|
|
|
|
|
Cuốn
1
|
|
|
|
|
|
Cuốn
2
|
|
|
|
|
|
Cuốn
3
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
4
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
5
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
6
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
7
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
sao lục:
|
|
|
|
|
|
c
KINH
PHÁP HOA
(Hoa
Sen Của Chánh Pháp)
Phần
CHÍNH VĂN - Trí Quang
dịch
Phẩm
4:Tin hiểu
Lúc ấy Tu Bồ
Đề, vị tôn giả lấy tuệ giác làm sinh mạng, cùng các tôn
giả Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp và Mục Kiền Liên, từ nơi
đức Thế Tôn nghe được điều chưa từng có, là nghe đức
Thế Tôn trao cho tôn giả Xá Lợi Phất lời ghi thành tựu
tuệ giác vô thượng, thì thấy thật là hiếm có, nên hoan
hỷ, phấn chấn, tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa
pháp y, trần vai phải, đầu gối bên phải quỳ xuống chấm
đất, chuyên nhất tâm trí mà chắp tay chiêm ngưỡng đức
Thế Tôn, rồi cúi mình, cung kính thưa rằng, bạch đức Thế
Tôn, chúng con ở vào địa vị đứng đầu chư Tăng, tuổi
cũng già cả, ai cũng tự cho đã được Niết bàn, không kham
làm gì được nữa, không thể bước tới mà cầu tuệ giác
vô thượng. Trước đây, mỗi khi đức Thế Tôn thuyết pháp
lâu, thì chúng con lúc ấy cũng ngồi tại chỗ nghe pháp, nhưng
cơ thể mệt mỏi, chỉ nghĩ nhớ về không, không sắc tướng
và không ưa thích. Còn đối với pháp Bồ tát, như thần thông
du hóa mà làm sạch thế giới làm nên chúng sinh, thì chúng
con không có ý gì thích thú. Như vậy là vì đức Thế Tôn
đã làm cho chúng con thoát ba cõi, chứng Niết bàn, thêm nữa
tuổi chúng con đã già cả, nên đối với tuệ giác vô thượng
mà đức Thế Tôn dạy cho Bồ tát, chúng con không có một
ý niệm ham thích. Ngày nay, đối trước đức Thế Tôn, chúng
con được nghe ngài trao cho Thanh văn lời ghi thành tựu tuệ
giác vô thượng thì lòng quá hoan hỷ, được sự chưa từng
có. Chúng con không ngờ ngày nay bỗng nhiên nghe được điều
hiếm có ấy. Chúng con tự mừng một cách sâu xa vì được
ích lợi vĩ đại, vô số ngọc báu chúng con không cầu mà
tự được cả.
Bạch đức Thế
Tôn, bây giờ chúng con thích thú mà trình bày một sự ví
dụ để thưa rõ ý nghiã như vậy. Ví như có người tuổi
đã nhỏ dại mà lại bỏ cha trốn đến xứ khác, ở lâu
mười năm, hai mươi năm, cho đến năm mươi năm. Khi tuổi
lớn rồi, lại thêm nghèo khốn, người ấy bôn ba khắp nơi
để kiếm cơm áo, lần hồi đến nhằm đô thành cha ở. Còn
người cha thì từ trước đến giờ tìm con mà không được,
nên dừng lại mà ở tại đô thành ấy. Ông rất giàu có.
Tài sản và bảo vật, đại loại như bạc vàng, lưu ly, san
hô, hổ phách, pha lê và chân châu thì vô số. Mọi kho tàng
đều tràn đầy. Có lắm phụ tá, môn lại và tôi tớ. Voi
ngựa, xe cộ và bò dê thì vô số kể. Lợi tức thu chi khắp
cả các nước. Thương khách rất đông đảo.
