|
|
|
|
|
Cuốn
1
|
|
|
|
|
|
Cuốn
2
|
|
|
|
|
|
Cuốn
3
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
4
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
5
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
6
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
7
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
sao lục:
|
|
|
|
|
|
c
KINH
PHÁP HOA
(Hoa
Sen Của Chánh Pháp)
Phần
CHÍNH VĂN - Trí Quang
dịch
CUỐN
5
Ngưỡng bạch
Phật Pháp Tăng vô tận tam bảo từ bi chứng minh. Đệ tử
chúng con nguyện vì bản thân, vì cha mẹ bà con, vì người
thân kẻ thù, vì mọi người và vì chúng sinh, trì tụng kinh
đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa.
Mở đầu tụng
kinh Pháp Hoa, chúng con xin kính lạy:
Kính lạy kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ
đại, bản kinh dạy cho Bồ tát và được Phật giữ gìn.
Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười
phương quốc độ.
Kính lạy đức
Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết
kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng
cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc,
đức Phật đương lai, đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp
dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu suất tịnh
độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong
quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
Kính lạy bồ
tát Văn Thù, vị pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy bồ tát Phổ Hiền,
vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy bồ tát Quan Âm, vị đại
sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ
tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp
Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
________
Phẩm
14:
Sống
yên vui
Vào lúc bấy giờ,
Văn Thù đại sĩ, vị thái tử của đức Pháp vương, thưa
với ngài rằng, bạch đức Thế Tôn, các vị bồ tát này
thật hiếm có. Các vị kính thuận đức Thế Tôn nên phát
ra thệ nguyện cao cả, nguyện ở trong thời kỳ dữ dội sau
này mà kính giữ Pháp Hoa bằng cách đọc tụng diễn giảng
kinh ấy. Nhưng bạch đức Thế Tôn, bồ tát đại sĩ ở trong
thời kỳ dữ dội sau này, làm thế nào để diễn giảng Pháp
Hoa? Đức Thế Tôn dạy, Văn Thù, bồ tát đại sĩ ở trong
thời kỳ dữ dội sau này, muốn diễn giảng Pháp Hoa thì phải
đặt mình vững chắc vào trong bốn cách sống yên vui.
Cách sống yên
vui thứ nhất là đặt mình vững chắc vào phạm vi đi và
phạm vi thân của bồ tát, mới có năng lực diễn giảng Pháp
Hoa cho mọi người.
Văn Thù, phạm
vi đi của bồ tát là gì? Là bồ tát đi trong đường đất
nhẫn nhục, ôn hòa, khéo thuận, không thô bạo, không kinh
hoảng. Hơn nữa, đối với các pháp thì không đi theo pháp
nào mà chỉ nhìn thật tướng của các pháp ấy, cũng không
đi theo sự không nhận thức các pháp. Như vậy gọi là phạm
vi đi của bồ tát.
Phạm vi thân của
bồ tát là gì? Là bồ tát không thân gần quốc vương, vương
tử, đại thần, quan trưởng. Không thân gần tu sĩ ngoại
đạo, Ni kiền tử. Không thân gần những kẻ tạo ra văn bút,
thi ca và tác phẩm trần tục. Không thân gần những kẻ theo
chủ thuyết xuôi với đời hay chủ thuyết ngược với đời.
Cũng không thân gần những kẻ chơi những trò chơi hung hãn
như đâm nhau, vật nhau; những kẻ hóa trang, ảo thuật. Không
thân gần chiên đà la và những kẻ ác luật nghi như nuôi
heo dê gà chó, săn bắn chài lưới. Tất cả những kẻ trên
đây có khi đến với bồ tát, thì bồ tát nên thuyết pháp
cho họ mà không ước vọng gì về danh lợi. Lại không thân
gần bốn chúng cầu niết bàn của thanh văn, không hỏi thăm,
không ở chung trong phòng, chỗ kinh hành hay trong giảng đường.
Các vị ấy có khi đến với bồ tát thì bồ tát tùy nghi
thuyết pháp mà không ước vọng gì về danh lợi. Văn Thù,
đối với thân thể nữ nhân, bồ tát không vì những hình
dáng phát sinh tư tưởng về dục mà thuyết pháp cho họ, cũng
không ham gặp. Đến nhà người, đừng nói chuyện với thiếu
nữ, xử nữ, quả phụ... Đừng gần mà thân thiết với năm
loại người phi nam. Đừng một mình đến nhà người; có
lý do phải đến một mình thì chuyên tâm nghĩ nhớ đến Phật.
