọc này mà hiến cúng
ngài, và bạch rằng đức Thế Tôn của con danh hiệu như vậy,
muốn được cùng đức Thế Tôn mở cửa bảo tháp của đức
Đa Bảo Phật đà.
Khi ấy đức Thích
Ca Thế Tôn thấy chư Phật phân thân đã qui tụ, lại nghe
chư Phật ấy muốn được cùng mở cửa bảo tháp, nên ngài
đứng dậy, rời khỏi pháp tòa, đứng trong không gian. Tất
cả 4 chúng, vốn đã đứng lên và chắp tay, bây giờ chăm
chú mà nhìn đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền dùng ngón
tay bên phải mở cửa bảo tháp, làm phát ra âm thanh lớn như
cửa thành lớn được tháo khóa chốt mà mở ra. Tức thì
toàn thể đại hội các chúng đều được thấy đức Đa
Bảo Phật đà ngồi trong bảo tháp, trên tòa sư tử, toàn
thân không rã, y như đang nhập thiền định. Cả đại hội
lại được nghe lời của đức Đa Bảo Phật đà nói, rằng
tốt lắm, thưa đức Thích Ca Thế Tôn, ngài đã tuyên thuyết
một cách thích thú về kinh Pháp Hoa. Tôi đến đây là để
nghe kinh ấy.
Bốn chúng cùng
bao bộ chúng khác, nghe thấy đức Phật nhập diệt hàng ức
thời kỳ rồi mà nói như vậy thì ai cũng ca tụng là sự
chưa từng có. Cả khối hoa quí của chư thiên được họ
đem tung rải trên đức Đa Bảo Phật đà và đức Thích Ca
Thế Tôn. Còn đức Đa Bảo Phật đà thì ở trong bảo tháp
để một nửa pháp tòa của mình nhường cho đức Thích Ca
Thế Tôn mà nói rằng thưa ngài, mời ngài đến ngồi ở đây.
Tức thì đức Thích Ca Thế Tôn vào trong bảo tháp, ngồi trên
một nửa pháp tòa, cũng theo cách ngồi xếp bằng. Cả đại
hội các chúng thấy hai ngài cùng ngồi xếp bằng trên pháp
tòa sư tử ở trong bảo tháp, thì nghĩ rằng hai ngài ngồi
cao xa quá, xin đức Thế Tôn dùng sức mạnh thần thông mà
làm cho chúng con cũng được lên ở trên không gian. Tức thì
đức Thích Ca Thế Tôn làm cho cả đại hội các chúng được
như nguyện, rồi đem âm thanh vĩ đại mà phổ cáo toàn thể,
rằng ai là người có thể ở trong quốc độ Kham nhẫn này
mà giảng nói rộng rãi về kinh Pháp Hoa, thì bây giờ chính
là lúc nên nói ra. Pháp Hoa là bậc nhất, giữ được Pháp
Hoa là giữ được toàn thân Như Lai. Chư thiện nam thiện nữ,
hãy nghĩ cho kỹ: đó là trách vụ khó khăn, các người nên
phát nguyện mà đảm nhận.
_______
Phẩm
12:
Đề
Bà Đạt Đa
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo đại hội, quá khứ Như Lai đã cầu Pháp Hoa trong
nhiều thời kỳ. Như Lai thường làm quốc vương, nguyện cầu
sự thấy biết của Phật, lòng không thoái lui hay lệch khỏi
mục đích ấy. Tính mạng cũng không tiếc, nên quốc vương
từ bỏ ngôi vua, cần cầu chánh pháp, rằng ai nói được
cho ta về đại thừa thì ta phụng sự suốt đời. Có một
tiên nhân đến nói tôi biết Pháp Hoa. Quốc vương thực hành
được thì tôi dạy cho. Quốc vương rất mừng, tức thì đi
theo, phụng sự mọi điều vị ấy cần đến. Cả ngàn năm,
vì chánh pháp mà quốc vương tinh chuyên, cung đốn hầu hạ
tiên nhân, không thiếu sót điều gì. Dồn hết tâm tình vào
pháp tinh túy nên cả thân tâm không nhác không mệt. Khắp
vì bao loại chúng sinh mà nỗ lực cầu pháp vĩ đại, chứ
không vị gì bản thân hay thú vui ngũ dục. Do đó mà được
thành Phật, và nay cố đem cái pháp như vậy nói cho các người.
