Phẩm
7:
Tương
Quan Xa Xưa
Đức Thế Tôn
bảo chư vị Tỷ kheo, trong thì quá khứ, cách nay cực nhiều
thời kỳ vô số, bấy giờ có đức Phật danh hiệu Đại
Thông Trí Thắng, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng
hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng,
bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai
trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy cả trời
người, bậc Tuệ giác hoàn toàn: bậc Tôn cao nhất đời.
Quốc độ của ngài tên là Hảo thành, thời kỳ của ngài
tên là Đại tướng. Chư vị tỷ kheo, ngài nhập diệt cách
nay cực kỳ lâu xa. Ví như đất của cả đại thiên thế
giới này, giả thiết có người mài ra làm mực, rồi đi qua
hết một ngàn quốc độ ở về hướng đông mới chấm một
chấm chỉ lớn bằng hạt bụi nhỏ, lại đi qua hết một
ngàn quốc độ nữa mới chấm một chấm nữa. Triển chuyển
như vậy, chấm hết số mực đã mài hết số đất của cả
đại thiên thế giới, thì ý chư vị nghĩ thế nào, bao nhiêu
quốc độ mà người ấy đi qua, giáo sư toán học hay học
trò của họ có thể tìm thấy giới hạn để biết được
số lượng hay không? Không, bạch đức Thế Tôn. Chư vị tỷ
kheo, lại giả thiết rằng bao nhiêu quốc độ mà người ấy
đi qua, chấm hay không chấm, đều đem nghiền ra làm bụi,
mỗi hạt bụi giả thiết là một thời kỳ, thì đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà nhập diệt đến nay còn lâu hơn
số ấy đến cực nhiều thời kỳ vô số. Vậy mà Như Lai
đem sức mạnh sự thấy biết của Phật nhìn lại sự nhập
diệt lâu xa ấy thì thấy như thể mới xảy ra ngày hôm nay.
Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những
lời chỉnh cú sau đây.
(1) Như Lai nhớ
lại
trong thì quá khứ
vô lượng vô
biên
thời kỳ vô số,
có đức Phật
đà
bậc đủ phước
tuệ,
danh hiệu ngài
là
Đại Thông Trí
Thắng.
(2) Ví như có
người
tận lực mài
hết
đất cõi đại
thiên
thành ra mực cả,
rồi đi qua hết
một ngàn quốc
độ
mới chấm một
chấm
lớn bằng hạt
bụi.
(3- Chấm lần
cho đến
5) hết sạch mực
ấy.
Rồi bao quốc
độ
người ấy đi
qua
chấm hay không
chấm
đều nghiền thành
bụi,
mỗi một hạt
bụi
là một thời
kỳ.
Nhưng mà so sánh
với sốá bụi
ấy,
số thời kỳ
này
lại còn nhiều
hơn.
(6- Trí Thắng
Phật đà
7) nhập diệt
đến nay
thời kỳ vô lượng
đến như thế
ấy.
Vậy mà Như Lai
đem trí vô ngại
biết đức Phật
ấy
trước khi thành
đạo
đến lúc nhập
diệt,
biết cả đệ
tử
thanh văn bồ tát,
thấy ngài nhập
diệt
rõ như sự ấy
mới xảy hôm
nay.
Chư vị tỷ kheo,
nên biết tuệ
giác
của Phật Như
Lai
trong suốt, tinh
túy,
không còn sai sót
không bị ngăn
chặn,
thấu suốt thời
kỳ
vô biên vô lượng.
Đức Thế Tôn
lại bảo, chư vị tỷ kheo, đức Đại Thông Trí Thắng Phật
đà sống lâu cực nhiều trăm triệu thời kỳ. Khi ngài ngồi
nơi bồ đề tràng, phá tan quân đội ma vương rồi, sắp được
tuệ giác vô thượng của chư Phật, nhưng các pháp của tuệ
giác chư Phật ấy vẫn chưa hiện ra như ở trước mắt. Như
vậy hết một cho đến mười thời kỳ bậc nhỏ, ngài ngồi
xếp bằng, thân thể và tâm trí đều không dao động, nhưng
các pháp của tuệ giác chư Phật vẫn chưa hiện ra. Bấy giờ
chư thiên Đao lợi sắp trước cho ngài, ở dưới cây bồ
đề, một tòa sư tử cao đến một do tuần. Ngài sẽ thực
hiện tuệ giác vô thượng của chư Phật ở trên tòa sư tử
ấy. Khi ngài mới ngồi trên tòa sư tử thì Phạn vương rưới
xuống hoa của chư thiên, khắp diện tích một trăm do tuần.
Gió thơm thỉnh thoảng lướt đến thổi hoa héo đi, và Phạn
vương rưới thay hoa mới. Liên tục như vậy, suốt mười
thời kỳ bậc nhỏ, Phạn vương hiến cúng đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà, và từ đó cho đến lúc ngài nhập diệt,
vẫn thường xuyên rưới hoa hiến cúng như thế. Còn bốn
vị Thiên vương thì thường xuyên đánh trống chư thiên, và
chư thiên khác thì tấu các nhạc khí khác của chư thiên,
hiến cúng đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà trọn mười
thời kỳ bậc nhỏ, và từ đó liên tục cho đến khi ngài
nhập diệt, y như việc rưới hoa. Chư vị tỷ kheo, đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà qua mười thời kỳ bậc nhỏ rồi
các pháp của tuệ giác chư Phật mới hiện ra như ởû trước
mắt, và ngài hoàn thành tuệ giác vô thượng ấy.
*
Đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà, khi chưa xuất gia, đã có mười sáu vương
tử mà người đứng đầu tên là Trí Tích. Những vương tử
này ai cũng có đủ thứ đồ thưởng ngoạn quí và lạ, nhưng
nghe thân phụ hoàn thành tuệ giác vô thượng thì cùng bỏ
hết những thứù mình quí, đi đến chỗ ngài. Các bà mẹ
khóc, đi theo mà tiễn. Vị luân vương tổ phụ của họ thì
có một trăm đại thần và trăm ngàn vạn ức dân chúng bao
quanh, cũng theo mà đến bồ đề tràng. Ai cũng muốn đến
gần đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà mà hiến cúng, cung
kính, tôn trọng và tán dương. Khi đến, ai cũng đem đầu
mặt lạy ngang chân ngài, đi vòng quanh ngài, rồi chuyên chú
chắp tay mà chiêm ngưỡng, và nói những lời chỉnh cú sau
đây mà ca tụng.
