|
|
|
|
|
Cuốn
1
|
|
|
|
|
|
Cuốn
2
|
|
|
|
|
|
Cuốn
3
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
4
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
5
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
6
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
7
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
sao lục:
|
|
|
|
|
|
c
KINH
PHÁP HOA
(Hoa
Sen Của Chánh Pháp)
Phần
CHÍNH VĂN - Trí Quang
dịch
Cuốn
2
Ngưỡng bạch
Phật Pháp Tăng vô tận tam bảo từ bi chứng minh. Đệ tử
chúng con nguyện vì bản thân, vì cha mẹ bà con, vì người
thân kẻ thù, vì mọi người và vì chúng sinh, trì tụng kinh
đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa.
Mở đầu tụng
kinh Pháp Hoa, chúng con xin kính lạy:
Kính lạy kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ
đại, bản kinh dạy cho Bồ tát và được Phật giữ gìn.
Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười
phương quốc độ.
Kính lạy đức
Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết
kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng
cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc,
đức Phật đương lai, đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp
dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu suất tịnh
độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong
quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
Kính lạy bồ
tát Văn Thù, vị pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy bồ tát Phổ Hiền,
vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy bồ tát Quan âm, vị đại
sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ
tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp
Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
_________
Phẩm
3:
Ví
dụ
Lúc ấy tôn giả
Xá lợi Phất hoan hỷ phấn chấn, tức thì đứng dậy, chắp
tay, chiêm ngưỡng dung nhan đức Thế Tôn mà thưa, bạch đức
Thế Tôn, ngày nay, từ đức Thế Tôn, con nghe được tiếng
nói của pháp này, trong lòng phấn chấn, được sự chưa từng
có. Tại sao, vì ngày trước, cũng từ đức Thế Tôn, con nghe
pháp này, thấy chư vị Bồ tát tiếp nhận lời ghi làm Phật
mà chúng con không được dự vào việc ấy, nên rất cảm
thương cho mình bị loại khỏi sự thấy biết không có giới
hạn của đức Thế Tôn. Bạch đức Thế Tôn, con thường
ngồi hay đi một mình dưới cây trong rừng, nghĩ rằng chúng
con đồng nhập pháp tánh, tại sao đức Thế Tôn cứu độ
cho bằng giáo pháp cỗ xe thấp nhỏ? Nhưng đó là lỗi tại
chúng con, không phải tại đức Thế Tôn. Bởi lẽ nếu chúng
con biết mong đợi đức Thế Tôn nói cho về nhân tố thành
tựu tuệ giác vô thượng, thì chắc chắn đã được cứu
độ bằng giáo pháp cỗ xe vĩ đại. Nhưng chúng con không nhận
thức được sự phương tiện tùy nghi thuyết pháp của đức
Thế Tôn; mới nghe đức Thế Tôn thuyết pháp, gặp giáo pháp
thấp nhỏ là chúng con tin tưởng, tiếp nhận, tư duy và chứng
lấy. Do đó, bạch đức Thế Tôn, hồi nào đến giờ, con
thường tự trách suốt ngày suốt đêm. Nhưng ngày nay, từ
đức Thế Tôn, con được nghe cái pháp chưa từng có mà trước
đây con chưa nghe, nên hết sạch hoài nghi, thân tâm thư thái,
hoàn toàn ổn định. Ngày nay con mới biết mình thật con Phật,
sinh ra từ sự giáo huấn của Phật, sinh ra từ sự hóa cải
của Pháp, hưởng được tài sản về Pháp của Phật. Tôn
giả Xá lợi Phất muốn lặp lại ý nghĩa đã thưa, nên nói
những lời chỉnh cú sau đây.
(1) Nay nghe tiếng
nói
của pháp như
vầy,
con cảm nhận
được
sự chưa từng
có,
trong lòng phát
sinh
nỗi mừng to lớn,
vì đã phá hết
mạng lưới hoài
nghi.
Xưa nay con nhờ
Thế Tôn giáo
hóa,
ngày nay không
mất
cỗ xe vĩ đại.
(2) Tiếng nói
Thế Tôn
thật là hiếm
có,
trừ được lo
buồn
cho bao chúng sinh.
Con là một người
đã hết phiền
não,
mà nghe tiếng
ấy
cũng hết lo buồn.
(3) Ở trong hang
núi
hay dưới cây
rừng,
con ngồi trầm
tư
hoặc đi kinh hành,
lòng thường nghĩ
đến
sự thể sau đây.
(4) - Sự thể
mà con
rất tự thống
trách:
tại sao chính
mình
tự lừa gạt
mình! -
Rằng cũng toàn
là
đệ tử Thế
Tôn,
cũng đồng nhập
được
pháp tánh thuần
khiết,
vậy mà chúng
con
trong thì vị lai
không thể tuyên
thuyết
về pháp vô thượng!
(5) Băm hai tướng
quí
toàn màu hoàng
kim,
mười đại năng
lực
tám sự giải
thoát,
chúng con cùng
chung
pháp tánh đồng
nhất,
vậy mà không
được
những thành quả
ấy!
(6) Cho đến tám
mươi
vẻ đẹp tinh
túy,
cùng với mười
tám
những sự đặc
biệt,
thành quả như
vậy
chúng con mất
cả!
(7) Mỗi khi con
đi
kinh hành một
mình,
hồi tưởng Thế
Tôn
ở giữa các chúng,
rõ ràng danh ngài
vang động mười
phương,
ích lợi rộng
lớn
cho bao chúng sinh.
Hồi tưởng như
vậy,
con nghĩ phận
mình
mất hết thành
quả
cao cả đến thế
-
Thì ra chính con
đã dối gạt
mình!
(8) Con thường
ngày đêm
nghĩ sự thể
này,
và muốn đem ra
xin hỏi Thế Tôn
như thế thật
sự
con mất, không
mất?
(9) Mỗi khi được
thấy
Thế Tôn ca tụng
chư vị Bồ tát,
thì cả ngày đêm
con suy ngẫm mãi
về sự kiện
ấy.
(10) Nay con được
nghe
tiếng nói Thế
Tôn,
biết ngài tùy
nghi
phương tiện thuyết
pháp,
cuối cùng thuyết
thẳng
về pháp hoàn
hảo
ngoài tầm nghĩ
bàn,
làm cho các chúng
đều được đến
ngồi
nơi Bồ đề tràng.