Thuyết pháp cho nữ nhân thì không cười bày răng, không để
hở ngực, và đến nỗi vì chánh pháp cũng không thân thiết
với nữ nhân, huống chi vì gì khác. Không thích nuôi đệ
tử sa di nhỏû tuổi, trẻ con, cũng không thích cùng thầy
với họ. Thường ưa ngồi thiền, ở chỗ không bị quấy
nhiễu, tập trung mà sửa chữa tâm mình. Văn Thù, như vậy
gọi là phạm vi thân thứ nhất của bồ tát. Bồ tát lại
xét thấy các pháp là Không _ thấy thật tướng các pháp:
không thác loạn, không dao động, không suy thoái, không chuyển
biến ; thấy như hư không: không phải những sự sở hữu
của tư duy, không phải những sự mô tả của ngôn ngữ, không
phát sinh, không xuất hiện, không nổi dậy, không danh từ,
không khái niệm; thấy thật là không thật: không số lượng,
không giới hạn, không trở ngại, không ngăn cách_ chỉ do
sự tương quan mà có, và từ sự nhận thức thác loạn mà
phát sinh và diễn tả. Thường thích quán sát về thật tướng
như vậy. Đó là phạm vi thân thứ hai của bồ tát.
Khi ấy đức Thế
Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đãï nói, nên nói những lời
chỉnh cú sau đây.
(1) Thời ác sau
này,
vị bồ tát nào
không có e sợ,
muốn nói Pháp
Hoa,
(2) thì phải vào
nơi
chỗ đi chỗ thân.
Thường xa quốc
vương,
cùng với vương
tử,
(3) đại thần,
quan trưởng,
kẻ chơi hung hãn,
kẻ làm ảo thuật,
kẻ chiên đà
la,
và những tu sĩ
các phái ngoại
đạo.
(4) Cũng không
thân gần
người tăng thượng
mạn,
học giả thuộc
cả
ba tạng tiểu
thừa,
tỷ kheo phá giới,
La hán giả danh.
(5-Những tỷ kheo
ni
6) ưa thích cười
giỡn,
những nữ tín
đồ
quá ham ngũ dục,
với những người
ấy
đều chớ thân
gần.
Và sự thể này
nên coi như là
tìm kiếm niết
bàn
ngay trong hiện
tại.
(7) Những người
trên đây
bằng tâm lý tốt
đến chỗ bồ
tát
để được nghe
nói
về tuệ giác
Phật,
bồ tát phải
đem
sự không khiếp
sợ,
và không ẩn ý
ước vọng danh
lợi,
mà thuyết pháp
cho.
(8) Quả phụ,
xử nữ,
và những phi nam,
đừng nên gần
gũi
làm người thân
thiết.
(9-Cũng đừng
thân gần
12) thầy trò thợ
thịt.
Săn bắn chài
lưới
vụ lợi sát hại,
sinh sống bằng
nghề
buôn bán thịt
cá,
ma cô tú bà
buôn bán nữ sắc,
những kẻ như
vậy
cũng đừng thân
gần.
(13) Đô vật hung
hãn,
các loại trò
chơi,
cũng như dâm nữ
đều không thân
gần.
Đừng ngồi chỗ
khuất
và ngồi một
mình
mà thuyết chánh
pháp
cho các nữ nhân,
khi thuyết chánh
pháp
thì đừng đùa
giỡn.
(14) Đi vào khất
thực
nơi chỗ dân cư
thì phải đi với
một vị tỷ kheo,
nếu không có
được
vị tỷ kheo ấy
thì phải chuyên
tâm
nghĩ nhớ đến
Phật.
(15) Như vậy gọi
là
chỗ đi chỗ thân;
nhờ hai chỗ ấy
thuyết pháp yên
vui.
(16) Lại không
đi theo
pháp cao vừa thấp,
hữu vi vô vi,
thật với không
thật.
(17) Cũng không
phân biệt
này đây là nam
này đây là nữ,
không biết không
thấy
không tìm ra được
các pháp là thật.