Đức Thế Tôn
bảo chư vị tỷ kheo, quốc vương lúc ấy nay là Như Lai, còn
vị tiên nhân ấy nay là Đề Bà Đạt Đa. Do người bạn tốt
Đề Bà Đạt Đa mà Như Lai hoàn thành hết thảy thành quả
của Phật đà. Như Lai đủ hết sức mạnh thần thông, sức
mạnh tuệ giác, trở thành bậc toàn giác, hóa độ sâu rộng,
toàn là do người bạn tốt Đề Bà Đạt Đa. Như Lai nay tuyên
cáo với tất cả, rằng Đề Bà Đạt Đa sau này qua rất nhiều
thời kỳ rồi sẽ thành Phật đà, danh hiệu Thiên Vương Như
Lai, đủ mười đức hiệu. Ngài tồn tại nhiều thời kỳ
bậc giữa, tuyên thuyết cho chúng sinh một cách rộng rãi về
chánh pháp tinh túy, làm cho chúng sinh được tuệ giác La hán,
tuệ giác Duyên giác, tuệ giác Phật đà. Ngài nhập niết
bàn rồi, giáo pháp nguyên chất cũng tồn tại nhiều thời
kỳ bậc giữa, xá lợi toàn thân được xây dựng tôn thờ
trong ngôi tháp bằng bảy chất quí, rất cao và lớn. Chư thiên,
nhân loại, ai cũng đem bông hoa và hương liệu, kịch nhạc
và thi ca, mà hiến cúng bảo tháp, và sự hiến cúng này làm
cho bao loại chúng sinh được tuệ giác La hán, tuệ giác Duyên
giác, tuệ giác Phật đà, làm cho vô lượng chúng sinh phát
đại bồ đề tâm, đến bậc không còn thoái chuyển.
Chư vị tỷ kheo,
trong thì vị lai, thiện nam hay thiện nữ nào nghe được phẩm
Đề Bà Đạt Đa này của kinh Pháp Hoa mà lòng trong sáng, tin
kính cẩn, không ngờ vực, không lầm lẫn, thì người ấy
không sa vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, mà lại sinh trong
nhân loại, chư thiên, hay sinh trước chư Phật ở bất cứ
phương hướng nào. Và sinh ở đâu cũng thường được nghe
Pháp Hoa. Sinh trong nhân loại hay chư thiên thì hưởng thụ
sự yên vui tuyệt diệu và hơn hết, còn sinh trước chư Phật
thì hóa sinh bằng hoa sen.
*
Bấy giờ Trí
Tích, vị bồ tát thị tùng đức Đa Bảo Phật đà, bạch
với ngài hãy trở về quốc độ của mình. Đức Thích Ca
Thế Tôn bảo bồ tát Trí Tích, thiện nam tử, hãy chờ một
lát. Quốc độ nay có vị bồ tát tên là Văn Thù, các vị
đáng gặp nhau, luận thuyết chánh pháp tinh túy rồi về. Bấy
giờ bồ tát Văn Thù ngồi trên hoa sen có cả ngàn cánh, lớn
như bánh xe, các vị bồ tát tùy tùng cũng vậy, và từ Diêm
Hải long cung đột nhiên vọt lên, lên cao trong không gian, lướt
đến Linh sơn, bước xuống hoa sen, lại chỗ đức Thích Ca
Thế Tôn và đức Đa Bảo Phật đà, kính lạy hai ngài, rồi
bước qua chỗ bồ tát Trí Tích, hỏi thăm nhau và ngồi một
bên. Bồ tát Trí Tích hỏi, nhân giả đến long cung giáo hóa
được mấy người? Bồ tát Văn Thù nói vô lượng, xin đợi
một chút sẽ có chứng cứ. Nói chưa xong thì có nhiều vị
bồ tát cũng ngồi hoa sen quí, từ biển vọt lên, lướt đến
Linh sơn, ở trong không gian. Các vị này do bồ tát Văn Thù
hóa độ, nguyên là thanh văn mà nay ai cũng thực hành nguyên
lý Không của đại thừa. Bồ tát Văn Thù nói sự giáo hóa
của tôi là như vậy. Bồ tát Trí Tích khen mà hỏi, ngài diễn
giảng thật tướng như thế nào mà làm cho các vị này được
như vậy? Bồ tát Văn Thù nói, tôi thường tuyên thuyết Pháp
Hoa. Bồ tát Trí Tích nói, kinh ấy sâu xa, trong biển cả có
hay không có ai thực hành được và thành Phật một cách mau
chóng? Bồ tát Văn Thù nói có, Long nữ của Diêm Hải Long
vương mới 8 tuổi mà trong chốc lát đủ năng lực thực hiện
tuệ giác vô thượng. Bồ tát Trí Tích nói, đức Thích Ca
Thế Tôn trải qua vô lượng thời kỳ, xả bỏ thân mạng
vì chúng sinh, sau đó mới trở thành Phật đà. Tôi không tin
Long nữ nào đó trong khoảnh khắc mà làm được như vậy.
Nói bàn chưa xong, Long nữ đột nhiên xuất hiện trước mặt,
kính lạy đức Thế Tôn rồi tán dương ngài, rằng đức Thế
Tôn thấu triệt thật tướng của tội phước, ai cũng tôn
thờ như bậc đồng tông. Ngài Văn Thù nói con chóng thành
tuệ giác vô thượng, việc này chỉ có đức Thế Tôn chứng
biết cho con. Lúc ấy tôn giả Xá Lợi Phất nói với Long nữ,
rằng thiện nữ nói có thể thành Phật mau chóng, việc này
thật khó tin. Tại sao, vì thân thể nữ nhân không phải là
vật dụng chứa đựng chánh pháp, lại không được làm Phạn
vương, Đế thích, Ma vương, Luân vương, Phật thân, như vậy
thiện nữ làm sao thành Phật mà lại thành Phật mau chóng?