(8- Thế Tôn uy
đức
9) vô cùng cao
cả,
vì muốn hóa độ
các loại chúng
sinh,
nên ngài trải
qua
vô số thời kỳ
mới được trở
thành
một đức Phật
đà,
bao nhiêu đại
nguyện
đều trọn vẹn
cả:
lành thay là đấng
Cát tường tối
thượng!
(10) Thế Tôn là
bậc
cực kỳ hiếm
có,
một lần ngồi
xuống
mà đã trải qua
hết cả mười
lần
thời kỳ bậc
nhỏ,
thân thể tay chân
lặng yên bất
động,
tâm trí thanh tịnh
chưa từng xao
lãng,
tuyệt đối vắng
bặt
cực kỳ thuần
khiết.
(11) Chúng con ngày
nay
thấy đức Thế
Tôn
yên ổn hoàn thành
tuệ giác chư
Phật,
là chúng con được
lợi ích tốt
lành,
cho nên khen mừng
lòng rất hoan
hỷ.
(12) Các loại
chúng sinh
thường xuyên
khổ não,
quá ư mù mờ
không thầy dắt
dẫn,
không hề biết
được
con đường hết
khổ,
cũng không tự
biết
mong cầu giải
thoát.
(13) Trong các loài
dữ
thì tăng lên mãi
còn trên chư thiên
ngày càng giảm
bớt,
từ chỗã tối
tăm
vào chỗ tối
tăm,
lâu xa mãi hoài
không nghe danh
Phật.
(14) Ngày nay Thế
Tôn
đạt được tuệ
giác
tối thượng,
yên ổn,
không còn sai sót,
chúng con cùng
với
chư thiên nhân
loại
vì được ích
lợi
siêu việt lớn
lao
cho nên cùng nhau
cúi đầu kính
lạy,
tánh mạng quay
về
nơi đấng Vô
thượng.
Mười sáu vương
tử lúc ấy nói những lời chỉnh cú ca tụng đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà rồi, khuyến thỉnh ngài chuyển đẩy
bánh xe chánh pháp.
Ai cũng nói rằng
đức Thế Tôn thuyết pháp thì đem lại rất nhiều yên ổn;
xin ngài thương xót và ích lợi cho chư thiên, nhân loại. Các
vương tử lại nói những lời chỉnh cú sau đây.
(15) Thưa đấng
Thế hùng
đấng Không ai
bằng,
tự trang hoàng
mình
bằng trăm phước
đức!
Ngài đã thực
hiện
tuệ giác vô thượng,
xin nói cho đời
về tuệ giác
ấy.
(16) Xin cứu chúng
con
và bao chúng sinh!
Xin phô bày ra
tuệ giác của
ngài,
làm cho chúng con
cùng thực hiện
được.
Chúng con nếu
được
trở thành Phật
đà
thì các chúng
sinh
cũng được như
vậy.
(17) Thế Tôn biết
rõ
tất cả quan niệm,
đường lối,
trí tuệ,
thị hiếu, phước
đức,
hành vi đời trước...
của bao chúng
sinh.
Ngài đã thấy
biết
tỏ rõ tất cả,
xin hãy chuyển
đẩy
pháp luân tối
thượng!
Khi ấy đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà yên lặng hứa nhận lời thỉnh
cầu ấy.
Đức Thế Tôn
lại bảo, chư vị tỷ kheo, khi đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà hoàn thành tuệ giác vô thựơng thì khắp mười
khu vức, mỗi khu vức có năm trăm vạn ức cõi Phật đều
chấn động đủ hết sáu cách. Những chỗ tối tăm giữa
các cõi Phật ấy, ánh sáng sáng nhất của mặt trời mặt
trăng không thể soi đến, khi ấy cũng rất sáng tỏ. Chúng
sinh trong những chỗ ấy cùng được thấy nhau, và cùng thốt
lên: sao lại có chúng sinh khác xuất hiện ở đây! Trong các
cõi Phật nói trên, cung điện chư thiên, từ dưới lên đến
Phạn thiên, cũng chấn động đủ cả sáu cách, và được
chiếu soi bằng ánh sáng vĩ đại, sáng tỏa khắp cả và sáng
hơn ánh sáng của chư thiên ấy. Bao nhiêu cung điện Phạn
thiên khắp trong năm trăm vạn ức cõi Phật thuộc khu vức
chính đông đều sáng lên rực rỡ, gấp đôi ngày thường.
Các vị Phạn vương đều nghĩ rằng, cung điện chúng ta hôm
nay sáng lên một cách trước đây chưa bao giờ có; vì lý
do nào mà có cảnh tượng này? Các vị Phạn vương liền đến
suy luận với nhau về sự thể ấy. Trong chúng Phạn vương
này có Đại phạn vương tên là Cứu nhất Thế, nói với
cả chúng lời chỉnh cú sau đây.
(18- Cung điện
chúng ta
20) sáng hơn trước
đây;
vì lý do gì?
hãy cùng tìm hiểu:
một vị thiên
nhân
phước lớn mới
sinh?
hay một đức
Phật
xuất hiện thế
gian,
mà ánh sáng này
chiếu rực khắp
cả?
Bấy giờ các
vị Phạn vương của năm trăm vạn ức cõi Phật khu vức chính
đông, với cung điện theo mình, với túi vải đựng đầy
hoa chư thiên, cùng nhau đi về khu vức chính tây, lần theo
ánh sáng mà tìm, thấy đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà
ngồi trên tòa sư tử dưới cây bồ đề trong bồ đề tràng,
có tám bộ và các chúng khác thuộc loài người và không phải
loài người, tôn kính bao quanh. Lại thấy mười sáu vị vương
tử đang thỉnh cầu ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp. Các
vị Phạn vương tức thì đem đầu mặt lạy ngang chân đức
Đại Thông Trí Thắng Phật đà, đi quanh ngàøi hàng trăm hàng
ngàn vòng, rồi đem hoa chư thiên mà tung rải trên ngài. Hoa
ấy như núi Tu di. Các vị Phạn vương cũng dùng hoa ấy mà
hiến cúng cây bồ đề của ngài. Cây này cao đến mười
do tuần. Hiến hoa rồi, các vị Phạn vương ai cũng đem cung
điện của mình dâng lên đức Đại Thông Trí Thắng Phật
đà, thưa rằng, bạch đức Thế Tôn, xin ngài thương xót mà
ích lợi cho chúng con, bằng các rủ lòng chấp nhận và sử
dụng cung điện chúng con hiến cúng. Đối trước ngài, các
vị Phạn vương nhất tâm, đồng thanh, đem lời chỉnh cú
sau đây mà ca tụng.