(18) Như vậy gọi
là
chỗ bồ tát đi.
(19) Tất cả các
pháp
không phải thật
có:
không phải thường
còn
không phải sinh
diệt,
đó là chỗ thân
của bậc có trí.
(20) Nhận thức
thác loạn
nên thấy các
pháp
có không, thật
giả,
và sinh với diệt.
(21) Ở chỗ trống
vắng
tập trung tâm
trí,
an nhiên bất động
như núi Tu di,
mà xét các pháp
thì thấy là Không.
(22) Tựa như hư
không
không gì cố định:
không là phát
sinh
cũng không xuất
hiện,
không là suy thoái
cũng không dao
động,
vĩnh viễn nhất
quán,
ấy là chỗ thân.
(23) Sau khi Như
Lai
nhập niết bàn
rồi,
bấy giờ nếu
có
tỷ kheo bồ tát
nhập vào chỗ
đi
và chỗ thân này,
thì nói Pháp Hoa
không có khiếp
nhược.
(24-Có lúc vị
ấy
25) vào trong tịnh
thất,
ghi nhớ chính
xác
xét pháp theo nghĩa,
rồi xuất thiền
định
mà giảng Pháp
Hoa;
diễn giảng khai
thị
cho hàng quốc
vương,
vương tử, thần
dân,
và bà la môn,
mà tâm an nhiên
không có khiếp
nhược.
Văn Thù đại
sĩ,
như vậy gọi
là
bồ tát đứng
vững
nơi cách thứ
nhất,
có thể ở trong
thời ác sau này
tuyên thuyết phong
phú
Diệu Pháp Liên
Hoa.
Văn Thù, sau khi
Như Lai nhập diệt, trong thời kỳ giáo pháp cuối cùng, ai
muốn diễn giảng Pháp Hoa thì phải đặt mình vững chắc
vào trong cách sống yên vui thứ hai. Là miệng chỉ diễn giảng
hay đọc tụng kinh điển, không thích nói nhược điểm của
người, của kinh điển. Không khinh ngạo các vị diễn giảng
khác. Không nói những sự tốt xấu giỏi dở của mọi người.
Đối với thanh văn, không đem tên ra mà nói xấu hay khen tốt.
Tâm lý oán ghét hiềm khích không hề nổi dậy, là vì khéo
tu cái tâm yên vui. Ai muốn nghe pháp cũng không nghịch ý họ.
Họ hỏi gì thì không trả lời bằng giáo pháp cỗ xe thấp
nhỏ, chỉ đem giáo pháp cỗ xe vĩ đại mà giảng giải, làm
cho họ đạt được tuệ giác Biết tất cả. Đức Thế Tôn
muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(26-Bồ tát là
người
30) luôn luôn thư
thái
yên vui thuyết
pháp.
Một cái pháp
tòa
được sắp đặt
cho
nơi chỗ sạch
sẽ.
Trước đó tắm
rửa
sạch hết dơ
bẩn,
lấy dầu xoa mình,
mặc áo sạch
mới.
Trong ngoài sạch
rồi
đến ngồi pháp
tòa,
tùy người thưa
hỏi
mà giảng nói
cho.
Đối diện tỷ
kheo
và tỷ kheo ni,
hoặc ưu bà tắc
với ưu bà di,
quốc vương vương
tử
quần thần sĩ
dân,
đều đem nghĩa
lý
tinh túy sâu xa
mà nói cho họ
với mặt hiền
hòa.
(31) Có ai gạn
hỏi,
đáp theo nghĩa
lý;
yếu tố, ví dụ,
diễn giảng, phân
tích,
dùng những cách
này
làm họ phát tâm
tăng dần lợi
ích
vào tuệ giác
Phật.
(32) Loại bỏ
biếng nhác,
tách xa bực dọc,
đem tâm từ bi
mà thuyết chánh
pháp.
(33) Ngày đêm
thường thuyết
chánh pháp vô
thượng,
đem mọi yếu
tố
và lắm ví dụ
khai thị cho người
làm ai cũng vui.
(34) Đồ mặc
đồ nằm
đồ ăn đồ uống
cùng với thuốc
thang,
đối với tất
cả
những thứ như
vậy
không mong ước
gì.