Long nữ có một viên ngọc quí, giá bằng cả thế giới đại
thiên. Bấy giờ Long nữ hai tay nâng viên ngọc ấy hiến lên
đức Thế Tôn. Ngài nhận liền. Long nữ thưa bồ tát Trí
Tích và tôn giả Xá Lợi Phất, con hiến ngọc quí, đức Thế
Tôn nhận cho con, việc này mau chóng không? Rất mau chóng, 2
ngài trả lời như vậy. Long nữ thưa, đem thần lực của
các ngài nhìn sự thành Phật của con, thì sự ấy còn mau
hơn việc này. Tức thì toàn thể đại hội lúc ấy cùng thấy
trong khoảnh khắc đột nhiên, Long nữ biến thành nam tử,
đầy đủ phong cách bồ tát, lướt qua thế giới hệ Vô cấu
ở hướng nam, ngồi trên đài sen quí, thành bậc Biết đúng
và khắp, với cái thân đủ cả 32 tướng quí và 80 vẻ đẹp,
tuyên thuyết chánh pháp tinh túy cho chúng sinh mười phương.
Tại quốc độ Kham nhẫn này, cả đại hội từ xa thấy sự
thành Phật và thuyết pháp của Long nữ, thì tâm thần người
nào cũng rất hoan hỷ, vọng xa mà lạy. Thế giới hệ Vô
cấu thì vô lượng chúng sinh nghe pháp đều lý giải, tỏ
ngộ được sự không thoái chuyển, vô lượng chúng sinh nữa
được thọ ký về tuệ giác vô thượng, và thế giới ấy
chấn động đủ cả 6 cách. Thế giới hệ Kham nhẫn thì ba
ngàn người đứng vào vị trí không thoái chuyển, ba ngàn
người nữa phát triển tuệ giác vô thượng và được thọ
ký về tuệ giác ấy. Bồ tát Trí Tích, tôn giả Xá Lợi Phất,
và cả đại hội, đều yên lặng mà tin nhận.
__________
Phẩm
13:
Kính
giữ Pháp Hoa
Lúc ấy Dược
Vương đại sĩ, Đại Lạc Thuyết đại sĩ, và bao nhiêu bồ
tát tùy thuộc, cùng đối trước đức Thế Tôn mà phát nguyện
như vầy: Kính xin đức Thế Tôn đừng lo nghĩ. Sau khi đức
Thế Tôn nhập diệt, chúng con nguyện kính giữ Pháp Hoa. Con
người trong thời kỳ dữ dội sau này tuy khó giáo hóa, chúng
con vẫn nổi dậy sức mạnh của sự ẩn nhẫn lớn lao mà
kính giữ Pháp Hoa. Chúng con không tiếc tính mạng trong việc
kính giữ ấy.
Trong đại hội,
500 vị La hán và 8000 vị tu học tiếp tục và tu học hoàn
tất, đã được thọ ký, cũng đứng dậy, chắp tay hướng
về đức Thế Tôn, thệ nguyện sẽ ở tại các quốc độ
khác mà diễn giảng Pháp Hoa.
Bấy giờ di mẫu
của đức Thế Tôn là tỷ kheo ni Đại Thắng Sinh Chủ, cùng
6000 tỷ kheo ni tu học tiếp tục và tu học hoàn tất, cùng
đứng dậy, chuyên chú chắp tay mà chiêm ngưỡng đức Thế
Tôn. Ngài bảo, Đại Thắng Sinh Chủ, tại sao bà ưu tư mà
nhìn Như Lai? Bà nghĩ Như Lai không gọi tên bà mà thọ ký
chăng? Đại Thắng Sinh Chủ, trước đây Như Lai đã nói tổng
quát, rằng hết thảy thanh văn đều được thọ ký. Nay bà
muốn biết sự thọ ký ấy thì, vị lai, trong chánh pháp của
hàng ức đức Phật, bà và 6000 vị tỷ kheo ni cùng làm những
nhà diễn giảng vĩ đại, và bằng cách này mà bà hoàn thiện
một cách đều đặn đường đi của bồ tát, trở thành một
đức Phật đà danh hiệu Nhất Thế Chúng Sinh Hỷ Kiến Như
Lai, đủ 10 đức hiệu. Đại Thắng Sinh Chủ, đức Nhất Thế
Chúng Sinh Hỷ Kiến Như Lai sẽ cùng 6000 vị bồ tát tuần
tự thọ ký cho nhau mà thành tựu tuệ giác vô thượng. Bấy
giờ thân mẫu của tôn giả La Hầu La là tỷ kheo ni Trì Dự,
cũng được đức Thế Tôn bảo, Trì Dự, vị lai bà sẽ ở
trong chánh pháp của hàng ức đức Phật mà làm việc làm
của bồ tát, bằng cách cũng làm nhà diễn giảng vĩ đại,
đều đặn và hoàn tất đường đi của Phật, rồi được
thành Phật tại cõi Thiện quốc, với danh hiệu Cụ Túc Thiên
Vạn Quang Tướng Như Lai, đủ mười đức hiệu, sống lâu
vô lượng.