(11) Phần con thì
vốn
vướng mắc tà
kiến,
làm thầy các
vị
Phạn chí ngoại
đạo,
Thế Tôn biết
rõ
tâm tính của
con,
nhổ cho tà kiến
chỉ cho Niết
bàn.
(12) Con loại trừ
hết
tư tưởng tà
kiến,
nơi nguyên lý
Không
con được chứng
lấy,
bây giờ lòng
con
tự cho là mình
đã được Niết
bàn.
Nhưng mà ngày
nay
con mới tự biết
chưa thật Niết
bàn.
(13) Phải đến
lúc nào
con được làm
Phật
có đủ tất cả
băm hai tướng
qúi,
chư thiên, nhân
loại,
tám bộ long thần
ai cũng tôn kính,
bấy giờ mới
được
tự xưng đã chứng
Niết bàn hoàn
toàn.
(14) Ở giữa đại
hội
các chúng như
vầy,
đức Thế Tôn
nói
con sẽ làm Phật,
con nghe tiếng
pháp
ngài nói như vậy
thì sạch hết
cả
hoài nghi hối
tiếc.
(15) Khi con mới
nghe
đức Thế Tôn
nói,
trong lòng cả
sợ
ngờ vực hết
sức:
phải chăng đây
là
ma vương làm Phật
để gây rối
loạn
tâm trí của con?
(16) Nhưng rồi
Thế Tôn
thiện dụng các
thứ
yếu tố, ví dụ,
lời chữ tuyệt
hảo,
làm cho lòng con
yên như biển
cả:
nghe rồi lòng
con
sạch hết ngờ
vực.
(17) Thế Tôn nói
rõ
vô lượng Phật
đà
đã nhập Niết
bàn
trong thì quá khứ,
với sự xác lập
trong cách phương
tiện,
ngài nào cũng
nói
về pháp như vầy.
(18) Ngài nói Phật
đà
hiện tại vị
lai
số lượng nhiều
đến
không thể tính
kể,
ngài nào cũng
dùng
cách thức phương
tiện
mà tuyên thuyết
đến
pháp như thế
này.
(19) Ngài nhắc
nay ngài
làm như thế nào
trong sự xuất
thế
và sự xuất gia,
trong sự thành
tựu
tuệ giác vô thượng,
trong sự chuyển
đẩy
bánh xe chánh pháp,
cho thấy chính
ngài
cũng là vận dụng
cách thức phương
tiện
mà nói pháp này.
(20) Thế Tôn công
bố
con đường đích
thực,
việc ấy ma vương
không thể làm
được.
Vì vậy mà con
biết chắc chắn
rằng
không phải ma
vương
làm ra đức Phật,
chỉ vì con sa
vào lưới ngờ
vực
nên bảo đó là
ma vương làm ra.
(21) Tiếng nói
dịu ngọt
của đức Thế
Tôn
cực kỳ thâm
thúy,
diễn đạt về
pháp
cực kỳ trong
suốt.
Nghe tiếng nói
ấy
lòng con sinh ra
vui mừng hết
sức,
vì nó hết hẳn
ngờ vực hối
tiếc,
đứng vững ở
trong
trí tuệ chắc
thật.
(22) Là con biết
chắc
mình sẽ làm Phật,
chư thiên nhân
loại
ai cũng tôn kính,
chuyển đẩy bánh
xe
chánh pháp vô
thượng,
giáo hóa khai thị
chư vị Bồ tát.
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo tôn giả Xá Lợi Phất, ngày nay, ở giữa đại hội
chư thiên, nhân loại, sa môn, bà la môn, đại loại các chúng
như thế này, Như Lai nói rõ cho tôn giả biết, xưa kia, nơi
hai vạn ức đức Phật, Như Lai vì tuệ giác vô thượng mà
luôn luôn giáo hóa cho tôn giả, tôn giả cũng mãi mãi theo
học Như Lai. Như Lai đem phương tiện mà dắt dẫn tôn giả,
nên đời này tôn giả vẫn được tái sinh trong giáo pháp
Như Lai. Xá Lợi Phất, xưa kia Như Lai dạy cho tôn giả phát
ra chí nguyện mong cầu tuệ giác Phật đà, vậy mà ngày nay
tôn giả quên hết, tự cho mình đã thực hiện Niết bàn.
Ngày nay Như Lai muốn làm cho tôn giả nhớ lại chí nguyện
ban đầu, và đường đi của chí nguyện ấy, nên sẽ nói
cho chư vị Thanh văn mà tôn giả là người đứng đầu, về
bản kinh Đại thừa này, mang tên Pháp Hoa, bản kinh dạy cho
Bồ tát và được Phật giữ gìn.
Xá Lợi Phất,
trong thì vị lai, tôn giả trải qua thời kỳ nhiều đến vô
lượng, phụng sự nhiều ức đức Phật, kính giữ chánh pháp
của các ngài, đi hết đường đi của Bồ tát rồi, sẽ được
thành Phật với danh hiệu Hoa Quang, đủ mười đức hiệu:
Bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết
đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua Niết
bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần
hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác
hoàn toàn, bậc Tôn cao nhất đời. Quốc độ của đức Hoa
Quang tên là Ly Cấu, bằng phẳng, sạch sẽ, đẹp đẽ, yên
vui, sung túc, trời người đông đảo. Đất bằng lưu ly, những
đường ngã tám được chạy dây vàng mà phân chia lề đường.
Lề đường nào cũng có những hàng cây bằng bảy chất liệu
quý báu, hoa trái có luôn.
Đức Hoa Quang
cũng đem giáo pháp của ba cỗ xe mà giáo hóa chúng sinh. Xá
Lợi Phất, khi đức Hoa Quang xuất thế dẫu không phải thời
kỳ dữ dội, nhưng vì chí nguyện ban đầu nên ngài tuyên
thuyết đủ hết giáo pháp của ba cỗ xe. Thời kỳ của đức
Hoa Quang tên là Đại Bảo Trang Nghiêm. Tại sao được gọi
như vậy? Vì trong quốc độ của đức Hoa Quang lấy chư vị
Bồ tát làm châu ngọc lớn nhất. Chư vị Bồ tát ấy vô
lượng vô biên, không thể nghĩ bàn, toán số ví dụ không
thể xác định, phi trí lực của Phật thì không ai biết hết.