(35) Chỉ một
tâm nguyện
nguyện nhờ thuyết
pháp
mà mình với người
cùng được thành
Phật,
và đó chính là
những sự ích
lợi,
lạc thú, hiến
cúng
vô cùng lớn lao.
(36) Sau khi Như
Lai
nhập niết bàn
rồi,
bấy giờ nếu
có
tỷ kheo bồ tát
có thể diễn
giảng
Diệu Pháp Liên
Hoa,
thì lòng không
còn
ganh tị, tức
bực,
không bị quấy
phá
không gặp trở
ngại,
không còn lo rầu
không ai thóa mạ,
(37) không bị
khủng bố,
hành hung, xua đuổi,
vì đã đứng
vững
trong sự ẩn nhẫn.
(38) Người có
trí tuệ
khéo tu tâm mình
bằng cách sống
theo
cách sống yên
vui
mà ở trên đây
Như Lai đã dạy,
thì bao hiệu quả
mà người ấy
có,
vạn ức thời
kỳ
áp dụng toán
số
hay sự ví dụ
nói cũng không
hết.
Văn Thù, cách
sống yên vui thứ ba là, sau này, trong thời kỳ cuối cùng,
khi giáo pháp sắp ẩn mất, những người kính giữ Pháp Hoa
thì đừng ôm giữ tâm lý ganh ghét, dua nịnh và dối trá.
Đừng khinh khi thóa mạ những người học tập tuệ giác của
Phật, đừng tìm kiếm điều hay cái dở của những người
ấy. Đối với bốn chúng tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu bà tắc,ưu
bà di, đối với các vị cầu cỗ xe thanh văn, cỗ xe duyên
giác, cỗ xe bồ tát, thì đừng quấy rối, làm cho họ thắc
mắc, hối tiếc, bằng cách nói rằng các người cách xa tuệ
giác của Phật, không bao giờ thực hiện được tuệ giác
Biết tất cả, vì lẽ các người là những kẻ bất thường,
biếng nhác đối với tuệ giác ấy. Đừng bàn chơi các pháp,
cãi cọ lẫn nhau. Đối với chúng sinh thì nghĩ đến đại
bi, đối với Phật đà thì nghĩ là từ phụ, đối với bồ
tát thì nghĩ là đại sư. Đối với bồ tát mười phương
thì tôn kính sâu xa, đối với chúng sinh đủ loại thì thuyết
pháp bình đẳng. Nhưng thuận với chánh pháp nên không nói
nhiều cũng không nói ít, thậm chí đối với những người
ưa thích chánh pháp một cách sâu xa cũng không vì họ mà nói
nhiều. Văn Thù, sau này, trong thời kỳ cuối cùng, khi giáo
pháp sắp ẩn mất, các vị bồ tát có ai thành tựu cách sống
yên vui thứ ba này thì lúc diễn giảng Pháp Hoa không ai quấy
phá được. Người ấy còn được đồng học rất tốt, chung
nhau đọc tụng Pháp Hoa; được các chúng đến nghe mà nghe
rồi nhớ được, nhớ rồi tụng được, tụng rồi giảng
được, giảng rồi tự mình sao chép hay khuyên người sao chép,
và hiến cúng cung kính tôn trọng tán dương đối với cuốn
kinh ấy. Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên
nói những lời chỉnh cú sau đây.
(39) Muốn giảng
Pháp Hoa,
phải bỏ tâm
lý
ganh tức, ngạo
mạn,
dua nịnh, tà ngụy,
mà thường tu
sửa
đức tính chất
trực.
(40) Đừng khinh
miệt người,
cũng đừng bàn
chơi
đối với các
pháp,
đừng làm người
khác
thắc mắc hối
tiếc
bằng cách nói
rằng
các người không
thể
thành đức Phật
đà.
(41) Con Phật như
vậy
diễn giảng Pháp
Hoa
thường xuyên
ôn hòa
và hay ẩn nhẫn,
từ bi giáo hóa
tất cả các chúng,
không hề sinh
ra
tâm tư biếng
nhác.
(42) Chư đại
bồ tát
ở mười phương
hướng,
vì thương chúng
sinh
du hóa khắp cả;
thì với các ngài
phải nên tôn
kính,
rằng đó là bậc
đại sư của
tôi.