Các vị tỷ kheo
ni Đại Thắng Sinh Chủ và Trì Dự, cùng những người tùy
thuộc, bấy giờ ai cũng hoan hỷ cùng cực, tức thì đối
trước đức Thế Tôn mà thưa, rằng bạch ngài, bậc thầy
đem lại sự an ủi cho tất cả! Chúng con được ngài thọ
ký cho, trong lòng ổn định hoàn toàn. Thưa rồi lại phát
nguyện tuyên thuyết Pháp Hoa tại các quốc độ khác.
Khi ấy đức Thế
Tôn nhìn vào rất nhiều bồ tát đại sĩ. Các vị toàn là
bậc Không thoái chuyển, có thể chuyển đẩy bánh xe chánh
pháp Không thoái chuyển. Khi đức Thế Tôn nhìn vào, các vị
liền đứng dậy, đến trước ngài, tập trung tâm trí, chắp
hai tay lại, suy nghĩ như vầy: Nếu đức Thế Tôn phán bảo
chúng ta duy trì và công bố Pháp Hoa, thì chúng ta sẽ làm đúng
như lời ngài. Nhưng ngài yên lặng, vậy chúng ta phải làm
gì? Kính thuận tình ý của đức Thế Tôn, lại muốn viên
mãn tâm nguyện của mình, nên đối trước ngài, các vị cất
tiếng nói uy dũng như tiếng sư tử gầm mà phát nguyện như
vầy: Bạch đức Thế Tôn, sau khi ngài nhập diệt, chúng con
sẽ qua lại mười phương thế giới, đem hết năng lực mà
làm cho chúng sinh, đối với kinh Pháp Hoa, biết sao chép ấn
hành, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được
thuộc lòng, giảng giải ý nghĩa, làm đúng kinh dạy, nhớ
nghĩ chính xác... Chúng con làm được như vậy toàn là nhờ
uy lực của đức Thế Tôn. Kính xin đức Thế Tôn ở đâu
cũng chăm sóc che chở cho chúng con. Các vị lại thưa, sau này,
trong thời kỳ khủng bố tàn ác, chúng con thệ nguyện tuyên
thuyết Pháp Hoa. Ai thóa mạ hành hung, chúng con cũng nguyện
ẩn nhẫn. Họ nói chúng con ham danh lợi nên nói thuyết ngoại
đạo. Họ cũng bày ra diễn giảng Pháp Hoa, và nói chúng con
lấy thuyết của họ. Kính tin Thế Tôn, chúng con không tiếc
tính mạng, ẩn nhẫn mà bảo tồn Pháp Hoa của đức Thế
Tôn ký thác. Là sứ giả của đức Thế Tôn, chúng con đi
đến khắp nơi, nói cho những ai cần cầu Pháp Hoa. Thỉnh
cầu đức Thế Tôn, đức Đa Bảo, và chư Phật phân thân,
chứng biết cho thệ nguyện của chúng con.
_________
Phẩm
14:
Sống
yên vui
Vào lúc bấy giờ,
Văn Thù đại sĩ bạch với đức Thế Tôn, rằng các vị đại
sĩ này thật hiếm có. Các vị kính thuận đức Thế Tôn nên
phát ra thệ nguyện cao cả, nguyện ở trong thời kỳ dữ dội
sau này mà kính giữ Pháp Hoa. Nhưng, bạch đức Thế Tôn, bồ
tát đại sĩ ở trong thời kỳ dữ dội sau này, làm thế nào
để diễn giảng Pháp Hoa? Đức Thế Tôn dạy, muốn diễn
giảng Pháp Hoa thì phải đặt mình vững chắc vào 4 cách sống
yên vui.
Cách sống yên
vui thứ nhất là đặt mình vững chắc vào phạm vi đi và
phạm vi thân của bồ tát. Phạm vi đi của bồ tát có hai.
Một là, bồ tát đi trong đường đất nhẫn nhục: ôn hòa,
khéo thuận, không thô bạo, không kinh hoảng. Hai là, đối
với các pháp, bồ tát chỉ nhìn thật tướng, không đi theo
sự phân biệt mà cũng không đi theo sự không phân biệt. Như
vậy gọi là phạm vi đi của bồ tát. Phạm vi thân của bồ
tát cũng có hai. Một là, bồ tát không thân gần chính quyền
hay quan chức của chính quyền. Không thân gần tu sĩ ngoại
đạo. Không thân gần tác giả văn phẩm, thi phẩm và nhạc
phẩm trần tục. Không thân gần những kẻ theo chủ thuyết
xuôi với đời hay ngược với đời. Không thân gần những
kẻ chơi những trò chơi hung hãn, những kẻ hóa trang, ảo
thuật. Không thân gần những kẻ đao phủ, những kẻ làm
nghề ác. Những kẻ trên đây có khi đến với bồ tát, thì
bồ tát nên thuyết pháp cho họ mà không ước vọng danh lợi.