(21) Thế Tôn hiếm
có
rất khó gặp
được !
Ngài đủ vô lượng
phẩm chất siêu
việt,
và có năng lực
cứu hộ tất
cả.
Là thầy cao cả
của cả trời
người,
ngài thường thương
tưởng
toàn thể thế
gian,
mười phương
chúng sinh
đều nhờ ích
lợi.
(22) Tất cả chúng
con
đến đây từ
những
quốc độ nhiều
đến
năm trăm vạn
ức,
và cùng rời bỏ
cái vui thiền
định
để được đến
đây
hiến cúng Thế
Tôn.
(23) Nhờ phước
chúng con
làm từ đời
trước
nên được cung
điện
tráng lệ như
vầy,
hôm nay chúng con
tôn kính hiến
lên,
xin đức Thế
Tôn
từ bi nạp thọ.
Các vị Phạn
vương đem lời chỉnh cú ca tụng đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà rồi, vị nào cũng thưa, bạch đức Thế Tôn, xin
ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp: xin ngài giải thoát chúng
sinh, xin ngài mở đường niết bàn. Các vị lại nhất tâm
đồng thanh mà nói lời chỉnh cú này.
(24- Bạch đức
Thế hùng
25) đủ cả phước
tuệ!
xin ngài diễn
giảng
chánh pháp tối
thượng,
xin đem sức mạnh
của đại từ
bi
cứu độ chúng
sinh
đang bị khổ
não.
Khi ấy đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà yên lặng hứa nhận lời thỉnh
cầu ấy.
Chư vị tỷ kheo,
các vị Phạn vương ở năm trăm vạn ức cõi Phật thuộc
khu vức đông nam, ai cũng tự thấy cung điện của mình sáng
rực lên một cách trước đây chưa bao giờ có, nên hoan hỷ,
phấn chấn, thấy rất hy hữu, liền đến suy luận với nhau
về sự thể ấy. Trong chúng Phạn vương này có vị Đại
phạn vương tên là Đại Bi, nói vớùi cả chúng lời chỉnh
cú sau đây.
(26) Vì lý do nào
mà có cảnh tượng
cung điện chúng
ta
sáng hơn trước
đây?
(27-Một vị thiên
nhân
28) phước lớn
mới sinh?
hay một đức
Phật
xuất hiện thế
gian?
(29) Trước đây
chưa thấy
cảnh tượng như
vầy,
nên hãy cùng nhau
nhất tâm mà tìm.
(30) Hãy cùng đi
qua
vạn ức quốc
độ,
lần theo ánh sáng
mà tìm xuất xứ.
Nhiều phần chắc
chắn
đây là Phật
đà
xuất hiện cứu
độ
chúng sinh đau
khổ.
Bấy giờ các
vị Phạn vương của năm trăm vạn ức cõi Phật khu vức đông
nam, với cung điện theo mình, với túi vải đựng đầy hoa
chư thiên, cùng nhau đi về khu vức tây bắc, lần theo ánh
sáng mà tìm, thấy đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà ngồi
trên tòa sư tử dưới cây bồ đề trong bồ đề tràng, có
tám bộ và các chúng khác thuộc loài người và không phải
loài người, tôn kính bao quanh. Lại thấy mười sáu vị vương
tử đang thỉnh cầu ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp. Các
vị Phạn vương tức thì đem đầu mặt lạy ngang chân đức
Đại Thông Trí Thắng Phật đà, đi quanh ngài hàng trăm hàng
ngàn vòng, rồi đem hoa chư thiên mà tung rải trên ngài. Hoa
ấy như núi Tu di. Các vị Phạn vương cũng dùng hoa ấy mà
hiến cúng cây bồ đề của ngài. Hiến hoa rồi, các vị Phạn
vương ai cũng đem cung điện của mình dâng lên đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà, thưa rằng, bạch đức Thế Tôn,
xin ngài thương xót mà ích lợi cho chúng con, bằng cách rủ
lòng chấp nhận và sử dụng cung điện chúng con hiến cúng.
Đối trước ngài, các vị Phạn vương nhất tâm, đồng thanh,
đem lời chỉnh cú sau đây mà ca tụng.
(31) Vị chúa thánh
triết,
vị vua chư thiên,
tiếng như tiếng
chim
ca lăng tần dà!
Vị thầy thương
tưởng
hết thảy chúng
sinh!
Hôm nay chúng con
xin cùng kính lạy.
(32-Chư Phật Thế
Tôn
33) rất là hiếm
có,
thì gian lâu xa
mới hiện một
lần.
Đã qua một trăm
tám chục thời
kỳ,
cõi này trống
rỗng
không có Phật
nào;
ba nẻo đường
dữ
thì tràn đầy
cả,
còn chúng chư
thiên
ngày càng giảm
bớt.
(34) Ngày nay ngài
đã
xuất hiện ra
đây!
Ngài là mắt sáng
cho các chúng sinh,
là nơi thế gian
cùng đến nương
tựa,
là người cứu
vớt
che chở hết thảy,
là từ bi phụ
của cả chúng
sinh,
là người xót
thương
ích lợi tất
cả!
Tất cả chúng
con
nhờ phước đời
trước,
ngày nay mới được
gặp ngài xuất
hiện!
Các vị Phạn
vương đem lời chỉnh cú ca tụng đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà rồi, vị nào cũng thưa, bạch đức Thế Tôn, xin
ngài thương tưởng tất cả, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp
mà hóa độ chúng sinh. Các vị lại nhất tâm đồng thanh mà
nói lời chỉnh cú này.
(35) Bạch đức
Cao cả!
xin ngài chuyển
đẩy
bánh xe chánh pháp,
xin ngài phát lộ
thật tướng siêu
việt
của tất cả
pháp,
cứu độ hết
thảy
chúng sinh đau
khổ,
cho họ cùng được
niềm vui lớn
lao!
(36) Xin cho chúng
sinh
được nghe pháp
ấy,
để được tuệ
giác
hoặc sinh chư
thiên,
để bớt nẻo
dữ
và thêm người
lành.
Khi ấy đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà yên lặng hứa nhận lời thỉnh
cầu ấy.
Chư vị tỷ kheo,
các vị Phạn vương ở năm trăm vạn ức cõi Phật thuộc
khu vức chính nam, ai cũng tự thấy cung điện của mình sáng
rực lên một cách trước đây chưa bao giờ có, nên hoan hỷ,
phấn chấn, thấy rất hy hữu, liền đến suy luận với nhau
về sự thể ấy, rằng vì lý do nào mà cung điện chúng ta
có ánh sáng rực rỡ như vầy? Trong chúng Phạn vương này
có vị Đại phạn vương tên là Diệu Pháp, nói với cả chúng
lời chỉnh cú sau đây.