Người con nghèo
khốn đi qua các vùng dân cư, hết xứ lớn đến xứ nhỏ,
và rồi đến nhằm đô thành cha ở. Người cha vẫn thường
nhớ con. Xa con hơn năm mươi năm mà ông chưa bao giờ nói việc
ấy với ai, chỉ nghĩ riêng mà buồn tiếc. Ông lo già cả,
nhiều của, vàng bạc kho tàng tràn đầy mà không có con cháu,
một mai chết đi thì của ấy tiêu tan vì không có người
để giao phó. Lo nghĩ như vậy nên ông thường tha thiết nhớ
con. Ông nghĩ nếu gặp con để giao của thì hết lo hết nghĩ,
vui thích biết mấy.
Bạch đức Thế
Tôn, người con nghèo khốn làm thuê làm mướn, lần hồi đến
nhằm lâu đài người cha, đứng lại bên cửa, xa thấy người
cha ngồi trên ngai sư tử mà ghế đẩu nâng chân cũng trang
hoàng vàng ngọc. Bà la môn, sát lợi và cư sĩ thì kính cẩn
bao quanh. Thân ông trang sức bằng chuỗi ngọc chân châu giá
trị ngàn vạn tiền vàng. Môn lại và tôi tớ thì cầm quạt
lông trắng đứng hầu hai bên. Trên đầu thì che trướng đính
ngọc và treo rủ xuống là những dải phan kết hoa. Dưới
đất thì được rưới nước thơm và rải những thứ hoa
danh tiếng. Bảo vật thì la liệt và đang được thu chi. Đủ
thứ hoa mỹ và đặc biệt tôn nghiêm như vậy. Người con
nghèo khốn thấy người cha tư thế lớn lao đến thế thì
sợ hãi, hối tiếc đến nhằm chỗ này. Nghĩ thầm đây là
vua hoặc ngang với vua, không phải chỗ mình làm mướn kiếm
ăn. Chẳng bằng đi đến xóm nghèo, có chỗ bán sức, cơm
áo dễ kiếm hơn. Ta đứng mãi ở đây thì có thể bị cưỡng
bách làm việc. Nghĩ vậy nên bỏ chạy thật mau. Người cha,
vị trưởng giả giàu có ấy, ngồi trên ngai sư tử nhưng
thấy con thì nhận biết được liền, lòng rất vui mừng,
nghĩ rằng bảo vật kho tàng của ta nay đã có người để
giao phó rồi. Ta nhớ mãi đứa con này, không làm sao gặp được
mà nay nó bỗng nhiên tự đến, rất hợp nguyện ước của
ta. Ta già rồi mà vẫn ham con tiếc của! Tức thì sai phái
viên cấp tốc chạy theo dẫn về. Phái viên chạy mau đến
bắt. Người con nghèo khốn kinh hãi, lớn tiếng kêu oan, tôi
đâu có xúc phạm gì đến các người, tại sao các người
bắt tôi? Phái viên bắt càng gấp, kéo bừa dẫn về. Người
con nghèo khốn tự nghĩ vô tội mà bị bắt như bắt tù thì
chắc phải chết. Càng nghĩ càng sợ nên ngất đi mà ngã xuống
đất. Người cha từ xa thấy vậy thì bảo phái viên, ta không
cần người này nữa; đừng dẫn người này về theo cách
cưỡng bách như thế. Hãy lấy nước lạnh rưới mặt cho
người này tỉnh lại, nhưng đừng nói gì với người này
nữa. Người cha bảo như vậy vì biết con mình ý chí thấp
hèn. Ông tự biết chính sự cao sang của mình làm cho con mình
khiếp sợ. Biết đích là con trai của mình, nhưng người cha
áp dụng phương tiện, không nói với ai rằng người này là
con tôi. Ông bảo phái viên nói với con mình, rằng ta thả
anh, anh đi đâu tùy ý. Người con nghèo khốn mừng như được
sự chưa từng có, từ đất đứng dậy, đi đến xóm nghèo
để kiếm cơm áo.