Lại không thân gần tỷ kheo ni ưa thích cười giởn, hay nữ
tín đồ quá ham lạc thú, và coi việc này như tìm niết bàn
ngay trong hiện tại. Cũng không thân gần những vị cầu niết
bàn của thanh văn. Khi họ đến với bồ tát thì bồ tát tùy
nghi thuyết pháp mà không ước vọng danh lợi. Đối với người
khác phái, bồ tát không vì những hình dáng phát sinh tư tưởng
về dục mà thuyết pháp cho họ, cũng không thích gặp. Đến
nhà người, đừng nói chuyện với người khác phái. Đừng
thân gần với những người lại cái. Đừng một mình đi
vào những chỗ dân cư hay đi đến nhà người; có lý do phải
đi thì đi với một vị tỷ kheo khác, không có vị tỷ kheo
thì phải chuyên tâm nghĩ nhớ đến Phật. Thuyết pháp cho
người khác phái thì đừng ngồi chỗ khuất, đừng đùa giởn,
đừng cười bày răng, đừng để hở ngực, và đến nỗi
vì chánh pháp cũng không thân thiết với họ, huống chi vì
gì khác. Thường ưa tỉnh tọa, ở chỗ thanh giản, tập trung
mà sửa chửa tâm mình. Hai, bồ tát xét thấy các pháp toàn
là Không, chỉ do sự tương quan mà có _ Toàn là Không, vì
thấy thật tướng các pháp: không thác loạn, không dao động,
không suy thoái, không chuyển biến; vì thấy như hư không:
tư duy không thấu, mô tả không đạt, không khái niệm, không
danh từ; vì thấy thật là không thật: không số lượng, không
giới hạn, không trở ngại, không ngăn cách. Bồ tát thường
thích quán sát về thật tướng như vậy. Và như vậy gọi
là chỗ đi và chỗ thân, bồ tát nhờ hai chỗ ấy mà thuyết
pháp yên vui.
Cách sống yên
vui thứ hai là miệng chỉ diễn giảng hay đọc tụng kinh điển,
không thích nói nhược điểm của người, của kinh điển.
Không khinh ngạo các vị diễn giảng khác. Không nói những
sự tốt xấu giỏi dở của mọi người. Đối với thanh văn,
không đem tên ra mà nói xấu hay khen tốt. Tâm lý oán ghét
hiềm khích không hề nổi dậy, vì phải khéo tu cái tâm yên
vui. Ai muốn nghe pháp, cũng không nghịch ý họ. Họ hỏi gì
thì không trả lời bằng giáo pháp cỗ xe thấp nhỏ, chỉ
đem giáo pháp cỗ xe vĩ đại mà giảng giải, làm cho họ rồi
ra ai cũng đạt được tuệ giác Biết tất cả. Có ai gạn
hỏi thì đáp theo nghĩa lý, yếu tố, ví dụ, diễn giảng,
phân tích, dùng những cách này làm họ phát tâm, tăng dần
cái lợi ích nhập vào tuệ giác Phật đà. Hãy loại bỏ sự
biếng nhác, tách xa sự bực dọc, đem tâm từ bi mà thuyết
chánh pháp. Ngày đêm thường thuyết chánh pháp vô thượng,
đem mọi yếu tố và lắm ví dụ mà khai thị cho người, làm
ai cũng vui. Đồ mặc, đồ nằm, đồ ăn, đồ uống, dược
phẩm, đối với tất cả những thứ như vậy không mong ước
gì. Chỉ một tâm nguyện, nguyện nhờ thuyết pháp mà mình
với người cùng được thành Phật, và đó chính là lợi
ích, lạc thú, là sự hiến cúng lớn lao. Như Lai nhập diệt
rồi, vị tỷ kheo bồ tát diễn giảng Pháp Hoa thì lòng không
còn ganh tị, tức bực, không bị quấy phá, trở ngại, không
còn lo rầu, không bị thóa mạ, hành hung, khủng bố, xua đuổi,
là vì đứng vững trong sự ẩn nhẫn.