(37) Cung điện
chúng ta
sáng quá rực
rỡ,
tất có lý do,
cần nên tìm hiểu.
(38) Qua rồi hàng
trăm
hàng ngàn thời
kỳ,
mà chưa hề thấy
cảnh tượng như
vầy.
Một vị thiên
nhân
phước lớn mới
sinh?
hay một đức
Phật
xuất hiện thế
gian?
Bấy giờ các
vị Phạn vương của năm trăm vạn ức cõi Phật khu vức chính
nam, với cung điện theo mình, với túi vải đựng đầy hoa
chư thiên, cùng nhau đi về khu vức chính bắc, lần theo ánh
sáng mà tìm, thấy đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà ngồi
trên tòa sư tử dưới cây bồ đề trong bồ đề tràng, có
tám bộ và các chúng khác thuộc loài người và không phải
loài người, tôn kính bao quanh. Lại thấy mười sáu vị vương
tử đang thỉnh cầu ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp. Các
vị Phạn vương tức thì đem đầu mặt lạy ngang chân đức
Đại Thông Trí Thắng Phật đà, đi quanh ngài hàng trăm hàng
ngàn vòng, rồi đem hoa chư thiên mà tung rải trên ngài. Hoa
ấy như núi Tu di. Các vị Phạn vương cũng dùng hoa ấy mà
hiến cúng cây bồ đề của ngài. Hiến hoa rồi, các vị Phạn
vương ai cũng đem cung điện của mình dâng lên đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà, thưa rằng, bạch đức Thế Tôn,
xin ngài thương xót mà ích lợi cho chúng con, bằng cách rủ
lòng chấp nhận và sử dụng cung điện chúng con hiến cúng.
Đối trước ngài, các vị Phạn vương nhất tâm, đồng thanh,
đem lời chỉnh cú sau đây mà ca tụng.
(39) Thật là hiếm
có
được thấy Thế
Tôn,
đấng đã hủy
diệt
mọi sự phiền
nàõo!
Qua hết một trăm
ba mươi thời
kỳ,
nay mới một lần
lại được thấy
Phật.
(40) Biết bao chúng
sinh
đã quá khao khát,
xin đổ mưa pháp
cho sung mãn cả!
Lâu rồi chúng
con
chưa được nhìn
thấy
đấng có tuệ
giác
không có giới
hạn;
như hoa ưu đàm,
ngày nay mới thấy!
(41) Bao nhiêu cung
điện
của chúng con
đây
nhờ ánh sáng
ngài
mà càng tráng
lệ,
xin ngài thương
xót
nhận cho chúng
con.
Các vị Phạn
vương đem lời chỉnh cú ca tụng đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà rồi, vị nào cũng thưa, bạch đức Thế Tôn, xin
ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp để làm cho toàn thể
thế gian bao gồm chư thiên, ma vương, phạn vương, sa môn,
bà la môn, ai cũng được yên ổn, được giải thoát. Các
vị lại nhất tâm đồng thanh mà nói lời chỉnh cú này.
(42) Đấng tôn
cao nhất
chư thiên nhân
loaị,
xin chuyển bánh
xe
chánh pháp vô
thượng!
xin gióng lớn
lên
trống pháp vĩ
đại!
xin thổi vang lên
loa pháp to lớn!
(43) Xin đổ khắp
xuống
mưa pháp cao cả,
quảng độ vô
lượng
các loại chúng
sinh!
Cùng nhau kính
lạy,
chúng con thỉnh
cầu
Thế Tôn nói lên
tiếng nói sâu
xa.
Khi ấy đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà yên lặng hứa nhận lời thỉnh
cầu ấy.
Chư vị tỷ kheo,
khu vức tây nam cho đến khu vức thiên để cũng đều như
vậy. Và đến các vị Phạn vương ở năm trăm vạn ức cõi
Phật thuộc khu vức thiên đỉnh, ai cũng tự thấy cung điện
của mình đang ở sáng rực lên một cách trước đây chưa
bao giờ có, nên hoan hỷ, phấn chấn, thấy rất hy hữu, liền
đến suy luận với nhau về sự thể ấy, rằng vì lý do nào
mà cung điện chúng ta có ánh sáng rực rỡ như vầy? Trong
chúng Phạn vương ấy có vị Đại phạn vương tên là Thi
Khí, nói với cả chúng lời chỉnh cú sau đây.
(44) Vì sao hôm
nay
cung điện chúng
ta
sáng lên lộng
lẫy
huy hoàng khác
thường?
(45) Cảnh tượng
như vầy
chưa hề thấy
nghe.
(46) Một vị thiên
nhân
phước lớn mới
sinh?
hay một đức
Phật
xuất hiện thế
gian?
Bấy giờ các
vị Phạn vương của năm trăm vạn ức cõi Phật khu vức thiên
đỉnh, với cung điện theo mình, với túi vải đựng đầy
hoa chư thiên, cùng nhau đi về khu vức thiên để, lần theo
ánh sáng mà tìm, thấy đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà
ngồi trên tòa sư tử dưới cây bồ đề trong bồ đề tràng,
có tám bộ và các chúng khác thuộc loài người và không phải
loài người, tôn kính bao quanh. Lại thấy mười sáu vị vương
tửû đang thỉnh cầu ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp.
Các vị Phạn vương tức thì đem đầu mặt lạy ngang chân
đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà, đi quanh ngài hàng trăm
hàng ngàn vòng, rồi đem hoa chư thiên mà tung rải trên ngài.
Hoa ấy như núi Tu di. Các vị Phạn vương cũng dùng hoa ấy
mà hiến cúng cây bồ đề của ngài. Hiến hoa rồi, các vị
Phạn vương ai cũng đem cung điện của mình dâng lên đức
Đại Thông Trí Thắng Phật đà, thưa rằng, bạch đức Thế
Tôn, xin ngài thương xót mà ích lợi cho chúng con, bằng cách
rủ lòng chấp nhận và sử dụng cung điện chúng con hiến
cúng. Đối trước ngài, các vị Phạn vương nhất tâm, đồng
thanh, đem lời chỉnh cú sau đây mà ca tụng.
(47) Lành thay khi
được
thấy đấng Toàn
giác,
Thánh triết, Cứu
đời,
đấng có năng
lực
giải cứu chúng
sinh
trong ngục ba cõi!