Chư vị Bồ tát ấy muốn đi thì hoa ngọc nâng chân. Chư vị
Bồ tát ấy không phải mới phát tâm, mà toàn là lâu đời
gieo trồng gốc rễ công đức, và tu hành phạn hạnh một
cách trong sáng ở nơi chư Phật nhiều đến vô số vạn ức,
thường được chư Phật tán dương, thường xuyên tu tập
tuệ giác chư Phật, có đủ thần thông quảng đại, khéo
biết hết thảy cửa ngõ chánh pháp, ngay thẳng chứ không
dối trá, trí nhớ rất vững. Bồ tát như vậy đầy cả quốc
độ.
Xá lợi Phất,
đức Hoa Quang sống lâu mười hai thời kỳ bậc nhỏ, trừ
thì gian làm vương tử, chưa thành Phật đà. Người trong quốc
độ của ngài sống lâu tám thời kỳ bậc nhỏ. Đức Hoa
Quang, sau mười hai thời kỳ bậc nhỏ, trao cho Bồ tát Kiên
Mãn lời ghi thành tựu tuệ giác vô thượng, bằng cách bảo
chư vị tỷ kheo, rằng vị bồ tát Kiên Mãn này sẽ kế tiếp
làm Phật với danh hiệu Hoa túc an hành, bậc Đến như chư
Phật, bậc Thích Ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp.
Quốc độ của vị này cũng y như đã nói ở trên. Xá lợi
Phất, đức Hoa Quang nhập diệt rồi, giáo pháp nguyên chất
tồn tại ba mươi hai thời kỳ bậc nhỏ, giáo pháp tương
tự tồn tại cũng ba mươi hai thời kỳ bậc nhỏ.
Khi ấy đức Thế
Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(23) Này Xá lợi
Phất,
trong thì vị lai
tôn giả thành
đấng
Tuệ giác khắp
cả,
danh hiệu của
ngài
tên là Hoa Quang,
sẽ cứu độ
cho
vô lượng các
chúng.
(24) Tôn giả phụng
sự
vô số Phật đà,
thực hành đầy
đủ
việc làm bồ
tát,
thành tựu bao
nhiêu
phẩm chất Phật
đà,
trong đó gồm
có
mười đại năng
lực,
thì thực hiện
được
tuệ giác vô thượng.
(25) Vô số thời
kỳ
qua rồi thì đến
thời kỳ có tên
Đại Bảo Trang
Nghiêm,
quốc độ có
tên
Ly Cấu thế giới:
thế giới trong
suốt
không một vết
dơ.
(26) Đất bằng
lưu ly,
dây vàng chia đường,
cây bằng bảy
báu
màu sắc xen nhau
mà lại thường
xuyên
hoa có trái có.
(27) Chư vị Bồ
tát
của cõi Ly Cấu
thì có trí nhớ
luôn luôn vững
chắc;
thần thông quảng
đại,
ba la mật đa,
các pháp như vậy
có đủ tất cả;
khéo học khéo
tu
đường đi Bồ
tát
ở nơi chư Phật
nhiều đến vô
số.
Bồ tát đại
sĩ
đến như thế
này
được sự giáo
hóa
của đức Hoa
Quang.
(28) Đức Phật
Hoa Quang
khi làm vương
tử
bỏ ngôi quốc
chúa
bỏ cuộc vinh
hoa,
cái thân cuối
cùng
được đem xuất
gia
và thành tựu
được
tuệ giác Phật
đà.
(29) Đức Phật
Hoa Quang
sống đến mười
hai
thời kỳ bậc
nhỏ,
người quốc độ
ngài
sống cũng đến
số
tám thời kỳ
ấy.
(30- Đức Phật
Hoa Quang
31) nhập niết
bàn rồi,
giáo pháp nguyên
chất
tồn tại bâm
hai
thời kỳ bậc
nhỏ,
hóa độ chúng
sinh
một cách rộng
rãi.
Giáo pháp nguyên
chất
kết thúc xong
rồi,
giáo pháp tương
tự
tồn taị cũng
đến
số bâm hai ấy.
Xá lợi của ngài
phân bủa rộng
ra,
nhân loại chư
thiên
cùng nhau hiến
cúng.
(32) Việc đức
Hoa Quang
là như thế đó.
Bậc thánh hoàn
hảo
phước đức tuệ
giác
cực kỳ siêu
việt
tuyệt đối như
vậy,
chính là hậu
thân
của Xá lợi Phất,
do đó tôn giả
hãy vui mừng lên!
Lúc ấy bốn chúng
tám bộ và các chúng khác, nghe thấy tôn giả Xá lợi Phất
đối trước đức Thế Tôn tiếp nhận lời ghi được thành
tuệ giác vô thượng, thì lòng rất hoan hỷ, phấn chấn vô
cùng, người nào cũng cởi những tấm vải thượng thặng
đang khoác trên mình mà hiến cúng đức Thế Tôn. Đế Thích,
Phạn Vương, cùng vô số thiên nhân, cũng đem vải tuyệt diệu
của chư thiên, lại đem hoa quí báu của chư thiên, đại loại
như hoa mạn đà và hoa mạn đà lớn, tung rãi mà hiến cúng
đức Thế Tôn. Vải tuyệt diệu của chư thiên được tung
rải thì tự đứng lại mà xoay chuyển trong không gian. Ở
trong không gian còn có trăm ngàn vạn thứ nhạc khí của chư
thiên đồng thời hòa tấu, còn có mưa xuống các loại hoa
khác nữa cũng của chư thiên. Chư thiên hiến cúng như vậy
và thưa, bạch đức Thế Tôn, xưa kia ở Lộc uyển, lần đầu
tiên đức Thế Tôn đã chuyển đẩy bánh xe chánh pháp, ngày
nay đức Thế Tôn lại chuyển đẩy bánh xe chánh pháp cực
đại và tối thượng. Chư thiên muốn lặp lại ý nghĩa đã
thưa, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.
(33) Xưa đức
Thế Tôn
ở nơi Lộc uyển
chuyển đẩy bánh
xe
pháp bốn chân
lý,
phân tích trạng
thái
sinh ra diệt đi
ở nơi tất cả
năm phần hợp
thể.