Cách sống yên
vui thứ ba là, sau này, trong thời kỳ cuối cùng, khi giáo pháp
sắp ẩn mất, những người kính giữ Pháp Hoa thì đừng ôm
giữ tâm lý ganh ghét, dua nịnh và dối trá. Đừng khinh khi
thóa mạ những người học tập tuệ giác của Phật, đừng
tìm kiếm điều hay cái dở của những người ấy. Đối với
4 chúng tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, đối với
các vị cầu cỗ xe thanh văn, cỗ xe duyên giác, cỗ xe bồ
tát, thì đừng quấy rối, làm cho họ thắc mắc, hối tiếc,
bằng cách nói rằng các người cách xa tuệ giác của Phật,
không bao giờ thực hiện được tuệ giác ấy, vì lẽ đối
với tuệ giác ấy các người là những kẻ bất thường,
biếng nhác. Đừng bàn chơi các pháp, cải cọ lẫn nhau. Đối
với chúng sinh thì nghĩ đến đại bi, đối với Phật đà
thì nghĩ là từ phụ, đối với bồ tát thì nghĩ là đại
sư. Đối với bồ tát mười phương thì tôn kính sâu xa, đối
với chúng sinh đủ loại thì thuyết pháp bình đẳng. Nhưng
thuận với chánh pháp nên không nói nhiều cũng không nói ít,
thậm chí đối với những người ưa thích chánh pháp một
cách sâu xa cũng không vì họ mà nói nhiều. Văn Thù, sau này,
trong thời kỳ cuối cùng, khi giáo pháp sắp ẩn mất, các
vị bồ tát có ai thành tựu cách sống yên vui thứ ba này
thì lúc diễn giảng Pháp Hoa không ai quấy phá được. Người
ấy còn được đồng học rất tốt, chung nhau đọc tụng
Pháp Hoa. Lại được các chúng đến nghe mà nghe thì nhớ,
thì tụng, thì giảng, giảng rồi tự mình sao chép hay khuyên
người sao chép, và hiến cúng cung kính tôn trọng tán dương
đối với cuốn kinh Pháp Hoa. Con Phật như vậy diễn giảng
Pháp Hoa, thường xuyên ôn hòa và hay ẩn nhẫn, từ bi giáo
hóa tất cả các chúng, không hề sinh ra tâm tư biếng nhác.
Cách sống yên
vui thứ tư là, sau này, trong thời kỳ cuối cùng, khi giáo
pháp sắp ẩn mất, bồ tát kính giữ Pháp Hoa thì đối với
những người tại gia xuất gia phải có lòng lành, đối với
những người không phải bồ tát phải có lòng thương. Nên
nghĩ như vầy: những người ấy mất mát rất lớn nếu không
nghe không biết không hay, không hỏi không tin không hiểu gì
về sự phương tiện tùy nghi thuyết pháp của đức Thế Tôn,
nghĩa là không hỏi không tin không hiểu gì về Pháp Hoa. Dầu
vậy, ta vẫn nguyện rằng khi được tuệ giác vô thượng
rồi, tùy những người này ở vào bất cứ vị trí nào, ta
cũng đem thần thông lực và trí tuệ lực mà dẫn dắt cho
họ được đứng vào trong Pháp Hoa. Văn Thù, sau khi Như Lai
nhập diệt, bồ tát có ai thành tựu cách sống yên vui thứ
tư này thì diễn giảng Pháp Hoa không có lầm lỗi, thường
được bốn chúng, và mọi thành phần khác, cùng hiến cúng
cung kính tôn trọng tán dương. Chư thiên ở trong không gian,
vì nghe pháp nên cũng thường xuyên theo hầu. Khi vị ấy ở
những nơi thôn xóm thành thị, hoặc ở những chỗ núi rừng
thanh vắng, có ai đến muốn gạn hỏi, thì chư thiên ngày
đêm thường vì pháp mà hộ vệ vị ấy, làm cho người nghe
ai cũng hoan hỷ. Tại sao, vì Pháp Hoa là bản kinh được sự
giữ gìn của thần lực chư Phật quá khứ vị lai cùng với
hiện tại. Văn Thù, trong vô lượng quốc độ, kinh Pháp Hoa
này đến nỗi cái tên còn khó được nghe đến, huống chi
được nhìn thấy, thọ trì đọc tụng kinh ấy.
Văn Thù, ví như
vị Luân vương hùng cường, muốn sử dụng uy thế làm cho
các nước thần phục. Nhưng các quốc vương không tuân lịnh.
Luân vương phải động binh chinh phạt. Và thấy tướng sĩ
chiến đấu ai có công thì Luân vương mừng, tùy công mà thưởng
bằng cách ban cho đủ thứ cần dùng và hiếm có. Chỉ viên
ngọc sáng trong bối tóc thì không đem cho, vì chỉ trên đỉnh
đầu của Luân vương mới nên có viên ngọc sáng ấy. Văn
Thù, Như Lai cũng vậy, nhờ định lực và tuệ lực mà có
quốc gia chánh pháp, ngự trị ba cõi. Nhưng chúa tể các loại
ma không chịu khuất phục. Tướng sĩ hiền thánh của Như
Lai phải chiến đấu với chúa tể các loại ma ấy. Và ai
có công thì Như Lai hoan hỷ, ở giữa bốn chúng mà nói cho
họ các kinh pháp để họ đẹp dạ, thưởng cho họ bao nhiêu
là tài sản chánh pháp đại loại như thiền định, giải
thoát, căn bản và năng lực thuần khiết, lại ban cho họ
đô thành niết bàn, tuyên ngôn họ được niết bàn để dẫn
đạo cho lòng họ hoan hỷ. Nhưng không nói cho họ kinh Pháp
Hoa này. Văn Thù, vị Luân vương thấy tướng sĩ ai có công
lớn mới rất mừng, và đem viên ngọc sáng, một viên ngọc
khó có ai tin nổi giá trị của nó, từ lâu Luân vương để
trong bối tóc, không bừa bãi cho ai mà nay đem thưởng cho.