Trưởng giả muốn
dẫn dụ con mình nên lập chước phương tiện. Ông kín đáo
sai hai phái viên hình sắc tiều tụy, không oai phong gì, dặn
rằng các người đi tìm người nghèo khốn vừa rồi, từ
từ nói rằng ở đây ta có việc thuê làm, trả giá gấp đôi.
Người ấy chịu thì các người dẫn về cho làm. Người ấy
có hỏi muốn thuê làm gì, thì các ngươi bảo thuê quét dọn
dơ bẩn, và chúng tôi cùng làm với anh. Hai phái viên tức
khắc đi tìm người con nghèo khốn. Tìm được nói rõ mọi
việc. Người con nghèo khốn hỏi biết giá thuê, rồi đi liền
đến lâu đài người cha mà quét dọn dơ bẩn với hai người
kia.
Người cha thấy
con như vậy thì vừa thương xót vừa quái lạ. Ngày khác,
từ trong cửa sổ, ông xa thấy thân con gầy ốm tiều tụy,
phân đất bụi bặm làm bẩn cả người. Tức khắc ông cởi
chuỗi ngọc, cởi áo mềm mịn thượng hạng và bao nhiêu đồ
trang sức khác, thay vào, ông mặc chiếc áo thô rách cáu bẩn,
lại làm cho bụi đất lấm lem cả người, rồi tay phải cầm
dụng cụ quét dọn dơ bẩn, bộ dáng có vẻ ghê sợ đồ
dơ, đến bảo những người làm thuê: Các người hãy làm
cho siêng, đừng nhác đừng nghỉ. Với cách phương tiện ấy
ông mới gần được con ông. Sau đó lại bảo: Chàng trai này,
hãy làm luôn ở đây, đừng đi đâu nữa. Ta sẽ trả thêm
tiền thuê cho anh. Cần gì về thau chậu, gạo bún, muối giấm,
thì đừng có e ngại. Có người sai vặt vừa già vừa xấu
kia, cần thì ta cấp cho. Anh hãy yên tâm. Ta như cha anh, anh
đừng lo nghĩ gì cả. Ta đối xử như vậy là vì ta già cả
mà anh trai trẻ, vời lại anh làm việc thường không dối
không nhác, không tức giận không oán than. Ta không thấy anh
có những tính xấu ấy như các người làm thuê khác. Từ
nay về sau anh như con trai của ta sinh ra. Trưởng giả tức
thì đặt cho cái tên gọi là con. Người con nghèo khốn, dẫu
mừng vì sự đãi ngộ ấy, vẫn tự xưng như cũ, rằng mình
là người ngoài, người làm thuê hèn hạ. Do vậy mà trong
hai mươi năm trời, vẫn chỉ được bảo quét dọn dơ bẩn.
Qua thì gian này rồi lòng mới tin nhau, và người con nghèo
khốn ra vào trong lâu đài một cách không e ngại gì nữa.
Nhưng chỗ ở thì vẫn thích ở chỗ cũ.