(34) Nay đức Thế
Tôn
lại còn chuyển
đẩy
bánh xe chánh pháp
cực đại tối
thượng.
Chánh pháp như
vậy
cực kỳ sâu xa,
thế gian ít có
người nào tin
nổi.
(35) Từ xưa đến
nay
chúng con thường
nghe
Thế Tôn tuyên
thuyết
bao nhiêu chánh
pháp,
nhưng chưa bao
giờ
được nghe chánh
pháp
tối thượng,
tinh túy,
sâu xa như vầy.
(36- Thế Tôn tuyên
thuyết
37) chánh pháp
như vầy,
tất cả chúng
con
xin kính tùy hỷ.
Ngài Xá lợi Phất
bậc đại trí
tuệ,
ngày nay tiếp
nhận
Thế Tôn thọ
ký,
chúng con rồi
đây
cũng được như
vậy:
cũng sẽ chắc
chắn
được làm Phật
đà,
bậc tối vô thượng
trong cả thế
gian.
(38) Tuệ giác
Thế Tôn
trên tầm nghĩ
bàn,
Thế Tôn tùy nghi
phương tiện tuyên
thuyết.
Bao nhiêu phước
đức
chúng con có được
ở trong đời
này
hay trong đời
trước,
cùng với phước
đức
phụng sự Thế
Tôn,
chúng con xoay cả
về nơi tuệ giác
của đức Thế
Tôn,
nguyện được
tuệ ấy.
Lúc ấy tôn giả
Xá Lợi Phất thưa, bạch đức Thế Tôn, ngày nay con không
còn hoài nghi hối tiếc gì nữa, khi con đích thân đối trước
đức Thế Tôn được tiếp nhận lời ngài thọ ký cho con
thành tựu tuệ giác vô thượng. Nhưng một ngàn hai trăm vị
tâm trí tự tại giải thoát này, mà xưa kia khi ở trong địa
vị tu học tiếp tục, đức Thế Tôn thường dạy rằng chánh
pháp Như Lai có năng lực thoát ly sinh già bịnh chết, cứu
cánh Niết bàn; những vị ấy, và những vị tu học tiếp
tục hay tu học hoàn tất, ai cũng đem cái việc thoát ly chấp
bản ngã và chấp có không mà cho rằng mình được Niết bàn.
Ngày nay, đối trước đức Thế Tôn, các vị nghe đến điều
chưa từng nghe, rơi cả vào sự nghi hoăëc. Lành thay đức
Thế Tôn, xin ngày giải thích cho cả bốn chúng về nguyên
ủy của điều ấy, để cho các vị thoát khỏi mọi sự hoài
nghi hối tiếc. Đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá Lợi Phất,
Như Lai đã chẳng mới nói trước đây hay sao, rằng chư Phật
Như Lai đem các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ mà phương
tiện thuyết pháp, pháp ấy toàn là vì tuệ giác vô thượng,
bởi lẽ pháp ấy toàn là để giáo hóa Bồ tát. Nhưng, Xá
Lợi Phất, bây giờ Như Lai lấy một sự ví dụ để nói
rõ thêm về ý nghiã ấy. Những người có trí thì do sự ví
dụ mà được lý giải.
Xá Lợi Phất,
ví như tại một khu dân cư của một thủ phủ, có một đại
trưởng giả, tuổi già, lắm của, nhiều nhà đất và tôi
tớ. Ngôi nhà của ông rộng lớn nhưng chỉ có một cửa.
Nhiều người, một trăm hai trăm cho đến năm trăm, cùng ở
trong đó. Nhưng ngôi nhà ấy, lầu gác nhà chính mà cũng đã
hư cũ, tường vách lở rã, chân cột hư mục, rường nhà
và đòn nóc đã xiêu nghiêng cả. Và đột nhiên bốn phía
cùng lúc dậy lửa, đốt cháy nhà cửa.
Con của đại
trưởng giả có đến mười người, hoặc đến ba mươi người,
vẫn ở trong ngôi nhà ấy. Đại trưởng giả thấy lửa dữ
bốn phiá dậy lên thì hết sức kinh sợ, nghĩ rằng dầu ta
có thể do nơi cái cửa của ngôi nhà đang cháy này mà thoát
ra một cách an toàn, nhưng các con ta thì ở trong nhà lửa như
vầy mà vẫn ham chơi giỡn, không hay không biết, không kinh
không sợ. Hơi lửa đã xáp đến nơi mình, nóng rát như cắt
mà lòng vẫn không chán không lo, không có ý gì thoát chạy.
Đại trưởng giả lại nghĩ, thân mình và cánh tay của ta
rất mạnh, ta có thể dùng vạt áo hoặc ghế đẳng, gom các
con lại ôm mà chạy ra. Nhưng đại trưởng giả lại nghĩ,
ngôi nhà như vầy chỉ có một cửa, cửa ấy lại nhỏ hẹp.
Các con nhỏ dại, chưa biết gì hết, lại lưu luyến đam mê
chỗ chúng đang chơi, nên có thể có đứa rơi xuống mà bị
lửa đốt cháy. Vậy ta nên nói cho các con biết sự thể khủng
khiếp, rằng ngôi nhà đã cháy, phải thoát cho mau, đừng để
lửa đốt cháy mất. Nghĩ rồi, đại trưởng giả nói hết
cho các con nghe những điều mình nghĩ, và dục các con cấp
tốc chạy ra. Nhưng, người cha thương xót và khéo bảo, mà
những đứa con của ông vẫn ham chơi giỡn, không tin không
sợ, không có lòng nào muốn ra, cũng không biết lửa là gì,
nhà ra sao, cháy mất là thế nào, chỉ biết chạy qua chạy
lại, giỡn cười và nhìn cha mà thôi.
Đại trưởng
giả thấy vậy nghĩ rằng, ngôi nhà này đang bị lửa dữ
đốt cháy, ta với con ta không thoát gấp thì chắc chắn bị
đốt. Ta phải lập chước phương tiện để làm cho các con
khỏi bị tai họa. Là cha nên đại trưởng giả biết trước
đây tâm lý các con mỗi đứa có một sở thích. Những đồ
chơi quý, đẹp và lạ, ý chúng chắc chắn rất ham. Ông bảo,
cha có những đồ chơi mà các con rất thích. Những đồ ấy
hiếm có, khó được, các con không lấy thì sau tất hối tiếc.