Như Lai cũng vậy, làm vị Pháp vương vĩ đại trong cả ba
cõi, đem chánh pháp giáo hóa hết thảy chúng sinh, thấy tướng
sĩ hiền thánh chiến đấu với ma hợp thể, ma phiền não
và ma chết chóc, mà ai có công lớn diệt ba độc, vượt ba
cõi, phá lưới ma, thì bấy giờ Như Lai rất hoan hỷ, và đem
kinh Pháp Hoa, bản kinh có năng lực làm cho chúng sinh đạt
đến tuệ giác của đấng Toàn giác, hết thảy thế gian phần
nhiều oán ghét khó tin, trước đây chưa nói bao giờ mà nay
nói cho. Văn Thù, Pháp Hoa là pháp thoại bậc nhất, và bí
mật của chư Phật. Trong các pháp thoại, Pháp Hoa sâu xa hơn
hết, nên cuối cùng Như Lai mới nói mà ban cho chư vị; như
vị Luân vương hùng cường, giữ mãi viên ngọc sáng, ngày
nay mới đem ban thưởng. Như Lai làm vua các pháp, có sức mạnh
lớn là sức nhẫn nhục, có kho báu lớn là kho tuệ giác,
vận dụng đại từ cùng với đại bi, giáo hóa thế giới
một cách đúng cách. Ấy là thấy mọi người chịu bao khổ
não, muốn thoát khổ não nên chiến với ma; Như Lai vì họ
mà nói chánh pháp, đem phương tiện khéo nói bao khế kinh.
Khi biết mọi người đắc lực cả rồi, cuối cùng nói cho
kinh Pháp Hoa này; tựa như Luân vương lấy viên ngọc sáng
để trong bối tóc đem ra ban thưởng.
Sau khi Như Lai
nhập niết bàn rồi, những ai tìm kiếm tuệ giác Phật đà,
muốn được yên vui diễn giảng Pháp Hoa thì phải thân gần
bốn cách sống yên vui đã nói trên đây. Diễn giảng đọc
tụng Pháp Hoa thì không lo bực, cũng không đau ốm, sắc tướng
sáng tươi; không sinh không sống ở trong những chỗ nghèo
nàn khốn cùng, thấp hèn xấu xí. Diễn giảng Pháp Hoa thì
như sư tử chúa đi đâu chẳng sợ, trí tuệ chiếu sáng như
mặt trời chiếu. Và ngay trong mộng cũng thấy toàn là những
việc tốt đẹp.
_______
Phẩm
15:
Từ
đất xuất hiện
Lúc ấy rất nhiều
bồ tát đại sĩ, đã từ các quốc độ khác đến quốc độ
này, đứng dậy chắp tay đảnh lễ mà bạch đức Thế Tôn,
nếu ngài cho phép chúng con, sau khi ngài nhập diệt, ở tại
quốc độ Kham Nhẫn này, nổ lực mà kính giữ Pháp Hoa, thì
chúng con nguyện ở tại đây mà diễn giảng kinh ấy một
cách phong phú. Đức Thế Tôn bảo thôi, chư thiện nam tử.
Quốc độ này tự có rất nhiều bồ tát đại sĩ, mỗi vị
lại có rất nhiều tùy thuộc. Thầy trò các vị này có thể,
sau khi Như Lai nhập diệt, kính giữ Pháp Hoa, công bố rộng
rãi. Khi đức Thế Tôn nói như vậy thì đất của toàn thể
đại thiên quốc độ Kham Nhẫn đều chấn động mà nứt
ra, và từ đó có vô số bồ tát đại sĩ cùng lúc vọt lên.
Các vị ấy thân toàn màu hoàng kim, đủ cả 32 tướng quí,
và ánh sáng thì vô số lượng. Các vị cùng ở trong không
gian phía dưới quốc độ Kham Nhẫn này, nghe tiếng đức Thế
Tôn nói như trên nên từ đó dũng xuất. Các vị toàn là những
bậc đạo sư, dẫn theo đại chúng tùy thuộc: Nhiều vị,
mỗi vị dẫn theo rất nhiều tùy thuộc. Cho đến nhiều vị
hơn, mỗi vị chỉ dẫn theo hai hay một tùy thuộc. Và nhiều
vị hơn nữa, mỗi vị chỉ đến đơn độc. Thầy trò các
vị bồ tát đại sĩ như thế này toán số ví dụ cũng không
thể xác định.