(48) Là Thầy trời
người
thấy biết khắp
cả,
ngài rất thương
xót
bao loại chúng
sinh!
Và ngài khai mởû
cửa ngỏ bất
tử,
làm cho hết thảy
vượt đến bến
bờ!
(49) Vô số thời
kỳ
đã không có Phật!
Ngài chưa xuất
hiện,
mười phương
tối tăm:
(50) Ba nẻo đường
dữ
mãi hoài thêm
lên,
chủng loại tu
la
cũng được phồn
thịnh;
(51) còn chúng
chư thiên
thì bị giảm
bớt,
chết thì phần
nhiều
rơi vào đường
dữ,
vì đã không được
nghe Pháp với
Phật,
thường thường
hành động
những việc bất
thiện.
(52) Sắc đẹp,
sức khỏe,
cùng với trí
tuệ,
tất cả thứ
này
giảûm sút đồng
đều.
Vì hành động
ác
mà mất hạnh
phúc,
lại mất đến
cả
ý thức hạnh
phúc.
(53) Vướng mắc
khuôn phép
chủ thuyết tà
ngụy,
nên không biết
được
qui tắc tốt lành,
không được tiếp
nhận
ân Phật giáo
hóa,
thường bị rơi
vào
các nẻo đường
dữ.
(54) Nhưng nay thì
ngài,
con mắt của đời,
đã xuất hiện
ra
sau thì gian dài!
Nhưng nay thì ngài,
vì thương chúng
sinh,
đã xuất hiện
ra
giữa thế gian
này!
(55) Ngài đã siêu
việt,
đạt được tuệ
giác
chính xác hoàn
hảo:
chúng con rất
mừng!
Và bao chúng sinh
ai cũng hoan hỷ
và tán dương
ngài
là bậc hiếm
có!
(56) Bao nhiêu cung
điện
của chúng con
đây
nhờ ánh sáng
ngài
mà càng tráng
lệ,
chúng con phụng
hiến
lên đấng Thế
Tôn,
xin ngài thương
tưởng
mà nạp thọ cho.
(57) Chúng con nguyện
đem
công đức như
vầy
hiến khắp tất
cả
các loại chúng
sinh,
cầu cho chúng
con
cùng với chúng
sinh
đều được thành
tựu
tuệ giác chư
Phật.
Các vị Phạn
vương đem lời chỉnh cú ca tụng đức Đại Thông Trí Thắng
Phật đà rồi, vị nào cũng thưa, bạch đức Thế Tôn, xin
ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp, đem lại rất nhiều sự
yên ổn và rất nhiều sự giải thoát. Các vị lại nhất
tâm đồng thanh mà nói lời chỉnh cú này.
(58) Kính xin Thế
Tôn
chuyển bánh xe
pháp!
Xin ngài gióng
lên
trống pháp bất
tử!
Xin ngài giải
cứu
chúng sinh đau
khổ,
và mở chỉ ra
đường hướng
niết bàn!
(59) Xin ngài nhận
lời
chúng con thỉnh
cầu,
sử dụng âm thanh
cực kỳ mầu
nhiệm,
thương xót chúng
con
và bao chúng sinh,
nói ra cái pháp
mà ngài trải
qua
vô số thời kỳ
mới tập hợp
được!
*
Lúc bấy giờ
đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà nhận lời thỉnh cầu
của các vị Phạn vương ở khắp mười phương, và của mười
sáu vị vương tử, tức thì chuyển đẩy bánh xe chánh pháp
bốn chân lý, bằng cách ba lần chuyển đẩy với mười hai
phương thức, mà sa môn, bà la môn, hoặc chư thiên, ma vương,
phạn vương, hay bất cứ ai còn ở trong phạm vi thế gian,
đều không thể chuyển đẩy. Rằng đây là khổ... đây là
khổ tập hợp... đây là khổ tiêu diệt... đây là con đường
đạt đến khổ tiêu diệt... Bốn chân lý như vậy lại được
nói rộng ra thành mười hai duyên khởi: vô minh sinh thì hành
sinh, hành sinh thì thức sinh, thức sinh thì danh sắc sinh, danh
sắc sinh thì lục nhập sinh, lục nhập sinh thì xúc sinh, xúc
sinh thì thọ sinh, thọ sinh thì ái sinh, ái sinh thì thủ sinh,
thủ sinh thì hữu sinh, hữu sinh thì sinh sinh, sinh sinh thì già
chết lo buồn khổ não sinh; vô minh diệt thì hành diệt, hành
diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc
diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt,
xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt
thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh
diệt, sinh diệt thì già chết lo buồn khổ não diệt.
Khi đức Đại
Thông Trí Thắng Phật đà ở giữa đại hội các chúng, trong
đó có chư thiên và nhân loại, tuyên thuyết chánh pháp trên
đây thì có vạn ức lần trăm triệu người, vì không tham
đắm các pháp, nên đối với mọi sự sơ hở tâm được
giải thoát; bốn thiền, bốn định, ba minh trí, sáu thần
thông và tám giải thoát, những pháp sâu xa tinh túy như vậy
họ có đủ cả. Rồi lần thứ hai, lần thứ ba và lần thứ
tư, đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà tuyên thuyết chánh
pháp trên đây thì có hằng sa trăm triệu chúng sinh cũng vì
không tham đắm các pháp mà đối với mọi sự sơ hở tâm
được giải thoát. Từ đó về sau, riêng chúng thanh văn cũng
đã vô lượng vô biên, không thể mô tả hay tính toán.
*
Phần mười sáu
vị vương tử thì cùng nhau đem cái tuổi đồng niên mà xuất
gia làm sa di, các căn lanh lợi, trí tuệ thấu suốt, vì lẽ
ai cũng đã từng phụng sự trăm ngàn vạn ức chư Phật Như
Lai, thực hành phạn hạnh một cách trong sáng mà cầu tuệ
giác vô thượng. Tất cả mười sáu vị ấy cùng thưa đức
Đại Thông Trí Thắng Phật đà, rằng bạch đức Thế Tôn,
vô số trăm ngàn vạn ức chư vị thanh văn đại đức như
thế này đã thành thục cả rồi, kính xin đức Thế Tôn nói
cho chúng con về pháp của tuệ giác vô thượng. Chúng con nghe
được pháp ấy thì ai cũng cùng nhau tu học. Bạch đức Thế
Tôn, tâm chí của chúng con là nguyện được sự thấy biết
của Phật. Tâm chí như vậy, đức Thế Tôn tự biết cho chúng
con. Lúc ấy tám vạn ức người trong số đi theo vị luân
vương tổ phụ, thấy mười sáu vị vương tử xuất gia thì
cũng cầu xin xuất gia. Vị luân vương ấy cũng chấp thuận
tức khắc.
Đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà nhận lời thỉnh cầu của mười sáu
vị sa di, nên qua hai vạn thời kỳ rồi, ở giữa đại hội
bốn chúng, nói về bản kinh đại thừa tên Diệu Pháp Liên
Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn. Ngài
nói kinh ấy rồi, mười sáu vị sa di vì tuệ giác vô thượng
mà cùng tiếp nhận, ghi nhớ và đọc tụng một cách thông
suốt sắc sảo. Trong khi ngài nói kinh ấy thì mười sáu vị
sa di bồ tát, và chúng bồ tát, tin tưởng tiếp nhận được
cả. Trong chúng thanh văn cũng có vị tin hiểu. Nhưng người
khác, số lượng đến ngàn vạn ức, đều sinh ra nghi hoặc.
Đức Đại Thông
Trí Thắng Phật đà nói kinh Pháp Hoa suốt tám ngàn thời kỳ
mà không lúc nào ngưng bỏ. Nói rồi, ngài vào tịnh thất,
đặt mình vào sự thiền định đến tám vạn bốn ngàn thời
kỳ. Bấy giờ mười sáu vị Sa di Bồ tát biết ngài vào tịnh
thất mà vắng lặng thiền định, nên vị nào cũng lên pháp
tòa, và cũng trong thời gian tám vạn bốn ngàn thời kỳ ấy
vị nào cũng giảng giải một cách phong phú cho cả bốn chúng
về kinh Pháp Hoa. Vị nào cũng hóa độ chúng sinh nhiều bằng
trăm triệu hằng sa, trình bày, thuyết phục, khuyến khích,
tán thưởng, làm cho ai cũng phát tâm tuệ giác vô thượng.
Tám vạn bốn ngàn thời kỳ qua rồi, đức Đại Thông Trí
Thắng Phật đà xuất định, bước đến pháp tòa, thung dung
mà ngồi, tuyên cáo với cả đại hội các chúng: Mười sáu
vị Sa di Bồ tát này thật là hiếm có, các căn lanh lợi,
trí tuệ thấu suốt, và vị nào cũng đã phụng sự hàng ức
chư Phật Như Lai. Nơi chư Phật Như Lai ấy, các vị thường
xuyên thực hành phạn hạnh, nhận được tuệ giác Phật đà,
lại dạy cho chúng sinh vào được tuệ giác ấy. Các người
hãy luôn luôn thân gần mà phụng sự mười sáu vị ấy. Vì
lẽ bất cứ Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát, người nào tin
tưởng được kinh pháp do mười sáu vị Sa di Bồ tát này
tuyên thuyết, tiếp nhận và ghi nhớ mà không bác bỏ, thì
những người ấy ai cũng sẽ được tuệ giác Phật đà là
tuệ giác vô thượng.
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo chư vị Tỷ kheo, mười sáu vị Sa di Bồ tát thường
vui thích nói kinh Pháp Hoa. Những số chúng sinh nhiều bằng
trăm triệu hằng sa mỗi vị giáo hóa thì đời đời sinh ra
ở đâu cũng chung với mỗi vị, theo mỗi vị mà nghe pháp
thêm nữa, và nghe thì tin hiểu được cả. Do vậy mà số
chúng sinh ấy gặp được bốn vạn ức chư Phật Như Lai,
và việc ấy đến nay vẫn chưa chấm dứt.
Chư vị Tỷ kheo,
nay Như Lai nói để chư vị biết, mười sáu vị Sa di Bồ
tát, đệ tử của đức Đại Thông Trí Thắng Phật đà, hiện
nay cùng thành tựu tuệ giác vô thượng và đang thuyết pháp
giáo hóa ở khắp cả mười phương quốc độ. Vị nào cũng
có vô số trăm ngàn vạn ức Bồ tát và Thanh văn làm người
tùy thuộc. Hai vị thành Phật ở chính đông là A Súc Như
Lai tại quốc độ Hoan Hỷ và Tu Di Đảnh Như Lai. Hai vị thành
Phật ở đông nam là Sư Tử Âm Như Lai và Sư Tử Tướng Như
Lai. Hai vị thành Phật ở chính nam là Hư Không Trú Như Lai
và Thường Diệt Như Lai. Hai vị thành Phật ở tây nam là
Đế Tướng Như Lai và Phạn Tướng Như Lai. Hai vị thành Phật
ở chính tây là A Di Đà Như Lai và Độ Nhất Thế Thế Gian
Khổ Não Như Lai. Hai vị thành Phật ở tây bắc là Đa Ma La
Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông Như Lai và Tu Di Tướng Như
Lai. Hai vị thành Phật ở chính bắc là Vân Tự Tại Như Lai
và Vân Tự Tại Vương Như Lai. Một vị thành Phật ở đông
bắc là Hoại Nhất Thế Thế Gian Bố Úy Như Lai. Còn vị thứ
mười sáu là ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, thành tựu tuệ giác
vô thượng ở quốc độ Kham nhẫn này.
Chư vị Tỷ kheo,
như trên đã nói, khi chúng ta làm Sa di Bồ tát thì nào cũng
giáo hóa chúng sinh nhiều bằng trăm triệu hằng sa. Những
số chúng sinh này vì tuệ giác vô thượng mà vẫn theo nghe
pháp với chúng ta. Trong các số chúng sinh ấy, cho đến ngày
nay có những người vẫn còn ở vị trí Thanh văn, thì chúng
ta vẫn thường giáo hóa cho những người này bằng pháp của
tuệ giác vô thượng. Những người này vẫn phải được
đưa lần vào tuệ giác Phật đà bằng pháp ấy, vì tuệ giác
Phật đà thì thật khó tin khó hiểu.
Những người
này, mà thuộc về số hằng sa chúng sinh phần Như Lai giáo
hóa từ lúc Như Lai còn làm Sa di Bồ tát, thì chính là chư
vị, và chư vị đệ tử Thanh văn trong thì vị lai sau khi Như
Lai nhập diệt. Chư vị đệ tử Thanh văn sau khi Như Lai nhập
diệt cũng có những người không nghe kinh này, không hay không
biết gì về đường đi của Bồ tát, và đối với thành
quả của mình thì phát sinh ý tưởng nhập được Niết bàn.