Bạch đức Thế
Tôn, bấy giờ trưởng giả bị bịnh, tự biết gần mất,
mới bảo người con nghèo khốn, ta có lắm vàng ngọc, kho
tàng tràn đầy. Trong đó ø nhiều ít và đáng thu đáng chi
thế nào, con phải biết cho rõ. Ý cha như vậy, con phải thể
theo. Nay thì cha với con không khác gì cả. Con phải chú ý,
đừng để thất thoát. Người con nghèo khốn, khi ấy, tức
thì vâng lời, lãnh nhận và biết rõ mọi thứ, từ vàng ngọc
cho đến kho tàng. Nhưng không có ý gì mong lấy cho đủ một
bữa ăn, và chỗ ở vẫn ở chỗ cũ, tâm lý thấp kém vẫn
chưa bỏ được. Phải qua ít lâu nữa, cha biết con tâm trí
đã thênh thang, chí lớn đã thành đạt, đã biết tự khinh
bỉ tâm lý ngày trước của mình, nên lúc sắp chết, ông
gọi con và triệu tập họ hàng, quốc vương, đại thần,
sát lợi, cư sĩ. Mọi người tập họp cả rồi, ông tự tuyên
bố, rằng xin các vị biết cho, người này là con trai của
tôi, do tôi sinh ra. Trước đây, tại đô thành cũ, con tôi
đã bỏ tôi mà trốn chạy, lưu lạc khổ sở hơn năm mươi
năm. Con tôi vốn tên như vậy, tôi tên như vậy. Ngày xưa,
tại đô thành ấy tôi lo lắng tìm kiếm mà không được,
ngày nay, tại đô thành này bỗng nhiên tôi gặp được con
tôi. Nó thật con tôi, tôi thật cha nó. Ngày nay, hết thảy
tài sản bảo vật của tôi đều là của con tôi, và trước
đây thu chi thế nào, con tôi đã biết rõ cả. Bạch đức
Thế Tôn, khi người con nghèo khốn nghe lời ấy của người
cha trưởng giả thì cùng cực vui mừng, được sự chưa từng
có, nghĩ rằng mình vốn không có lòng nào mong cầu, vậy mà
ngày nay kho báu tự đến.
Bạch đức Thế
Tôn, người cha, vị trưởng giả giàu có ấy là đức Thế
Tôn. Chúng con chỉ như chư Phật, nhưng đức Thế Tôn vẫn
thường gọi chúng con là con Phật. Bạch đức Thế Tôn, chúng
con vì ba sự đau khổ mà chịu bao nhiêu nóng rát phiền bực
trong chốn sống chết, đời này vẫn ngu và lầm, không biết
nhận thức gì hết nên ưa thích giáo pháp thấp nhỏ. Đức
Thế Tôn phải bảo chúng con vận dụng tư duy tu mà quét dọn
cho sạch hý luận dơ bẩn đối với các pháp. Trong huấn dụ
ấy, chúng con nổ lực tinh tiến, đạt được Niết bàn như
cái giá một ngày làm thuê. Đạt được như vậy mà lòng
chúng con rất mừng, tự cho đầy đủ, và tự bảo, ở trong
giáo pháp của đức Thế Tôn, chúng con nhờ nổ lực tinh tiến
mà đã nhận được rất nhiều. Nhưng đức Thế Tôn biết
tâm lý chúng con vốn đắm say dục lạc thô tệ, bị khổ
vì thế mà thành ra ưa thích giáo pháp thấp nhỏ, nên tạm
thời buông thả, bỏ đó mà chưa phán bảo rằng các người
cũng có phần nhận được kho tàng tuệ giác của Như Lai,
măëc dầu đức Thế Tôn đã khéo léo nói cho chúng con biết
về kho tàng tuệ giác ấy. Chúng con, từ đức Thế Tôn, nhận
được Niết bàn chỉ như cái giá làm thuê một ngày mà lại
cho là đã được lớn lao, còn đối với cỗ xe vĩ đại thì
chúng con không có chí nguyện gì mong cầu. Chúng con cũng dựa
vào tuệ giác của đức Thế Tôn mà diễn giảng tuệ giác
ấy cho chư vị Bồ tát, nhưng tự mình thì không có chí mong
ước. Như vậy là vì đức Thế Tôn biết tâm lý chúng con
ưa thích giáo pháp thấp nhỏ nên áp dụng phương tiện mà
thuyết pháp theo tâm lý chúng con, và chúng con không hề biết
mình là thật con Phật. Ngày nay chúng con mới biết đức Thế
Tôn không tiếc lẩn gì về tuệ giác của ngài; chỉ vì chúng
con tuy xưa nay vẫn là thật con Phật mà lại ưa thích thấp
nhỏ, nếu biết ưa thích vĩ đại thì ngài đã dạy cho giáo
pháp vĩ đại. Ngày nay, qua kinh Pháp Hoa này, đức Thế Tôn
tuyên bố chỉ có cỗ xe Phật đà duy nhất, như vậy ngày
trước, trước mặt chư vị Bồ tát, ngài chê Thanh văn chúng
con ưa thích giáo pháp thấp nhỏ là, sự thật, ngài chỉ muốn
đem giáo pháp vĩ đại mà giáo hóa chúng con. Do vậy nên chúng
con nói chúng con vốn không có tâm nguyện gì mong cầu mà ngày
nay kho báu vĩ đại của đấng Pháp vương tự đến với chúng
con: con Phật đáng nhận được gì thì chúng con đã nhận
được cả.