Thầy trò các
vị từ đất xuất hiện rồi, cùng đến chỗ đức Đa Bảo
và đức Thích Ca mà kính lạy. Các vị lại đến chư Phật
phân thân làm lễ cũng vậy, và đem những cách thức tán dương
của bồ tát mà tán dương các ngài. Rồi đứng lại một
phía, các vị hân hoan chiêm ngưỡng đức Đa Bảo và đức
Thích Ca. Thì gian các vị mới xuất hiện cho đến tán dương
xong, trải qua hết hàng chục thời kỳ bậc nhỏ. Nhưng thần
lực của đức Thế Tôn làm cho cả đại hội thấy như nửa
ngày mà thôi. Rồi bốn vị thượng thủ trong số các vị
đạo sư là Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập
Hạnh, cùng đứng trước đại chúng bồ tát ấy, chắp tay,
chiêm ngưỡng đức Thích Ca mà vấn an, rằng đức Thế Tôn
ít bịnh, ít phiền, sống yên vui chăng? Những người đáng
được ngài hóa độ, họ có tiếp nhận sự hóa độ ấy
một cách dễ dàng để ngài khỏi mệt nhọc chăng? Đức Thế
Tôn bảo, đúng như vậy, chư thiện nam tử; Như Lai yên vui,
ít bịnh, ít phiền, những người đáng được hóa độ cũng
dễ hóa độ. Những người này mới thấy thân Như Lai và
mới nghe lời Như Lai là tin tưởng tiếp nhận, nhập vào tuệ
giác của Như Lai. Ngoại trừ những người trước đây tu
học theo giáo pháp cỗ xe thấp nhỏ; những người như vậy
ngày nay Như Lai cũng làm cho nghe được Pháp Hoa, nhập được
Phật tuệ. Nghe đức Thế Tôn dạy như vậy, bốn vị thượng
thủ thưa ngài: Lành thay, đức Thế Tôn đại hùng, tất cả
chúng con kính xin tùy hỷ.
Vào lúc bấy giờ
đức Di Lạc cùng bồ tát chúng muốn biết nguyên ủy của
chư vị bồ tát đại sĩ từ đất xuất hiện, nên chắp tay
hướng về đức Thế Tôn mà hỏi, đại chúng bồ tát như
thế này từ đâu đến đây? Đến để làm gì? Ai đã giáo
hóa tác thành cho chư vị ấy? Các vị thị giả của chư Phật
phân thân cũng hỏi đức Phật của mình. Chư Phật phân thân
dạy, đức Di Lạc đã hỏi đức Thế Tôn rồi, các người
hãy chờ một lát mà nghe ngài giải đáp. Khi ấy đức Thế
Tôn khen đức Di Lạc đã hỏi một việc trọng đại như vậy.
Và bảo, chư vị hãy cùng nhau tập trung tâm trí, khoác áo
giáp tinh tiến, phát ý chí cứng chắc. Như Lai nay muốn phát
lộ về tuệ giác và thần thông, về khí lực và uy lực của
Như Lai. Như Lai an ủi như vậy là để chư vị khỏi ngờ
khỏi sợ. Vì lẽ những gì xưa nay chư vị chưa nghe thì nay
sẽ được nghe đến. Cái pháp bậc nhất mà Như Lai thực
hiện, Như Lai sắp nói ra.
Di Lạc đại sĩ,
hôm nay, giữa đại hội như vầy, Như Lai tuyên cáo để chư
vị biết. Rằng đại chúng bồ tát từ đất dũng xuất đây
là do Như Lai ở thế giới hệ Kham Nhẫn này thành tựu tuệ
giác vô thượng rồi, giáo hóa cho các vị ấy thuần hóa tính
ý, phát tâm tuệ giác. Các vị ấy ở trong không gian phía
dưới thế giới hệ này. Các vị không thích ở chỗ đông
đảo và nói năng nhiều lời, chỉ muốn ở nơi yên tĩnh,
chuyên tâm tinh tiến mà cầu đạt cho được tuệ giác vô
thượng.
Bấy giờ trong
lòng đức Di Lạc và bồ tát chúng lại sinh nghi hoặc, nghĩ
rằng đức Thế Tôn làm cách nào trong một thì gian ít ỏi
mà giáo hóa tác thành được cho chư vị bồ tát như vầy?
Nghĩ vậy nên bạch đức Thế Tôn, rằng ngài làm thái tử,
thoát ly hoàng cung họ Thích, cách thành Già da không xa, ngồi
nơi bồ đề tràng, thành đạt tuệ giác vô thượng, từ đó
đến nay mới hơn 40 năm. Trong thì gian ngắn ngủi như vậy
mà tại sao ngài có thể làm được một cách lớn lao việc
làm của Phật, là giáo hóa chư vị bồ tát như vầy? Bạch
đức Thế Tôn, điều này quả là cả thế gian đều khó tin.
Dẫu rằng chúng con tin sự tùy nghi thuyết pháp của đức
Thế Tôn, nhưng các vị bồ tát mới phát tâm, sau khi đức
Thế Tôn nhập diệt mà nghe những lời này thì có thể có
kẻ không tin, sinh ra cái lỗi bài bác chánh pháp. Chính vì
vậy, bạch đức Thế Tôn, con xin ngài giảng giải, làm cho
ai cũng không có nghi hoặc.
__________<