Những đồ ấy là các cỗ xe dê, các cỗ xe hươu và các cỗ
xe bò, hiện cha để cả ở ngoài cửa, các con có thể ra lấy
mà chơi. Hãy chạy ra khỏi ngôi nhà lửa này tức khắc, các
con muốn chơi thứ nào cha cũng cho cả. Các con nghe cha nói
đến đồ chơi vừa quý vừa đẹp thì trúng ý của chúng,
nên đứa nào cũng đâm ra hăng hái, xô nhau, đẩy nhau, đua
nhau mà chạy, giành nhau mà thoát khỏi nhà lửa.
Khi đại trưởng
giả thấy các con ra được an toàn, ngồi cả nơi chỗ đất
trống ở giữa ngã tư, không còn gì phải e ngại nữa, thì
lòng ông khoan khoái, vui mừng rộn rã. Bấy giờ các con ông
cùng thưa, đồ chơi cha hứa, xe dê xe hươu xe bò ở đâu,
xin cha cho liền đi. Xá Lợi Phất, khi ấy đại trưởng giả
cấp cho các con mỗi đứa một cỗ xe lớn như nhau. Cỗ xe
ấy cao mà lại rộng, trang hoàng bằng các thứ ngọc. Lan can
bao quanh, chuông nhỏ treo bốn phía. Phần trên thì mui trần
được căng riềm màn, và hai thứ này cũng được trang trí
bằng những thứ ngọc kỳ lạ, màu sắc xen nhau. Những đường
dây kết ngọc thì mắc như đan với nhau, kết thắt dải hoa
mà treo rủ xuống. Lại phủ bằng lụa trắng có tua với chỉ
xâu hạt ngọc, và đặt những đệm gối màu hồng. Cỗ xe
được kéo bằng con bò trắng, da dẻ đầy đặn, sạch sẽ,
thân hình đã lớn lại đẹp, gân sức rất mạnh, bước đi
bằng phẳng ngay ngắn, và đi mau như gió. Cỗ xe còn có nhiều
kẻ thị tùng để hầu hạ và chăm sóc. Đại trưởng giả
tài sản giàu có vô lượng, mọi thứ kho tàng đều tràn đầy,
nên ông nghĩ, với tài sản ấy, ta không nên cho các con những
cỗ xe xấu nhỏ. Những đứa bé này toàn là con ta, ta thương
đồng đều. Những cỗ xe lớn làm bằng bảy chất liệu quý
báu như trên, ta có vô số. Ta nên đồng đều mà cho các con,
không nên đối xử sai biệt. Tài sản của ta chu cấp cả
nước còn không thiếu, huống chi các con. Bấy giờ các con
của đại trưởng giả cùng ngồi những cỗ xe lớn, được
sự chưa từng có, ngoài lòng mong ước.
Xá Lợi Phất,
tôn giả nghĩ thế nào, đại trưởng lão đồng đều cấp
cho các con những cỗ xe lớn quý báu như vậy, có dối trá
không? Tôn giả Xá lợi Phất thưa, không, bạch đức Thế
Tôn. Đại trưởng giả ấy chỉ cốt làm cho các con ông thoát
được hỏa hoạn, toàn vẹn tính mạng, nên không phải dối
trá. Tính mạng toàn vẹn là kể như đã được đồ chơi
đẹp và thích rồi, huống chi đây chỉ là chước phương
tiện của ông cứu các con ông thoát khỏi nhà lửa. Bạch
đức Thế Tôn, đại trưởng giả ấy đến nỗi không cho
một cỗ xe nhỏ nhất, cũng không phải là dối trá, vì ông
vốn nghĩ ta lập chước phương tiện để làm cho các con thoát
ra. Vì nghĩ như vậy nên ông đâu có dối trá. Huống chi ông
còn biết mình giàu có vô lượng, muốn lợi cho các con nên
đồng đều cấp cho những cỗ xe lớn.
Đức Thế Tôn
bảo tôn giả Xá lợi Phất, tốt lắm, đúng như lời tôn
giả nói. Xá lợi Phất, Như Lai cũng như đại trưởng giả
ấy. Như Lai là từ phụ của cả thế gian. Như Lai không còn
một cách hoàn toàn những sự kinh khủng, suy biến, lo buồn,
những sự đen tối che phủ của vô minh. Như Lai thành tựu
một cách đầy đủ sự thấy biết không có giới hạn mà
nội dung gồm có đại năng lực và sự không sợ, có sức
mạnh đại thần thông và sức mạnh đại tuệ giác, có phương
tiện toàn hảo và trí tuệ toàn hảo, lòng hiền từ bao la
và lòng thương xót bao la thì vĩnh viễn không còn biết chán
biết mệt. Rồi vì thường xuyên tìm kiếm những việc tốt
lành mà làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên Như Lai sinh
vào nhà lửa ba cõi vừa lửa vừa mục để cứu vớt chúng
sinh vượt qua lửa dữ của sinh già bịnh chết, của lo buồn
đau khổ, của ba độc tố vô minh, dục vọng và hận thù,
giáo hóa cho họ đạt được tuệ giác vô thượng.
Như Lai thấy chúng
sinh bị nung nấu thiêu đốt bởi sinh già bịnh chết, bởi
lo buồn đau khổ. Lại vì năm thứ dục lạc, vì tiền tài
danh lợi mà chịu đủ khổ sở. Ham hố đeo đuổi những thứ
ấy nên hiện tại đã chịu đau khổ đủ cách, mai sau còn
bị sa vào địa ngục ngạ quỉ súc sinh. Giả sử sinh lên
chư thiên hay sinh trong nhân loại thì bần cùng khốn khổ,
khổ vì ân ái mà biệt ly, khổ vì thù ghét mà chạm mặt.
Cùng loại như vậy còn có bao nhiêu đau khổ khác nữa, chúng
sinh chìm ngập trong đó mà vẫn vui thích, chơi giỡn, không
hay không biết, không kinh không sợ, không hề phát chán, không
mong thoát ly. Trong nhà lửa ba cõi, chúng sinh bôn ba qua lại,
gặp phải khổ lớn mà không cho là tai họa. Xá lợi Phất,
Như Lai thấy như vậy nên nghĩ rằng Như Lai là từ phụ của
chúng sinh, Như Lai phải cứu vớt khổ nạn cho họ, cho họ
vô lượng vô biên cái vui của tuệ giác Phật đà để họ
được vui chơi trong đó.