Lúc ấy tôn giả
Đại Ca Diếp muốn lặp lại ý nghiã đã nói, nên nói những
lời chỉnh cú sau đây.
(1) Nay chúng con
nghe
tiếng nói Thế
Tôn,
lòng mừng rộn
rã
được chưa từng
có.
(2) Đức Thế
Tôn nói
chư vị Thanh văn
sẽ được làm
Phật
như vậy có nghĩa
đống ngọc tối
thượng
của đức Thế
Tôn,
chúng con không
cầu
mà tự nhận được.
(3) Như đứa bé
trai
nhỏ dại ngu ngơ,
bỏ cha trốn đi
đến xứ xa lạ.
(4) Lang thang các
xứ
hơn năm mươi
năm.
Người cha lo nhớ
tìm kiếm khắp
nơi.
(5) Tìm kiếm quá
mệt
dừng một đô
thành,
tạo lập lâu
đài
vui với ngũ dục.
(6- Ông rất giàu
sang
8) có lắm bạc
vàng
xa cừ mã não
chân châu lưu
ly,
voi ngựa dê bò,
xe liễn xe dư
và xe thuyền khác;
có lắm ruộng
đất
lắm người phục
dịch
và nhiều môn
lại.
Lợi tức thu chi
khắp cả các
nước,
thương khách buôn
bán
ở đâu cũng có.
Có vạn ức người
kính trọng hướng
về.
Thường được
vua chúa
quí mến quan tâm,
quan quyền thân
hào
ai cũng tôn trọng.
Vì nhiều duyên
cớ
đông người qua
lại.
(9- Giàu sang đến
thế
10) thế lực lại
lớn,
nhưng mà tuổi
già
nên càng nhớ
con,
ngày đêm lo nghĩ.
Rằng chết sắp
đến,
con dại bỏ ta
hơn năm mươi
năm,
kho tàng bảo vật
rồi làm sao đây.
(11) Người con
nghèo khốn
vì kiếm cơm áo
từ xứ nhỏ này
đến xứ nhỏ
khác,
từ xứ lớn khác
đến xứ lớn
này.
(12) Chỗ thì cũng
có,
chỗ không có
gì,
đói khát gầy
ốm
mình sinh ghẻ
chốc.
(13) Lần hồi
đi đến
nhằm ngay đô
thành
của người cha
ở,
làm thuê làm mướn
và rồi đến
nhằm
lâu đài người
cha.
(14) Trưởng giả
lúc ấy
ngồi ở trong
cửa,
chăng trướng
báu lớn
ngồi ngai sư tử.
Tùy thuộc bao
quanh
lắm kẻ phục
dịch.
(15) Lại có những
người
kế toán vàng
ngọc,
thu chi tiền của,
ghi chép giấy
tờ.
(16) Người nghèo
thấy cha
sang cả tôn nghiêm
thì cho là vua
hoặc ngang với
vua,
sợ và tự quái
đến chi chốn
này!
(17) Lại nghĩ
nếu ta
đứng mãi ở
đây,
có thể bị ép
bắt buộc làm
việc.
Nghĩ suy như thế
người nghèo bỏ
chạy
để hỏi xóm
nghèo
mà đến làm thuê.
(18) Trưởng giả
lúc ấy
ngồi ngai sư tử,
xa thấy con mình
biết mà không
nói,
sai ngay phái viên
đuổi bắt đem
về.