(43) Đối với
chư vị
Đại giác Thế
Tôn
thì thờ làm bậc
từ phụ tối
thượng.
Dẹp bỏ tất
cả
tâm lý kiêu căng,
nên thuyết chánh
pháp
không gặp trở
ngại.
(44) Cách sống
thứ ba
là như thế ấy,
người có trí
tuệ
phải giữ cho
đúng.
Đồng nhất tâm
mình
với cách sống
vui,
thì được vô
lượng
các chúng tôn
kính.
Văn Thù, cách
sống yên vui thứ tư là, sau này, trong thời kỳ cuối cùng,
khi giáo pháp sắp ẩn mất, bồ tát có vị nào kính giữ Pháp
Hoa thì đối với những người tại gia và xuất gia phải
có lòng lành, đối với những người không phải bồ tát
phải có lòng thương; nên nghĩ như vầy: những người ấy
mất mát rất lớn nếu không nghe không biết không hay, không
hỏi không tin không hiểu gì về sự phương tiện tùy nghi
thuyết pháp của đức Thế Tôn, nghĩa là không hỏi không
tin không hiểu gì về Pháp Hoa. Dầu vậy, ta vẫn nguyện rằng
khi được tuệ giác vô thượng rồi, tùy những người này
ở vào bất cứ vị trí nào, ta cũng đem thần thông lực và
trí tuệ lực mà dẫn dắt cho họ được đứng vào trong Pháp
Hoa. Văn Thù, sau khi Như Lai nhập diệt, bồ tát có ai thành
tựu cách sống yên vui thứ tư này thì diễn giảng Pháp Hoa
không có lầm lỗi, thường được bốn chúng, được quốc
vương, vương tử, đại thần, dân chúng, bà la môn, cư sĩ,
và mọi thành phần khác, cùng hiến cúng cung kính tôn trọng
tán dương. Chư thiên ở trong không gian, vì nghe pháp nên cũng
thường xuyên theo hầu. Khi vị ấy ở những nơi thôn xóm
thành thị, hoặc ở những chỗ núi rừng thanh vắng, có ai
đến muốn gạn hỏi, thì chư thiên ngày đêm thường vì pháp
mà hộ vệ vị ấy, làm cho người nghe ai cũng hoan hỷ. Tại
sao, vì Pháp Hoa là bản kinh được sự giữ gìn của thần
lực chư Phật quá khứ vị lai cùng với hiện tại. Văn Thù,
trong vô lượng quốc độ, kinh Pháp Hoa này đến nỗi cái
tên còn khó được nghe đến, huống chi được nhìn thấy,
thọ trì đọc tụng đối với kinh ấy.
Văn Thù, ví như
vị luân vương hùng cường, muốn sử dụng uy thế làm cho
các nước thần phục. Nhưng các quốc vương không tuân lịnh.
Luân vương phải động binh chinh phạt. Và thấy tướng sĩ
chiến đấu ai có công thì luân vương mừng, tùy công mà thưởng
bằng cách hoặc cho ruộng đất, nhà cửa, thôn xóm, thành
thị, hoặc cho y phục và những đồ trang sức thân thể, hoặc
cho những thứ quí báu như bạc, vàng, lưu ly, xa cừ, mã não,
san hô, hổ phách, hoặc cho voi ngựa, xe thuyền, tôi tớ, dân
chúng. Chỉ viên ngọc sáng trong bối tóc thì không đem cho,
vì chỉ trên đỉnh đầu của luân vương mới nên có viên
ngọc sáng ấy. Nếu đem cho thì tướng sĩ của luân vương
tất hết sức kinh dị. Văn Thù, Như Lai cũng vậy, nhờ định
lực và tuệ lực mà có quốc gia chánh pháp, ngự trị ba cõi.
Nhưng chúa tể các loại ma không chịu khuất phục. Tướng
sĩ hiền thánh của Như Lai phải chiến đấu với chúa tể
các loại ma ấy. Và ai có công thì Như Lai hoan hỷ, ở giữa
bốn chúng mà nói cho họ các kinh pháp để họ đẹp dạ,
thưởng cho họ bao nhiêu là tài sản chánh pháp đại loại
như thiền định, giải thoát, căn bản và năng lực thuần
khiết, lại ban cho họ đô thành niết bàn, tuyên ngôn họ
được niết bàn để dẫn đạo cho lòng họ hoan hỷ. Nhưng
không nói cho họ kinh Pháp Hoa này.