Nhưng mà, Xá lợi
Phất, Như Lai nghĩ tiếp, nếu Như Lai chỉ dùng sức mạnh
thần thông và sức mạnh tuệ giác, bỏ cách nói phương tiện,
chỉ tán dương thẳng cho chúng sinh nghe về sự thấy biết
của Phật đà mà nội dung gồm đủ các phẩm chất đại
loại như mười đại năng lực và bốn sự không sợ, thì
chúng sinh không thể nhờ vậy mà được giải thoát. Vì sao,
vì chúng sinh chưa khỏi sinh già bịnh chết, lo buồn đau khổ;
họ đang bị nung đốt trong nhà lửa ba cõi thì còn làm sao
lĩnh hội được tuệ giác Phật đà. Xá lợi Phất, như đại
trưởng giả có sức mạnh của thân hình và cánh tay mà không
dùng được, chỉ dùng được phương tiện thiết tha khuyên
bảo, cứu các con thoát khỏi cái họa nhà lửa, rồi sau đó
cho mỗi đứa một cỗ xe lớn quý báu. Như Lai cũng vậy, dẫu
có mười đại năng lực và bốn sự không sợ mà không dùng
được, dùng được chỉ có phương tiện của tuệ giác: ở
trong nhà lửa ba cõi, vì cứu thoát chúng sinh nên nói cho họ
về ba cỗ xe là cỗ xe Thanh văn, cỗ xe Duyên giác và cỗ xe
Phật đà, khuyến cáo rằng các người đừng ham ở trong nhà
lửa ba cõi, đừng ham năm thứ hình sắc, âm thanh, hơi hướng,
mùi vị và tiếp xúc, loại thô xấu tồi tệ. Tham thì ái,
và như vậy là bị thiêu đốt. Các người hãy cấp tốc thoát
khỏi ba cõi thì sẽ được ba cỗ xe: cỗ xe Thanh văn, cỗ
xe Duyên giác và cỗ xe Phật đà. Như Lai bảo đảm việc ấy,
không dối gạt chút nào. Các người hãy nỗ lực mà tinh tiến.
Như Lai thiện dụng phương tiện như vậy mà dẫn dụ chúng
sinh tiến lên, lại bảo, các người phải biết ba cỗ xe này
toàn là những giáo pháp được các vị thánh trí tán tụng,
tự tại chứ không lệ thuộc, không nương tựa cầu hồ.
Ngồi ba cỗ xe này thì vui thú với bao phẩm chất thuần khiết
đại loại như năm căn bản, năm năng lực, bảy thành phần
tuệ giác, tám thành phần đường chánh, bốn thiền, bốn
định, tám sự giải thoát, ba pháp tam muội, thể hiện vô
lượng yên vui.
Xá lợi Phất,
nếu người nào bản thân có khả năng tuệ giác, theo Phật
nghe pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng
ước muốn cấp tốc thoát ra ba cõi nên cầu tự Niết bàn,
đó là theo cỗ xe Thanh văn, như những người con nào của
đại trưởng giả vì được cỗ xe dê mà chạy khỏi nhà
lửa. Nếu người nào theo Phật nghe pháp mà tin tưởng tiếp
nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác tự nhiên,
thích đơn độc, khéo vắng lặng, biết sâu nguyên lý duyên
khởi của các pháp, đó là theo cỗ xe Duyên giác, như những
người con nào của đại trưởng giả vì được cỗ xe hươu
mà khỏi nhà lửa. Nếu người nào theo Phật nghe pháp mà tin
tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác
hoàn toàn là tuệ giác Phật đà, tuệ giác tự nhiên, tuệ
giác không thầy, nói tóm là cầu sự thấy biết của Phật
đà mà nội dung có đủ các phẩm chất như mười đại năng
lực, bốn sự không sợ, và cầu như vậy là vì thương tưởng,
muốn đem lại yên vui cho vô số chúng sinh, ích lợi cho tất
cả chư thiên nhân loại, cứu độ cho hết thảy đều được
giải thoát, đó là theo cỗ xe vĩ đại, Bồ tát cầu xe vĩ
đại ấy nên gọi là người vĩ đại, như những người con
nào của đại trưởng giả vì được cỗ xe bò mà chạy khỏi
nhà lửa.
Xá Lợi Phất,
như đại trưởng giả thấy các con thoát khỏi nhà lửa một
cách an toàn, đến chỗ không còn sợ hãi rồi, tự biết tài
sản vô lượng nên, một cách đồng đều, chỉ đem những
cỗ xe lớn mà cho các con. Như Lai cũng vậy. Là Từ ï phụ
của chúng sinh, nên Như Lai thấy vô số con số ức ngàn chúng
sinh do cái cửa giáo pháp của Như Lai mà thoát khỏi cái khổ,
cái chỗ nguy hiểm khủng khiếp là ba cõi, được Niết bàn
yên vui rồi, liền nghĩ, Như Lai có tuệ giác vô giới hạn
là kho tàng đầy các phẩm chất Phật đà mà đại loại như
mười đại năng lực, bốn sự không sợ; các loại chúng
sinh vừa nói đều là con của Như Lai, Như Lai phải đồng
đều đem cỗ xe vĩ đại mà cho họ. Như Lai không để cho
có ai chỉ được Niết bàn riêng biệt; người nào Như Lai
cũng đem Niết bàn của Như Lai mà làm cho họ Niết bàn. Các
loại chúng sinh đã thoát khỏi ba cõi như trên, người nào
Như Lai cũng cho chính những yếu tố vui thú của Như Lai là
đại loại như bốn thiền, bốn định, tám sự giải thoát...
Yếu tố như vậy toàn một sắc thái và một phẩm chất,
ấy là được chư vị thánh trí ca tụng và có năng lực phát
sinh cái vui trong suốt, tinh túy và bậc nhất.