(19) Người nghèo
kêu hoảng
ngất xỉu xuống
đất,
vì nghĩ người
này
bắt mình chắc
giết.
Vị gì cơm áo
đến nhằm chỗ
này!
(20) Trưởng giả
biết con
u mê hèn kém,
chắc chắn không
tin
ta nói là cha.
(21) Ông liền
phương tiện
đổi sai vài người
chột mắt, lùn
xấu,
không chút oai
phong,
rằng hãy tìm
bảo
muốn thuê mướn
nó,
(22) quét dọn
dơ bẩn
trả giá gấp
đôi.
(23) Người nghèo
nghe nói
vui vẻ đi theo
đến dọn dơ
bẩn
làm sạch phòng
nhà.
(24) Nhìn qua cửa
sổ
trưởng giả thường
xuyên
quan sát con mình,
nghĩ rằng con
mình
ngu muội thấp
kém
thích làm việc
hèn.
(25) Do đó trưởng
giả
đổi mặc áo
dơ
cầm đồ dọn
bẩn
đi đến chỗ
con,
phương tiện gần
gũi
bảo hãy siêng
làm.
(26) Ta thêm tiền
công
cho dầu xoa chân
ăn uống đầy
đủ
đệm chiếu dày
ấm.
(27) Trưởng giả
la mắng
anh làm cho siêng,
lại dịu dàng
bảo
anh như con ta.
(28) Trưởng giả
khéo léo,
lần hồi sai bảo
ra vào lâu đài.
Sau hai mươi năm,
bảo nắm mọi
việc
trong lâu đài
ấy.
(29) Ông chỉ cho
biết
tất cả vàng
ngọc,
tài sản thu chi
cũng cho biết
cả.
(30) Được đãi
như vậy
nhưng người nghèo
khốn
vẫn ở ngoài
cửa
nương náu chòi
tranh,
tự nghĩ mình
nghèo
đâu có của đó.
(31- Thêm ít lâu
nữa
33) trưởng giả
biết con
tâm chí dần dần
đã lớn rộng
ra.
Muốn giao tài
sản,
ông họp họ hàng
quốc vương đại
thần
sát lợi cư sĩ.
Trước những
người ấy
ông nói người
này
là con trai tôi,
bỏ tôi mà trốn
đi đến xứ khác
đến năm mươi
năm.
Từ khi gặp lại
cho đến ngày
nay
cũng đã trải
qua
hai mươi năm nữa.
Xưa nơi thành
ấy
mất người con
này,
tôi tìm khắp
nơi
mới đến ở
đây.
(34) Ngày nay tất
cả
tài sản tôi có,
kể cả lâu đài
và bao gia nhân
đều giao con tôi
mặc ý sử dụng.
(35) Người nghèo
khi ấy
tự nghĩ xưa kia
mình quá nghèo
khốn
tâm chí thấp
hèn,
nay từ nơi cha
cả được vàng
ngọc
được luôn lâu
đài
được hết tài
sản,
nên rất vui mừng
như chưa từng
có.
*
(36) Thế Tôn cũng
vậy.
Biết rõ chúng
con
chí thích thấp
nhỏ,
nên ngài chưa
hề
tuyên bố chúng
con
cũng được làm
Phật,
chỉ nói chúng
con
đạt được một
ít
thành quả thuần
khiết
và thành những
vị
đệ tử Thanh
văn
trong cỗ xe nhỏ.
(37) Thế Tôn sắc
bảo
chúng con giảng
nói
đường lối tối
thượng,
đường lối mà
ai
tu tập trọn vẹn
đều sẽ thành
Phật.
(38) Vâng lời
Thế Tôn
chúng con cũng
đã
vận dụng những
thứ
yếu tố ví dụ
cùng bao lời chữ
mà giảng nói
về
đường lối tối
thượng
cho đại bồ tát.