Như Lai bấy giờ làm đức Phật giáo chủ ở quốc độ khác,
thay đổi danh hiệu khác; những người tuy phát sinh ý tưởng
nhập được Niết bàn như vậy, nhưng ở quốc độ khác mà
Như Lai đang làm đức Phật giáo chủ thì họ lại cầu tuệ
giác Phật đà, được nghe kinh này và biết rằng chỉ Niết
bàn bằng cỗ xe Phật đà chứ không bằng cỗ xe nào khác,
ngoại trừ Như Lai phương tiện thuyết pháp.
Chư vị Tỷ kheo,
bất cứ ở quốc độ nào, khi Như Lai tự biết thì giờ nhập
diệt sắp đến, chư Tăng lại thanh tịnh, sự tin hiểu cũng
vững chắc, ai cũng thấu triệt về Không, vào sâu tư duy tu,
thì Như Lai chiêu tập chúng Bồ tát và chúng Thanh văn mà nói
cho kinh Pháp Hoa này, minh xác rằng thế gian không có cỗ xe
thứ hai và cỗ xe thứ ba đưa đến Niết bàn, mà chỉ có
cỗ xe Phật đà duy nhất đưa đến Niết bàn mà thôi.
Chư vị Tỷ kheo,
nên biết Như Lai đủ mọi phương tiện, lại đi sâu vào bản
tính chúng sinh, biết chí nguyện của chúng sinh ưa thích giáo
pháp thấp nhỏ là vì vốn đã đắm sâu vào trong năm thứ
dục lạc; vì những người như vậy mà Như Lai nói đến niết
bàn, và họ nghe thì tin hiểu được. Sự thể ví như con đường
hiểm ác dài đến năm trăm do tuần, nằm trong chốn hoang vắng
và ghê rợn. Một đoàn nhiều người muốn vượt qua con đường
ấy để đến chỗ vàng ngọc. Có một vị hướng dẫn rất
thông minh, lại biết rõ con đường hiểm ác này chỗ nào
thông chỗ nào nghẽn. Vị ấy dẫn đoàn người vượt qua
con đường này. Nhưng đoàn người nửa đường đổ nhác,
muốn lui, thưa với vị hướng dẫn, rằng chúng tôi quá mệt
mà lại ghê sợ, không còn đi tới được nữa. Đường trước
còn xa, chúng tôi muốn lui về. Vị hướng dẫn có lắm chước
phương tiện, nghĩ rằng đoàn người này thật đáng thương,
sao lại bỏ vàng ngọc to lớn mà muốn trở về. Nghĩ rồi,
vị ấy sử dụng phương tiện lực, ngay nơi đoạn giữa của
con đường hiểm ác, chỗ đã qua ba trăm do tuần, biến hóa
một thành quách to lớn, và bảo họ, các người đừng sợ,
đừng về. Thành quách to lớn kia các người có thể vào nghỉ,
và muốn gì tùy ý: muốn ở luôn trong ấy thì yên ổn thích
thú, muốn đi tới để đến chỗ vàng ngọc thì cũng đi được.
Đoàn người mỏi mệt, lúc đó, lòng rất vui mừng, khen là
sự thể chưa từng có, rằng chúng ta bây giờ thoát khỏi
con đường hiểm ác và được an toàn rồi. Rồi cả đoàn
bước tới mà vào trong thành biến hóa, sinh ra ý tưởng đã
vượt qua, ý tưởng đã an toàn. Nhưng vị hướng dẫn, khi
biết đoàn người nghỉ ngơi hết mệt, tức thì diệt mất
cái thành biến hóa đi, bảo đoàn người hãy nên đi tới:
chỗ vàng ngọc đã gần đây. Cái thành to lớn vừa rồi chỉ
do ta hóa ra cho các người dừng nghỉ mà thôi.
Chư vị tỷ kheo,
Như Lai cũng vậy. Như Lai làm đại đạo sư cho chư vị. Như
Lai biết rõ đường dữ sống chết phiền não là con đường
đầy hiểm nạn mà lại xa dài, ai cũng phải rời bỏ, phải
vượt qua. Nhưng nếu chư vị chỉ nghe cỗ xe Phật đà duy
nhất thì sẽ không thích gặp Như Lai, không muốn thân gần,
vì nghĩ rằng tuệ giác Phật đà quá dài quá xa, siêng khó
lâu lắm mới được thành đạt. Như Lai biết rõ tâm lý khiếp
nhược hèn kém ấy nên dùng phương tiện lực, nói ra niết
bàn của thanh văn và duyên giác để cho chư vị dừng nghỉ
giữa đường. Khi chư vị đã đứng ở vị trí của thanh
văn và duyên giác rồi, Như Lai liền nói cho chư vị biết
việc làm của chư vị chưa được hoàn tất. Nhưng vị trí
của chư vị đang đứng thì đã gần đến tuệ giác Phật
đà. Chư vị hãy suy xét về niết bàn mà chư vị thực hiện:
niết bàn ấy không thật đâu. Niết bàn ấy chỉ do phương
tiện lực của Như Lai, nơi cỗ xe Phật đà duy nhất mà phân
ra nói có ba cỗ xe, tựa như vị hướng dẫn hóa ra thành quách
to lớn cho đoàn người dừng nghỉ. Dừng nghỉ rồi thì nói
cho họ biết chỗ vàng ngọc gần đây, còn thành biến hóa
này không thật, chỉ do ta biến hóa ra mà thôi.
Khi ấy đức Thế
Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(60) Đại Thông
Trí Thắng,
đức Phật đà
ấy
qua mười thời
kỳ
ngồi bồ đề
tràng
mà pháp chư Phật
vẫn chưa hiện
ra,
chưa được thành
tựu
tuệ giác chư
Phật.
(61) Chư thiên,
long vương,
cùng các bộ chúng
thường rưới
thiên hoa
để hiến cúng
ngài.
(62) Chư thiên
lại đánh
trống của chư
thiên
và hòa tấu lên
các nhạc khí
khác.
Gió thơm lướt
đến
thổi mất hoa
héo,
chư thiên rưới
thay
hoa mới và tốt.
(63) Hết mười
thời kỳ,
Trí Thắng Phật
đà
mới được thành
tựu
tuệ giác chư
Phật.
Chư thiên nhân
loại
lòng rất vui mừng.
*
(64) Mười sáu
vương tử
cùng vớùi tùy
thuộc
cả ngàn vạn
ức
cùng đến chỗ
Phật.
(65) Họ đem đầu
mặt
lạy ngang chân
ngài,
thỉnh cầu chuyển
đẩy
bánh xe chánh pháp,
rằng bậc Sư
tử
của các thánh
triết,
xin ngài đổ xuống
nước mưa chánh
pháp
sung túc chúng
con
cùng với tất
cả!