Xá Lợi Phất,
như đại trưởng giả ban đầu đem cả ba loại xe mà dẫn
dụ các con, nhưng sau đó chỉ cho những cỗ xe cao lớn, những
cỗ xe trang hoàng bảo vật và an toàn bậc nhất. Cho như vậy
mà đại trưởng giả không có cái lỗi dối trá. Như Lai cũng
vậy, không dối trá gì cả trong cái việc ban đầu nói ba
cỗ xe để dẫn dụ chúng sinh, nhưng sau đó chỉ đem cỗ xe
Vĩ đại mà đưa họ đến Niết bàn hoàn toàn. Như Lai làm
như vậy vì Như Lai có tuệ giác vô giới hạn là kho tàng
đầy các phẩm chất Phật đà mà đại loại như mười đại
năng lực và bốn sự không sợ, có thể ban cho hết thảy
chúng sinh bằng giáo pháp cỗ xe Vĩ đại - Có điều không
phải ai cũng có khả năng tiếp nhận được cả.
Xá Lợi Phất,
với nguyên ủy đã nói trên đây, chư vị phải hiểu Như
Lai do phương tiện lực nên chỉ có một loại xe Phật đà
mà nói ra ba loại xe khác nhau.
Đức Thế Tôn
muốn lập lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(39-42) Như đại
trưởng giả
có ngôi nhà lớn.
Ngôi nhà đã cũ
mà lại hư rã.
Ngay cái nhà chính
đã cao lại nguy:
Cột với chân
cột
thì đã mục gãy.
Rường và đòn
nóc
đều xiêu nghiêng
cả.
Nền nhà thềm
nhà
sụp lở hư hỏng.
Tường vách đổ
nát
vôi hồ đổ rơi.
Mái lợp thủng
lỗ
rơi đổ loạn
xạ.
Đòn tay xà ngang
trật khớp sẩy
ra.
Đây đó khắp
nơi
bị chận bị
lấp,
quanh co gồ ghề,
tràn trề dơ bẩn.
Đang ở trong đó
có năm trăm người.
Vậy mà trong đó
có những chim
dữ:
cú mèo, chim kiêu,
chim cắt, chim
thứu,
cùng với quạ,
khách,
tu hú, bồ câu...
(43) Lại còn các
loại
bò sát thú dữ:
hổ mang, rắn
độc,
rắn phúc, bò
cạp,
rít với du diên,
cọp vách, sâu
chiếu;
chồn dứu, chồn
cầy,
chuột nhắt, loại
chuột.
(44) Sâu bọ độc
dữ
dọc ngang chen
nhau.
Phân với nước
tiểu
hôi thối cùng
cực,
đủ thứ dơ bẩn
chảy ra lan tràn,
bọ hung, sâu giòi
tập trung trên
đó.
Cáo, sói, dã can
nhai gặm dẫm
đạp,
cắn xé thây chết
xương thịt bừa
bãi.
(45-46) Do đó bầy
chó
đua nhau vồ chụp.
Chúng đói cuồng
cuồng
xục xạo tìm
ăn,
tranh giành móc
kéo,
gừ cắn rống
tru.
Ngôi nhà kinh khủng
đến như thế
đó.
(47-48) Khắp mọi
nơi chỗ
đều có yêu quái,
ác quỷ dạ xoa
chuyên ăn thịt
người.
Bò sát độc điạ
chim muông hung
hãn
sinh sản ấp nuôi
đều cố cất
giữ,
vẫn bị dạ xoa
giành nhau bắt
ăn.
(49) Ăn no nê rồi
bản chất hung
dữ
lại càng hăng
lên,
những tiếng của
chúng
đánh nhau giành
nhau
thật là rùng
rợn.
(50) Lại còn lũ
quỷ
tên Cưu bàn trà,
ngồi xoạc đất
bằng
ngồi xổm đất
cục,
có khi cách đất
một vài thước
ngắn
lướt qua rảo
lại
nghênh ngang đùa
giỡn.
(51) Chúng túm
chân chó
vật cho thất
thanh,
lấy chân chắn
cổ
khủng bố mà
chơi.
(52) Lại có những
quỷ
thân hình cao lớn
trần truồng đen
ốm
thường ở nhà
này,
phát tiếng dữ
lớn
thét gào tìm ăn.
(53) Lại có những
quỷ
cổ nhỏ như kim,
lại có những
quỷ
đầu như đầu
bò,
giành nhau tìm
ăn
thịt người thịt
chó,
đầu tóc bù rối
tàn bạo hung dữ,
đói khát thúc
bách
vừa gào vừa
chạy.
(54) Dạ xoa, quỷ
đói,
chim muông độc
dữ,
đói khát hành
hạ
loạn chạy bốn
phía,
rình rập lén
dòm
qua các cửa sổ.
(55) Ngôi nhà nguy
hiểm
khủng khiếp vô
cùng,
mà lại cũ kỹ
mục nát như vậy,
là nơi thuộc
về
một đại trưởng
giả.
(56) Ông mới đi
ra
chưa được bao
lâu,
sau đó ngôi nhà
bỗng nhiên dậy
lửa,
bốn phiá cùng
lúc
lửa ngọn bùng
lên.
(57) Đòn nóc,
rường nhà,
đòn tay, trụ
cột,
tách nổ vang động
gãy ngã sa rớt,
cả tường với
vách
đổ nhào xuống
hết.
Những loại quỷ
quái
hét lên kêu gào.
(58) Những thứ
chim dữ
loại như cắt,
thứu,
những thứ quỷ
dữ
loại như Bàn
trà,
kinh hãi bàng hoàng
không tự thoát
được.
Thú dữ trùng
độc
chui núp hang lỗ.
(59) Quỷ Tỳ xá
xà
cũng kẹt trong
đó,
vì mỏng phước
đức
nên bị lửa cháy
chúng càng tàn
bạo
sát hại lẫn
nhau,
giành nhau ăn thịt
uống máu lẫn
nhau.
(60) Loại như
dã can
đã chết trước
cả,
những thứ dữ
lớn
giành nhau ăn nuốt,
những gì còn
lại
thì bị đốt
cháy,
khói hôi ngùn
ngụt
phủ nghẹt bốn
mặt.
(61) Rít với du
diên,
các loại rắn
độc,
bị lửa nung đốt
giành tuôn khỏi
huyệt,
thì quỷ Bàn trà
bắt lấy mà ăn.
Còn các quỷ đói
lửa cháy trên
đầu,
đói khát nóng
rát
kinh hoàng sảng
chạy.
(62) Ngôi nhà đang
bị
ở trong tình trạng
cực kỳ khủng
khiếp,
độc hại, hỏa
hoạn,
lắm nạn như
vậy,
thì lúc bấy giờ
vị đại trưởng
giả
đứng ở ngoài
cửa.