Văn Thù, vị luân
vương thấy tướng sĩ ai có công lớn mới rất mừng, và
đem viên ngọc sáng, một viên ngọc khó có ai tin nổi giá
trị của nó, từ lâu luân vương để trong bối tóc, không
bừa bãi cho ai mà nay thưởng cho. Như Lai cũng vậy, làm vị
pháp vương vĩ đại trong cả ba cõi, đem chánh pháp giáo hóa
hết thảy chúng sinh, thấy tướng sĩ hiền thánh chiến đấu
với ma hợp thể, ma phiền não và ma chết chóc mà ai có công
lớn diệt ba độc, vượt ba cõi, phá lưới ma, thì bấy giờ
Như Lai rất hoan hỷ, và đem kinh Pháp Hoa, bản kinh có năng
lực làm cho chúng sinh đạt đến tuệ giác của bậc Toàn
giác, hết thảy thế gian phần nhiều oán ghét khó tin, trước
đây chưa nói bao giờ mà nay nói cho. Văn Thù, Pháp Hoa là pháp
thoại bậc nhất của chư Phật. Trong các pháp thoại, Pháp
Hoa sâu xa hơn hết, nên cuối cùng Như Lai mới nói mà ban cho,
như vị luân vương hùng cường giữ mãi viên ngọc sáng, ngày
nay mới đem ban thưởng. Văn Thù, Pháp Hoa là kho tàng bí mật
của chư Phật, ở trên hết trong các kinh pháp, Như Lai giữ
gìn từ lâu, không nói bừa bãi, ngày nay mới đem phát lộ
cho chư vị.
Đức Thế Tôn
muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(45) Thường xuyên
nhẫn nhục,
xót thương tất
cả,
mới diễn giảng
được
kinh Phật tán
dương.
(46) Trong thời
cuối cùng,
kính giữ Pháp
Hoa,
thì với những
vị
tại gia xuất
gia
cùng với những
vị
không phải bồ
tát,
phải có từ bi
thương người
không nghe
không tin Pháp
Hoa
là rất mất mát.
(47) Nguyện rằng
khi được
tuệ giác Phật
đà
thì dùng phương
tiện
nói cho Pháp Hoa,
để làm cho họ
đứng trong pháp
ấy.
*
(48) Ví như luân
vương
năng lực hùng
cường,
thấy các tướng
sĩ
chiến đấu có
công,
thì đem tưởng
thưởng
đủ cả mọi
vật:
voi ngựa xe thuyền,
đồ trang sức
mình,
cùng với nhà
đất,
thôn xóm thị
thành.
(49) Hoặc cho y
phục,
các thứ vàng
ngọc,
tôi tớ tài sản
vui vẻ cho cả.
(50) Nhưng ai mạnh
nhất
làm việc khó
làm,
mới mở bối
tóc
lấy cho ngọc
sáng.
(51) Như Lai cũng
vậy:
làm vua các pháp,
có sức mạnh
lớn
là sức nhẫn
nhục,
có kho báu lớn
là kho tuệ giác,
vận dụng đại
từ
cùng với đại
bi
giáo hóa thế
giới
một cách đúng
cách.
(52) Là thấy mọi
người
chịu bao khổ
não,
muốn thoát khổ
não
nên chiến với
ma;
Như Lai vì họ
nói các chánh
pháp,
đem phương tiện
khéo
nói bao khế kinh.
(53) Khi biết mọi
người
đắc lực cả
rồi,
cuối cùng nói
cho
kinh Pháp Hoa này;
tựa như luân
vương
lấy viên ngọc
sáng
để trong bối
tóc
đem ra ban thưởng.
(54) Pháp Hoa tôn
quí
trên hết các
kinh,
Như Lai giữ gìn
không nói bừa
bãi.
Nay mới đúng
lúc
nói cho chư vị.
(55) Sau khi Như
Lai
nhập niết bàn
rồi,
những ai tìm kiếm
tuệ giác Phật
đà,
muốn được yên
vui
giảng nói Pháp
Hoa
thì phải thân
gần
bốn cách sống
vui.