(39) Những con
Phật ấy
từ nơi chúng
con
nghe đường lối
này,
ngày đêm tư duy
nỗ lực tu tập,
bấy giờ Thế
Tôn
cùng với chư
Phật
liền thọ ký
cho,
rằng trong vị
lai
sẽ được làm
Phật.
(40) Do vậy chúng
con
từng nghĩ lầm
rằng
kho tàng bí yếu
của Phật Thế
Tôn
chỉ có bồ tát
mới được nói
cho,
chúng con không
được
nói cho pháp ấy.
Ngày nay chúng
con
tự biết in như
kẻ nghèo khốn
kia
dầu được gần
cha
và biết bảo
vật
mà không mong lấy;
(41) chúng con giảng
nói
kho báu chánh pháp
của Phật Thế
Tôn,
mà tự chúng con
không chí muốn
có
thì cũng như vậy.
(42) Chúng con mới
được
niết bàn nội
tại
mà lại tự cho
đã là đầy đủ,
chỉ biết sự
ấy
không biết gì
hơn.
Chúng con nếu
được
nghe nói những
việc
làm sạch thế
giới
làm nên chúng
sinh
thì không cảm
thấy
thích thú chút
nào.
(43) Tại sao như
vậy,
bởi vì toàn thể
các pháp đều
không:
không sinh không
diệt
không lớn không
nhỏ
đã không phiền
não
cũng không khử
trừ,
tư duy như vậy
cho nên chúng con
không còn thích
gì.
(44) Với tuệ
giác Phật
chúng con trường
kỳ
không ham không
mê
không chí ưa thích,
trong khi đối
với
niết bàn của
mình
thì lại tự cho
đã là cứu cánh.
(45) Chúng con trường
kỳ
tu tập về Không,
thoát được cái
họa
khổ não ba cõi,
làm cho thân này
thành thân cuối
cùng,
và thực hiện
được
niết bàn chưa
toàn;
thế là đối
với
giáo huấn Thế
Tôn
chúng con tự cho
đã thực hiện
được
một cách chắc
chắn,
và cho thế là
đã báo đáp được
hồng ân Thế
Tôn.
(46) Cho dẫu chúng
con
nói pháp bồ tát
cho các con Phật
để họ cầu
được
tuệ giác Phật
đà,
nhưng chính chúng
con
đối với pháp
ấy
không thích bao
giờ.
(47) Đức Đại
đạo sư
bỏ qua chúng con
chính vì xét thấy
tâm lý như vậy.
Và chưa bao giờ
ngài khuyên chúng
con
tinh tiến bước
tới
bằng cách nói
rõ
bước tới thì
có
ích lợi chân
thật.
(48) Như trưởûng
giảû giàu
biết con chí kém
nên dùng phương
tiện
khắc phục lòng
con,
rồi sau mới giao
tất cả tài sản.
(49) Thế Tôn cũng
vậy,
làm việc hiếm
có:
biết rằng chúng
con
chí thích thấp
nhỏ
nên đức Thế
Tôn
dùng phương tiện
lực
trước hết thuần
hóa
tâm trí chúng
con,
sau đó mới dạy
tuệ giác vĩ đại.
*
(50) Ngày nay chúng
con
được chưa từng
được,
vốn không hy vọng
nay tự được
cả,
như người nghèo
khốn
được bao của
báu.
(51) Bạch đức
Thế Tôn,
ngày nay chúng
con
mới được tuệ
giác
và được thành
quả:
được mắt trong
suốt
thấy pháp thuần
khiết.
Chúng con trường
kỳ
nghiêm trì tịnh
giới,
ngày nay bắt đầu
nhận được thành
quả.
(52) Ở trong giáo
pháp
của đức Pháp
vương,
chúng con lâu ngày
thực hành phạn
hạnh,
ngày nay nhận
được
thành quả vĩ
đại
đã rất thuần
khiết
lại không gì
hơn.