(63) Ông nghe người
nói
rằng các con ông
vì ham vui chơi
đã vào nhà ấy,
nhỏ dại ngu ngơ
chỉ biết đùa
giỡn.
(64) Ông nghe biết
thế
trong lòng kinh
sợ,
cấp tốc vào
lại
trong ngôi nhà
lửa,
tìm cách cứu
con
cho khỏi chết
cháy.
(65) Ông nói cho
chúng
biết mọi tai
họa:
quỷ dữ, trùng
độc,
cùng với lửa
lớn,
khổ nạn như
vậy
nối nhau không
ngừng.
(66) Rắn độc,
hổ mang,
cùng với rắn
phúc,
lại còn những
quỷ
Dạ xoa, Bàn trà,
dã can, chồn cáo,
và các loài chó,
chim cắt, chim
thứu,
cú mèo, chim kiêu,
những thứ cùng
loại
với giống sâu
chiếu,
tất cả đều
đang
đói khát nóng
rát,
khiến chúng thành
ra
cùng cực đáng
sợ.
(67) Ngôi nhà dẫy
đầy
tai họa như vậy,
huống chi còn
bị
lửa dữ đang
đốt.
(68) Các con ngu
ngơ
dẫu nghe cha nói,
vẫn cứ say sưa
chơi giỡn không
ngừng.
(69) Trưởng giả
lúc ấy
nghĩ như thế
này:
Các con như vậy
làm ta càng lo.
Ngôi nhà bây giờ
có gì vui đâu,
vậy mà các con
vẫn mê chơi giỡn,
không chịu nghe
lời
của ta nói cho,
và chúng sắp
sửa
bị lửa đốt
cháy.
(70) Ông liền
nghĩ ngay
một chước phương
tiện.
(71) Ông bảo:
Các con,
cha có đủ thứ
đồ chơi quý
báu,
là những cỗ
xe
vừa đẹp vừa
tốt
trang trí vàng
ngọc:
xe dê, xe hươu
xe bò to lớn.
(72) Những cỗ
xe ấy
hiện ở ngoài
cửa.
Tất cả các con
hãy chạy ra gấp!
Cha vì các con
mà đã làm ra
những cỗ xe ấy.
Tùy ý các con
ưa thích thứ
nào
ra lấy mà chơi.
(73) Các con nghe
nói
những xe như vậy,
tức thì đua nhau
chạy mau mà ra,
đến nơi đất
trống
hết mọi khổ
nạn.
(74) Trưởng giả
thấy con
thoát khỏi nhà
lửa
đến chỗ ngã
tư,
thì ông ngồi
trên
chỗ ngồi sư
tử,
mà tự mừng rằng
bây giờ lòng
ta
đã vui thích rồi!
(75) Những đứa
con này
sinh dưỡng rất
khó,
nhỏ dại ngu ngơ
mà vào nhà hiểm,
nơi đầy thú
vật
quỷ quái đáng
sợ.
(76) Lửa lớn
ngọn dữ
bốn phía bùng
lên,
mà các con ta
vẫn ham chơi giỡn.
Nay đã cứu được
cho chúng thoát
nạn,
nên trong giờ
này
lòng ta vui thỏa.
(77) Các con biết
cha
đã ngồi yên
rồi,
cùng nhau bước
đến
mà thưa với cha,
xin cho chúng con
ba thứ xe quý.
(78) Như cha đã
hứa
các con thoát ra
thì cho ba xe
tùy theo ý muốn,
nay đã đến lúc,
xin cha cấp cho.
(79) Trưởng giả
giàu lớn
kho tàng quá nhiều
bạc, vàng, lưu
ly,
xa cừ, mã não...
(80) Ông đem của
ấy
làm những xe lớn,
trang trí huy hoàng:
lan can bao quanh,
chuông treo bốn
phía,
dây vàng đan nhau,
mạng lưới kết
ngọc
trương phủ trên
xe.
(81) Những dải
hoa đẹp
kết hoa vàng thật,
chỗ nào cũng
được
treo mắc rủ xuống.
Đủ thứ lụa
là
đầy các màu
sắc,
trang trí xen vào
khắp cả quanh
xe.
(82) Lụa dày bông
tơ
đem ra làm nệm.
Và vải bạch
điệp
loại thượng
hảo hạng,
giá đáng cả
ngàn
cả ức tiền
bạc,
tươi trắng sạch
sẽ,
đem phủ lên trên.
(83) Những con
bò trắng
mập mạnh nhiều
sức
thân hình lớn
đẹp,
kéo những xe ấy.
Cỗ xe còn có
nhiều người
thị tùng
để lo công việc
phục dịch hộ
vệ.
(84) Trưởng giả
đem những
cỗ xe báu ấy
đồng đều mà
cấp
cho các con ông.
Bấy giờ con ông
vui mừng rộn
rã,
ngồi xe báu này
dạo cả bốn
phương,
vui chơi thích
thú
tự tại vô ngại.
(85) Này Xá Lợi
Phất,
Như Lai cũng vậy:
là bậc cực tôn
trong các bậc
thánh,
là từ bi phụ
của cả thế
gian.
Hết thảy chúng
sinh
toàn con Như Lai,
đắm sâu thú
vui
thế giới ba cõi
mà không hề có
tâm thức sáng
suốt.
(86) Ba cõi không
yên
in như nhà lửa,
khổ não tràn
đầy
thật đáng khiếp
sợ:
Sinh già bịnh
chết
cùng với lo buồn,
những ngọn lửa
ấy
thường xuyên
bùng lên.
(87) Như Lai đã
rời
nhà lửa ba cõi,
vắng bặt ở
yên
rừng thanh nội
tĩnh.
Nhưng ba cõi này
toàn thuộc Như
Lai,
chúng sinh trong
đó
con Như Lai cả.
(88) Ba cõi như
vậy
tai họa quá nhiều,
và chỉ Như Lai
mới cứu giúp
được.
Nhưng dẫu Như
Lai
nói cho đủ hết,
mà chúng sinh ấy
vẫn không tin
nhận.
Như vậy là vì
chúng sinh tham
trước
sâu nặng quá
lắm
vào những dục
lạc.
(89) Do đó Như
Lai
phải dùng phương
tiện:< |