*
(56) Đọc tụng
Pháp Hoa
thì không lo bực,
cũng không đau
ốm,
sắc tướng sáng
tươi;
không sinh hay sống
ở trong những
chỗ
nghèo nàn khốn
cùng
thấp hèn xấu
xí.
(57) Ai cũng thích
nhìn
như mến hiền
thánh.
Đồng tử chư
thiên
làm người phục
dịch.
(58) Dao gậy vô
phương,
độc tố hết
phép.
Ai muốn mắng
chưởi
miệng lưỡi tắc
nghẽn.
(59) Như sư tử
chúa
đi đâu chẳng
sợ.
Trí tuệ chiếu
sáng
như mặt trời
chiếu.
(60) Trong mộng
thì thấy
toàn việc tốt
đẹp.
Được thấy Như
Lai
ngồi tòa sư tử,
đang thuyết pháp
cho
tỷ kheo bao quanh.
(61) Được thấy
tám bộ
chư thiên thiện
thần
nhiều bằng hằng
sa
cung kính chắp
tay,
và thấy chính
mình
thuyết pháp cho
họ.
(62) Được thấy
Như Lai
thân đầy tướng
quí
toàn màu hoàng
kim,
phóng ra vô số
các tia ánh sáng
chiếu soi khắp
cả,
lại còn sử dụng
âm thanh Phạn
thiên
tuyên thuyết diễn
giảng
các loại chánh
pháp.
(63) Lại thấy
Như Lai
nói pháp tối
thượng
cho cả bốn chúng,
và thấy bản
thân
ở trong bốn chúng
chắp tay ca tụng,
(64) nghe pháp,
hoan hỷ,
và hiến cúng
ngài,
được pháp tổng
trì
thành trí bất
thoái.
(65) Và thấy Như
Lai
biết mình vào
sâu
tuệ giác Phật
đà
nên thọ ký cho
sẽ thành một
đấng
Biết rất chính
xác,
bằng cách nói
rằng
này thiện nam
tử,
sau này ông được
cái trí vô lượng
là trí vĩ đại
của chư Phật
đà,
(66) với một
quốc độ
tráng lệ sạch
sẽ
và lớn đến
nỗi
không cõi nào
bằng;
trong quốc độ
ấy
cũng có bốn chúng
chắp tay lắng
nghe
chánh pháp tối
thượng.
(67) Lại thấy
bản thân
ở trong núi rừng,
tu tập thiện
pháp
thấu suốt thật
tướng,
vào sâu thiền
định
thấy chư Như
Lai.
(68) Thấy thân
Như Lai
toàn màu hoàng
kim,
tướng quí trăm
phước
cực kỳ trang
nghiêm;
thấy mình nghe
pháp
Như Lai tuyên thuyết,
và đem pháp ấy
nói lại cho người.
Những người
đọc tụng
Diệu Pháp Liên
Hoa
thì thường được
có
mộng đẹp như
vậy.
(69) Lại mộng
thấy mình
làm vị quốc
vương,
rời bỏ cung điện
cùng với hoàng
gia,
bỏ cả năm thứ
dục lạc thượng
thặng,
và rồi đi đến
nơi bồ đề tràng;
(70) ngồi tòa
sư tử
dưới cây bồ
đề,
và qua bảy ngày
suy tầm tuệ giác
là được hoàn
thành
tuệ giác của
Phật;
(71) sau khi hoàn
thành
tuệ giác vô thượng,
đứng lên chuyển
đẩy
bánh xe chánh pháp,
giảng diễn chánh
pháp
cho cả bốn chúng
trải qua đến
cả
vạn ức thời
kỳ;
(72) giảng diễn
chánh pháp
thuần khiết tinh
túy,
giáo hóa cứu
độ
vô lượng chúng
sinh,
sau đó nhập vào
niết bàn hoàn
toàn,
tựa như đèn
tắt
khói cũng không
còn.
(73) Chính trong
thời kỳ
dữ dội sau này,
ai diễn giảng
được
cái pháp bậc
nhất,
thì người như
vậy
được đại lợi
ích
là những hiệu
quả
đã nói trên đây.

x |