(53) Chúng con ngày
nay
mới thật Thanh
văn:
đem cái tiếng
nói
của tuệ giác
Phật
mà phát lộ ra
cho mọi người
nghe.
(54) Chúng con ngày
nay
cũng thật La hán:
khắp trong thế
gian
bao gồm tất cả
chư thiên nhân
loại
ma vương phạn
thiên,
chúng con ứng
thọ
cho họ hiến cúng.
*
(55) Hồng ân Thế
Tôn
thật là cao cả:
ngài đã vận
dụng
mọi cách hiếm
có
thương xót giáo
hóa
ích lợi chúng
con.
Nên dẫu trải
qua
vô số thời kỳ,
ai mà trả được
hồng ân như vậy.
(56) Tay chân phục
dịch
đầu đỉnh lễ
kính,
cúng hiến tất
cả
cũng không trả
được.
Đội bằng đỉnh
đầu
vác với hai vai,
hằng sa thời
kỳ
tôn kính hết
lòng;
(57-lại hiến
cỗ bàn
58) cực kỳ mỹ
vị,
hay dâng vải quí
nhiều đến vô
lượng,
đồ nằm thuốc
thang
cúng hiến đủ
cả;
đem gỗ đàn hương
và những vàng
ngọc
mà dựng bảo
tháp
và cất tự viện,
rồi dùng vải
quí
mà trải mặt
đất;
với những cách
ấy
hiến cúng Thế
Tôn
hằng sa thời
kỳ
cũng không trả
được.
(59) Thế Tôn là
bậc
cực kỳ hiếm
có,
lại có đủ cả
vô lượng vô
biên
đại thần thông
lực
ngoài tầm nghĩ
bàn;
ngài không sai
sót
lại không xao
động,
làm một vị vua
thống lãnh các
pháp,
vậy mà có thể
vì kẻ thấp kém,
ngài nhẫn chịu
được
mọi sự thấp
kém.
(60) Đối với
bao kẻ
phàm phu cố chấp,
ngài vẫn tùy
nghi
mà thuyết pháp
cho,
bởi vì đối
với
tất cả các pháp
Thế Tôn đã được
sự rất tự tại.
(61) Thế Tôn biết
hết
thị hiếu, sở
thích,
chí hướng, năng
lực
của các chúng
sinh,
tùy sức của
họ
kham nhiệm được
gì
thì dùng vô lượng
những sự ví
dụ
mà thuyết cho
họ
giáo pháp phong
phú.
(62) Lại tùy căn
lành
mà chúng sinh có
từ các đời
trước,
và biết rất
rõ
ai đã thuần hóa
ai chưa thuần
hóa;
xét đủ mọi
mặt
biết rành tất
cả,
rồi chính ở
nơi
cỗ xe duy nhất,
Thế Tôn tuỳ
nghi
nói ba cỗ xe.
_________
Kết thúc tụng
kinh Pháp Hoa, chúng con xin hồi hướng:
Vạn ức thời
kỳ
không thể nói
được
mới được có
lúc
Phật nói Pháp
Hoa.
Vạn ức thời
kỳ
không thể nói
được
mới được có
lúc
nghe nói Pháp Hoa.
Chúng con nương
nhờ
Phật Pháp Tăng
lực
mới được trì
tụng
Diệu Pháp Liên
Hoa.
Chúng con nguyện
đem
công đức như
vầy
hiến khắp tất
cả
các loaị chúng
sinh,
cầu cho chúng
con
cùng với chúng
sinh
đều được thành
tựu
tuệ giác chư
Phật.
Kính lạy kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ
đại, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn.
Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười
phương quốc độ.
Kính lạy đức
Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết
kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng
cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc,
đức Phật đương lai, đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp
dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãõng sinh Đâu suất tịnh
độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong
quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
Kính lạy bồ
tát Văn Thù, vị pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy bồ tát Phổ Hiền,
vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy bồ tát Quan Âm, vị đại
sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ
tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp
Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ

x |