(66) Thế Tôn là
bậc
cực kỳ khó gặp,
sau thì gian dài
ngài mới xuất
hiện;
và muốn thức
tỉnh
các loại chúng
sinh,
ngài làm chấn
động
tất cả quốc
độ.
(67) Trong các quốc
độ
ở hướng chính
đông
số lượng có
đến
năm trăm vạn
ức,
cung điện Phạn
vương
sáng lên lộng
lẫy,
điều mà từ
xưa
họ chưa từng
thấy.
(68) Các vị Phạn
vương
thấy cảnh tượng
ấy,
lần theo ánh sáng
tìm đến chỗ
ngài,
cùng rải thiên
hoa
tôn kính hiến
cúng,
lại còn hiến
dâng
cung điện của
mình.
(69) Rồi thỉnh
cầu ngài
chuyển đẩy pháp
luân,
lấy lời chỉnh
cú
mà ca tụng ngài.
Và ngài biết
rõ
thì gian chưa đến,
nên nhận lời
họ
mà ngồi yên lặng.
(70) Ở ba hướng
khác
cùng với bốn
góc
và trên với dưới
cũng đều như
vậy:
(71) Cũng rải
thiên hoa
cũng hiến cung
điện
và thỉnh cầu
ngài
chuyển đẩy pháp
luân.
(72) Rằng thưa
Thế Tôn,
đấng Rất khó
gặp,
xin ngài đem lòng
từ bi cao cả
mà mở cho rộng
cửa ngõ bất
tử,
bằng cách chuyển
đẩy
pháp luân tối
thượng!
(73) Trí Thắng
Phật đà
tuệ giác vô lượng,
nhận lời thỉnh
cầu
của các vị ấy,
tuyên thuyết cho
họ
những pháp phong
phú,
là bốn chân lý
mười hai duyên
khởi.
(74) Ngài nói vô
minh
cho đến già chết,
toàn là do sinh,
tai họa như vậy
các người phải
biết.
(75) Khi thuyết
pháp này
có vạn ức lần
trăm triệu người
nghe,
hủy diệt cùng
tận
biên cương khổ
não
mà thành La hán.
(76) Thuyết lần
thứ hai,
ngàn vạn hằng
sa
các loại chúng
sinh
đối với các
pháp
không còn tham
đắm,
cũng thành La hán.
(77) Từ đó về
sau
những người
đắc đạo
số đến vô số,
vạn ức thời
kỳ
tính cũng không
biết
giới hạn số
ấy.
*
(78) Mười sáu
vương tử
lúc ấy xuất
gia
cùng làm sa di,
và rồi cùng nhau
thỉnh cầu đức
Phật
Đại Thông Trí
Thắng,
rằng xin Thế
Tôn
thuyết pháp đại
thừa,
(79) để cho chúng
con
cùng với tùy
thuộc
đều sẽ thành
tựu
tuệ giác Phật
đà,
ước nguyện cùng
được
y như Thế Tôn
đấng có mắt
tuệ
trong sáng bậc
nhất!
(80-Biết rõ tâm
lý
81) các vương
tử trẻ,
lại biết đạo
hạnh
đời trước của
họ,
ngài dùng vô số
yếu tố, ví dụ,
mà nói sáu pháp
ba la mật đa,
cùng với những
sự
thần thông diệu
dụng,
phân tích giảng
giải
về pháp chân
thật _
nghĩa là giảng
giải
đường đi bồ
tát,
(82) bằng cách
nói về
Diệu pháp Liên
hoa,
với những bài
kệ
nhiều bằng hằng
sa.
*
(83) Trí Thắng
Phật đà
nói kinh ấy rồi,
vào trong tịnh
thất
mà nhập thiền
định,
một lòng mà ngồi
ngồi nơi một
chỗ
ngồi tám vạn
tư
thời kỳ bậc
nhỏ.
(84) Bấy giờ
mười sáu
sa di bồ tát
biết đức Trí
Thắng
chưa xuất thiền
định,
nên cùng diễn
giảng
tuệ giác vô thượng
cho vô số ức
các loại chúng
sinh.
(85) Mỗi vị sa
di
ngồi một pháp
tòa,
và cùng diễn
giảng
về kinh Pháp Hoa,
góp sức vào việc
đem pháp giáo
hóa,
trong suốt thì
gian
ngài nhập thiền
định.
(86) Cả mười
sáu vị
mỗi vị hóa độ
chúng sinh nhiều
bằng
trăm triệu hằng
sa.
(87) Trí Thắng
Phật đà
nhập niết bàn
rồi,
những người
nghe pháp
mười sáu vị
này,
tại các cõi Phật
thường sinh với
thầy.
(88) Mười sáu
vị ấy
đã đi trọn vẹn
đường đi của
Phật,
hiện ở mười
phương
cùng thành các
đấng
Tuệ giác chính
xác.
(89) Những người
nghe pháp
vào lúc bấy giờ,
nay ở tại chỗ
các đức Phật
ấy;
trong đó có người
còn là thanh văn,
vẫn được dạy
lần
bằng tuệ giác
Phật.
*
(90) Như Lai là
một
trong số mười
sáu,
xa xưa đã từng
dạy bảo chư
vị.
Nên nay Như Lai
vận dụng phương
tiện
dẫn dắt chư
vị
đến mau Phật
tuệ.
(91) Do sự tương
quan
xa xưa như trên,
Như Lai ngày nay
tuyên thuyết Pháp
Hoa,
làm cho chư vị
nhập vào Phật
tuệ.
Chư vị thận
trọng,
đừng có kinh
hãi!
(92) Ví như con
đường
rất là hiểm
ác
trong chốn hoang
vu,
có lắm thú độc,
không cả cỏ
nước,
ai cũng khiếp
sợ.
(93) Một đoàn
nhiều người
vô số ngàn vạn
muốn vượt đường
ấy,
con đường hiểm
ác
mà lại xa đến
năm trăm do tuần.
(94) Một vị hướng
dẫn
có trí, nhớ kỹ,
sáng suốt, quả
quyết;
trong đường hiểm
ác,
vị ấy hướng
dẫn
đoàn người vượt
qua.
(95) Giữa đường
mới qua
ba trăm do tuần
thì họ mệt nhọc,
thưa vị hướng
dẫn
chúng tôi kiệt
lực
ngang đây muốn
về.
(96) Vị hướng
dẫn nghĩ
họ thật đáng
thương:
tại sao lại muốn
trở lui mà về,
mất phần lấy
được
vàng ngọc rất
quí.
(97) Vị ấy liền
nghĩ
một cách phương
tiện: