|
|
|
|
|
Cuốn
1
|
|
|
|
|
|
Cuốn
2
|
|
|
|
|
|
Cuốn
3
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
4
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
5
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
6
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
7
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
sao lục:
|
|
|
|
|
|
c
KINH
PHÁP HOA
(Hoa
Sen Của Chánh Pháp)
Phần
CHÍNH VĂN - Trí Quang
dịch
Phẩm
2:
Phương
tiện
Khi ấy đức Thế
Tôn thung dung xuất định, nói với tôn giả Xá lợi Phất,
tuệ giác Như Lai sâu xa vô tận, cửa ngõ tuệ giác ấy khó
biết khó vào. Hết thảy Thanh văn Duyên giác không thể biết
thấu. Vì sao, vì Như Lai đã từng thân gần vô số chư Phật,
thực hành trọn vẹn vô số các pháp đạt đến tuệ giác
vô thượng mà chư Phật ấy đã thực hành, dũng mãnh tinh
tiến, danh tiếng vang khắp, và thành tựu sự chưa từng có
rất là sâu xa, ấy là tùy nghi thuyết pháp, ý hướng khó
hiểu. Xá lợi Phất, từ khi trở thành bậc Toàn giác cho đến
ngày nay, Như Lai đem mọi thứ yếu tố và mọi sự ví dụ
mà diễn rộng các cách lập luận, vận dụng vô số phương
tiện ấy dẫn dắt chúng sinh thoát được sự vướng mắc
vào điểm này hay điểm khác. Tại sao Như Lai làm được như
vậy? Vì Như Lai đã hoàn thành sự thấy biết toàn hảo và
sự phương tiện toàn hảo. Xá lợi Phất, sự thấy biết
của Như Lai rộng lớn sâu xa: những phẩm chất của sự thấy
biết ấy đại loại như bốn tâm vô hạn, bốn trí thông
suốt, mười đại năng lực, bốn sự không sợ, bốn thiền,
bốn định, tám sự giải thoát, ba pháp tam muội, Như Lai đã
đi sâu vào một cách không có giới hạn, nên thành tựu sự
chưa từng có nói trên. Do đó, Xá lợi Phất, Như Lai phân
tích và khéo nói các pháp, lời chữ hòa nhã, đẹp lòng mọi
người. Lấy cốt yếu mà nói, thì sự chưa từng có có tính
cách vô lượng vô biên, Như Lai đã thành tựu đầy đủ.
Xá lợi Phất,
thôi, không nên nói nữa, vì sự chưa từng có, và khó hiểu
bậc nhất ấy, mà Như Lai đã thành tựu, là chỉ Như Lai với
chư vị Như Lai mới cứu xét cùng tận và tuyên thuyết khéo
léo về thật tướng các pháp. Thật tướng ấy là biểu hiện
như vậy, đặc tính như vậy, bản thể như vậy, năng lực
như vậy, động tác như vậy, nhân tố như vậy, duyên tố
như vậy, kết quả như vậy, hình thành như vậy, toàn bộ
như vậy.
Khi ấy đức Thế
Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(1) Vô lượng
những bậc
anh hùng trong đời,
chư thiên nhân
loại
hết thảy chúng
sinh,
không ai hiểu
thấu
đối vớùi Như
Lai.
(2) Mười đại
năng lực
bốn sự không
sợ
tám sự giải
thoát
ba pháp tam muội
cùng với bao nhiêu
phẩm chất Phật
đà
mà Như Lai có,
thì không một
ai
có thể biết
được
một cách tận
cùøng.
(3) Vốn từ vô
số
chư Phật Như
Lai
Như Lai trọn vẹn
thực hành các
pháp
tuệ giác vô thượng,
là pháp cực kỳ
sâu xa tinh túy
khó mà thấy biết.
(4) Trải qua vô
lượng
vạn ức thời
kỳ,
thực hành trọn
vẹn
các pháp ấy rồi,
Như Lai đến ngồi
nơi bồ đề tràng,
được đại thành
quả
biết rõ tất
cả.
(5) Đại thành
quả này
biết rõ những
nghĩa
biểu hiện như
vậy
đặc tính như
vậy...
chỉ có Như Lai
cùng với mười
phương
chư Như Lai khác
mới biết như
vậy.
(6) Và pháp như
vậy
không thể phô
bày,
khái niệm ngôn
ngữ
bặt dấu ở đây.
(7) Hết thảy
chúng sinh
không ai hiểu
nổi,
trừ chư bồ tát
đức tin vững
chắc.
(8) Những con Phật
khác
dẫu từng hiến
cúng
chư Phật Như
Lai,
phiền não đã
hết,
đã đến trạng
thái
thân này là thân
sống chết cuối
cùng,
các vị như vậy
năng lực của
họ
cũng vẫn bất
kham.
(9) Giả sử tràn
đầy
thế giới loài
người
ai nấy đều như
Xá lợi Phất
cả,
cùng tận tư duy
chung nhau suy lường,
cũng không lường
được
tuệ giác Như
Lai.
(10) Nếu thật
đầy khắp
mười phương
quốc độ
ai nấy đều như
Xá lợi Phất
cả,
hoặc như các
vị
đại đệ tử
khác
cũng đầy khắp
cả
mười phương
quốc độ,
(11) cùng tận
tư duy
chung nhau suy lường,
vẫn không biết
được
tuệ giác Như
Lai.
(12) Các vị Duyên
giác
trí tuệ lanh lợi
phiền não không
còn,
thân họ cũng
là
cái thân cuối
cùng;
các vị như vậy
cũng đầy mười
phương
như một rừng
tre,
(13) cùng nhau một
lòng,
trải qua vô lượng
vạn ức thời
kỳ,
suy nghĩ cho thấu
tuệ giác chân
thật
mà Như Lai có,
cũng vẫn không
thể
biết được ít
phần.
(14) Các vị bồ
tát
mới phát tâm
chí,
phụng sự vô
số
chư Phật Như
Lai,
thấu triệt pháp
nghĩa
lại khéo thuyết
pháp;
(15) các vị như
vậy
như lúa như tre,
tràn đầy khắp
cả
mười phương
quốc độ,
(16) kết hợp
vận dụng
trí tuệ tinh tế,
trải qua thời
kỳ
nhiều bằng hằng
sa,
chung sức tư duy
chung nhau ước
lượng,
cũng không biết
được
tuệ giác Như
Lai.
(17) Các vị bồ
tát
đã không thoái
chuyển,
số lượng nhiều
bằng
cát của sông
Hằng,
cùng nhau tìm xét
cũng không biết
được.
(18) Này Xá lợi
Phất,
cái pháp cực
kỳ
sâu xa, tinh túy,
không còn sai sót,
ngoài tầm nghĩ
bàn,
Như Lai đã biết
một cách đầy
đủ.
Và chỉ Như Lai
mới biết pháp
ấy,
cũng như chư vị
Như Lai mười
phương
mới biết như
vậy.
(19) Này Xá lợi
Phất,
tôn giả nên biết
lời Như Lai nói
không có mâu thuẫn.
Đối với cái
pháp
của Như Lai nói,
các người phải
có
đức tin lớn
lao.
Bởi vì nguyên
tắc
của chư Như Lai
sau thì gian dài
phải nói sự
thật.
(20) Cho nên ngày
nay
Như Lai tuyên cáo
với chư Thanh
văn
và chư Duyên giác,
những người
đã được
Như Lai làm cho
thoát khổ thắt
buộc
đạt được niết
bàn,
(21) rằng đó
chỉ là
Như Lai vận dụng
năng lực phương
tiện
thiết ba cỗ xe,
để ai vướng
mắc
bất cứ chỗ
nào
Như Lai cũng dắt
cho được thoát
ra.
Lúc ấy trong đại
hội có một ngàn hai trăm vị A la hán đã hết phiền não,
thuộc chúng Thanh văn, đại loại như tôn giả Kiềàu trần
Như, cùng tỷ kheo và tỷ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, những
người tâm chí thanh văn duyên giác, đều nghĩ như vầy, tại
sao hôm nay đức Thế Tôn ân cần tán dương sự phương tiện,
bằng cách nói rằng pháp Như Lai được cực kỳ sâu xa tinh
túy và khó hiểu, rằng Như Lai nói gì ý hướng cũng khó biết,
rằng hết thảy thanh văn duyên giác không thể đạt đến?
Đức Thế Tôn nói về sự giải thoát đồng nhất thì chúng
ta cũng thành tựu sự ấy, đạt đến niết bàn. Nhưng hôm
nay thì chúng ta không biết sự ấy về đâu.
Tôn giảû Xá
lợi Phất biết nỗi hoài nghi trong lòng bốn chúng và chính
mình cũng chưa thấu triệt, nên thưa rằng, bạch đức Thế
Tôn, vì yếu tố chính và yếu tố phụ nào mà đức Thế
Tôn ân cần tán dương sự phương tiện bậc nhất của ngài
là pháp sâu xa, tinh túy và khó hiểu? Hồi nào đến giờ con
chưa hề nghe đức Thế Tôn nói như vậy. Hiện giờ bốn chúng
đều nghi ngại. Con thỉnh cầu đức Thế Tôn giải thích vấn
đề này cho chúng con: vì lý do nào mà ngài ân cần tán dương
sự phương tiện của ngài là sâu xa, tinh túy và khó hiểu?
Tôn giả Xá lợi Phất muốn lặp lại ý nghĩa đã hỏi, nên
nói những lời chỉnh cú sau đây.
(22) Mặt trời
tuệ giác,
bậc đại thánh
triết,
lâu rồi mới
nói
điều đặc biệt
này.
Là ngài tự nói
bao nhiêu phẩm
chất
mà Như Lai có,
đại loại như
là
mười đại năng
lực
bốn sự không
sợ
ba pháp tam muội
bốn thiền bốn
định
tám sự giải
thoát,
toàn là những
pháp
trên sự tư duy
ngoài tầm thảo
luận.
(23) Ngài tự nói
đến
pháp mà ngài biết
trong khi ngài ngồi
nơi Bồ đề tràng,
chứ không một
ai
có thể hỏi thấu.
Ngài lại tự
nói
ý ngài khó biết,
điều này cũng
không
một ai hỏi được.
(24) Không ai hỏi
được,
chỉ ngài tự
nói,
tán dương con
đường
mà ngài đã đi,
tán dương tuệ
giác
cực kỳ tinh túy
mà như chư Phật,
ngài đã đạt
được.
(25) Các vị La
Hán
đã hết phiền
não,
cùng với những
vị
cầu được Niết
bàn,
hôm nay cùng sa
vào lưới ngờ
vực:
Thế Tôn vì gì
tự nói như vậy?
(26) Những vị
cầu được
tuệ giác duyên
giác,
các vị tỷ kheo
và tỷ kheo ni,
cùng với tất
cả
tám bộ thiên
long,
ai cũng bối rối
mà nhìn lẫn nhau
và nhìn lên ngài,
một bậc hoàn
hảo
cả hai phương
diện
phước đức tuệ
giác.
(27) Bạch đức
Thế Tôn,
việc này thế
nào?
xin ngài giải
thích
cho chúng con rõ.
(28) Trong chúng
Thanh văn,
Thế Tôn nói con
là bậc thứ nhất,
nhưng nay chính
con
tự mình đối
với
tuệ giác của
mình
cũng sinh nghi hoặc:
không rõ tuệ
ấy
đã là cứu cánh
hay phải tới
nữa?
(29) Bao nhiêu con
Phật
sinh từ miệng
Phật
nay đang chắp
tay
ngước nhìn chờ
đợi,
ước mong Thế
Tôn
xuất ra âm thanh
cực kỳ tuyệt
diệu,
kịp thời nói
cho
về pháp của
ngài
đúng như pháp
ấy.
(30) Tám bộ thiên
long
số bằng hằng
sa,
chư vị Bồ tát
cầu tuệ giác
Phật
số lượng đại
khái
cũng có tám vạn.
(31) Lại còn xuất
từ
vạn ức các nước,
các vị luân vương
cùng nhau đến
đây,
ai cũng chắp tay
đem lòng cung kính
mong muốn được
nghe
con đường hoàn
hảo.
Đức Thế Tôn
bảo tôn giả Xá Lợi Phất, thôi thôi, không nên nói. Nói
vấn đề này thì cả thế gian, trong đó có chư thiên và nhân
loại, sẽ kinh sợ ngờ vực. Tôn giả Xá Lợi Phất lại thưa,
bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn dạy cho vấn đề này,
vấn đề này xin đức Thế Tôn dạy cho. Vì đại hội này
nhiều đến trăm ngàn, vạn ức, vô số, có nhiều người
từng gặp chư Phật, các căn lanh lợi, trí tuệ sáng tỏ,
nghe đức Thế Tôn dạy thì có thể kính tin. Tôn giả Xá Lợi
Phất muốn lặp lại ý nghiã đã thưa, nên nói lời chỉnh
cú sau đây:
(32) Bạch đức
Vô Thượng,
vị vua các pháp!
xin ngài dạy cho
không cần e ngại.
Đại hội các
chúng
vô số như vầy,
tất có những
người
có thể kính tin.
Đức Thế Tôn
lại ngăn tôn giả Xá Lợi Phất, rằng nếu Như Lai nói vấn
đề này thì cả thế gian, trong đó có chư thiên, nhân loại
và tu la, sẽ cùng kinh sợ, ngờ vực, những vị tỷ kheo tăng
thượng mạn sẽ rơi xuống hố lớn. Đức Thế Tôn lặp lại
ý ngài bằng lời chỉnh cú sau đây:
(33) Thôi thôi,
đừng hỏi!
Pháp của Như
Lai
tinh túy, khó biết.
Những kẻ thượng
mạn
nghe nói pháp ấy
tất không kính
tin.
Tôn giả Xá Lợi
Phất lại thưa, bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn dạy
cho vấn đề này, vấn đề này xin đức Thế Tôn dạy cho.
Nay trong đại hội này, những người như con, và trăm ngàn
vạn ức người, đời đời đã từng tiếp nhận sự giáo
hóa của đức Thế Tôn; những người như vậy chắc chắn
có thể kính tin, ổn định lâu dài và lợi ích lớn lao. Tôn
giả Xá Lợi Phất lặp lại ý mình bằng những lời chỉnh
cú sau đây.
(34) Thưa đấng
Vô Thượng,
phước trí toàn
hảo!
xin ngài dạy cho
cái pháp bậc
nhất.
Con là con trưởng
của đức Thế
Tôn,
con thỉnh cầu
ngài
dạy cho chúng
con.
Trong đại hội
này
có vô số người
có thể kính tin
về pháp ngài
dạy.
(35) Đời đời
liên tiếp,
Thế Tôn đã từng
giáo hóa tiếp
độ
những người
như vầy.
Nay họ chắp tay
đồng nhất tâm
nguyện
muốn nghe và nhận
lời Thế Tôn
nói.
(36) Những người
như con
một ngàn hai trăm,
cùng với các
vị
cầu tuệ giác
Phật,
xin đức Thế
Tôn
vì những người
này
rủ lòng thương
xót
mà giảng giải
cho.
Những người
này đây
nghe được pháp
này
thì lòng sinh ra
hoan hỷ cùng cực.
Khi ấy đức Thế
Tôn bảo tôn giả Xá lợi Phất, tôn giả đã thiết tha thỉnh
cầu đến lần thứ ba, nên Như Lai không thể không nói. Vậy
tôn giả hãy lắng nghe, hãy khéo nghĩ và khéo nhớ! Như Lai
sẽ phân tích giảng giải cho tôn giả. Khi đức Thế Tôn dạy
như vậy, trong đại hội có đến năm ngàn tỷ kheo và tỷ
kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, tức thì đứng dậy khỏi
chỗ họ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn mà lui ra. Những người
này gốc rễ tội lỗi về tăng thượng mạn thật là sâu
nặng, chưa được tự cho đã được, chưa chứng tự cho đã
chứng, lầm lẫn đến thế nên họ không ở lại. Đức Thế
Tôn cũng yên lặng mà không ngăn cản. Ngài bảo tôn giả Xá
lợi Phất, đaị hội này của Như Lai nay không còn trấu lép,
mà chỉ toàn là hạt chắc. Xá lợi Phất, tăng thượng mạn
như những người kia thì lui ra cũng tốt. Bây giờ tôn giả
hãy nghe cho khéo, Như Lai sẽ giảng giải cho tôn giả. Tôn
giả Xá lợi Phất thưa, dạ, bạch đức Thế Tôn; chúng con
ước nguyện và thích thú muốn nghe.
Đức Thế Tôn
bảo tôn giả Xá lợi Phất, cái pháp tinh túy này Như Lai thỉnh
thoảng mới nói, như hoa ưu đàm thỉnh thoảng mới xuất hiện
một lần. Xá lợi Phất, chư vị hãy tin lời Như Lai nói không
trống rỗng, dối trá. Xá lợi Phất, Như Lai tùy nghi thuyết
pháp, ý hướng khó hiểu. Tại sao, vì Như Lai hoạt dụng vô
số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ
và lời chữ, mà diễn đạt về pháp. Pháp ấy không phải
tư duy phân tích mà lĩnh hội được. Pháp ấy chỉ có chư
Phật Như Lai mới chứng biết.
Sự thể là chư
Phật Như Lai chỉ vì lý do duy nhất và trọng đại mà xuất
hiện thế gian. Xá lợi Phất, lý do duy nhất và trọng đại
mà chư Phật Như Lai xuất hiện thế gian là gì? Là chư Phật
Như Lai muốn làm cho chúng sinh khai mở sự thấy biết của
Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn chỉ
thị cho chúng sinh sự thấy biết của Phật được trong sáng
nên xuất hiện thế gian, muốn làm cho chúng sinh tỉnh ngộ
sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện
thế gian, muốn làm cho chúng sinh nhập vào con đường thấy
biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian.
Xá lợi Phất, như thế đó là lý do duy nhất và trọng đại
mà chư Phật Như Lai xuất hiện thế gian. Và Xá lợi Phất,
như thế đó tức là chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa bồ tát,
nghĩa là làm gì cũng thường vì một việc, ấy là đem sự
thấy biết của Phật mà chỉ thị cho chúng sinh tỉnh ngộ.
Xá lợi Phấát,
Như Lai chỉ đem cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà mà thuyết
pháp cho chúng sinh, không có cỗ xe nào khác dầu là cỗ xe
thứ hai hay là cỗ xe thứ ba. Xá lợi Phất, pháp của chư
Phật mười phương cũng là như vậy. Xá lợi Phất, chư Phật
quá khứ đã vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm
có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp
cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất,
nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh đều
được tuệ giác biết tất cả. Chư Phật vị lai sẽ xuất
hiện thế gian cũng vận dụng vô số phương tiện, trong đó
gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết
pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy
nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh
cũng đều được tuệ giác biết tất cả. Hiện tại, trong
vô lượng cõi Phật khắp cả mười phương, chư Phật đang
làm lợi ích và yên vui rất nhiều cho chúng sinh, chư Phật
như vậy cũng vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm
có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp
cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất,
nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh cũng
đều được tuệ giác biết tất cả. Xá lợi Phất, chư Phật
ba đời trong mười phương làm như vậy là đồng nghĩa với
việc chỉ giáo hóa bồ tát: muốn đem sự thấy biết của
Phật khai mở cho chúng sinh, muốn đem sự thấy biết của
Phật chỉ thị cho chúng sinh, muốn đem sự thấy biết của
Phật thức tỉnh cho chúng sinh, muốn dẫn chúng sinh nhập vào
con đường thấy biết của Phật. Xá lợi Phất, nay Như Lai
cũng làm như vậy. Như Lai biết rõ những thị hiếu và vướng
mắc của các loại chúng sinh; tùy bản tính của họ, Như
Lai vận dụng các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, nghĩa
là vận dụng năng lực phương tiện, mà thuyết pháp. Xá lợi
Phất, Như Lai làm như vậy toàn là để cho họ cùng được
tuệ giác biết tất cả của cỗ xe Phật đà duy nhất.
Xá lợi Phất,
như vậy là trong mười phương quốc độ, cỗ xe thứ hai còn
không có, huống chi có cỗ xe thứ ba. Nhưng, Xá lợi Phất,
chư Phật Như Lai xuất hiện trong thời kỳ dữ dội thì đó
là thời kỳ đủ cả năm thứ vẩn đục: thời kỳ vẩn đục,
tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục, kiến thức vẩn đục,
mạng sống vẩn đục. Khi thời kỳ vẩn đục loạn lên, thì
chúng sinh dơ bẩn dày nặng, keo lẫn, tham lam, ganh ghét, hoàn
thành đủ thứ bất thiện, nên chư Phật Như Lai phải vận
dụng năng lực phương tiện: chính nơi cỗ xe duy nhất là
cỗ xe Phật đà mà giả thiết ra, nói có ba cỗ xe. Do đó,
Xá lợi Phất, nếu là đệ tử của Như Lai, tự gọi là La
hán, là Duyên giác, mà không nghe không biết đến việc Như
Lai chỉ giáo hóa bồ tát như trên, thì những người ấy không
phải đệ tử của Như Lai: không phải La hán, không phải
Duyên giác. Những vị tỷ kheo và tỷ kheo ni như vậy tự cho
đã thành La hán, thân mình là thân cuối cùng, mình cứu cánh
niết bàn, rồi không còn có chí mong cầu tuệ giáùc vô thượng,
thì tôn giả nên biết họ toàn là người tăng thượng mạn.
Vì lẽ nếu có vị nào thật được thành La hán mà không
tin pháp này thì vô lý, trừ ra sau khi Như Lai đã nhập diệt,
trước mặt họ không có Như Lai nữa - Sau khi Như Lai nhập
diệt, kinh Pháp Hoa này có ai tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét
văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, lý giải ý nghĩa..., người
ấy thật khó có. Nếu gặp đức Phật khác thì đối với
kinh này họ nhận thức được ngay.
Nói tóm, Xá lợi
Phất, chư vị hãy nhất tâm mà tin tưởng, lý giải, tiếp
nhận và ghi nhớ lời của Như Lai nói. Lời của chư Phật
Như Lai nói thì không trống rỗng, dối trá, nói rằng không
có cỗ xe nào khác mà chỉ có cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật
đà.
Khi ấy đức Thế
Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
(37) Chư vị tỷ
kheo
và tỷ kheo ni
mà có thượng
mạn,
cùng ưu bà tắc
và ưu bà di
mà lòng không
tin,
bốn chúng như
vậy
số có năm ngàn.
(38) Họ không
tự thấy
mình đã khinh
suất.
Họ thiếu giới
hạnh,
che giấu tỳ vết.
Hạng trí nhỏ
ấy
đã lui hết rồi.
(39) Trong đại
hội này
họ là cặn bã.
Họ lui là vì
uy thần Như Lai.
Họ là những
kẻ
thiếu cả phước
đức,
không kham tiếp
nhận
diệu pháp như
vầy.
(40) Trong đại
hội này
nay hết trấu
lép,
còn lại chỉ
có
toàn là hạt chắc.
(41) Này Xá lợi
Phất,
hãy nghe cho khéo
về pháp Như Lai
đã thành tựu
được,
và về phương
tiện
Như Lai hoạt dụng
để nói pháp
ấy
cho các chúng sinh.
*
(42) Quan niệm,
đạo hạnh,
thị hiếu, khuynh
hướng,
hành vi lành dữ
đời trước đã
làm,
tất cả điều
này
của các chúng
sinh
Như Lai nhận thức
rất là rõ ràng.
(43) Thế rồi
Như Lai
sử dụng mọi
thứ
yếu tố, ví dụ,
cùng với lời
chữ,
nghĩa là dùng
đến
năng lực phương
tiện,
làm cho chúng sinh
hoan hỷ tất cả.
(44) Cho nên Như
Lai
đã nói tản văn,
chỉnh cú độc
lập,
việc cũ, đời
trước,
việc hiếm, nguyên
do,
hoặc nói ví dụ,
chỉnh cú thích
ứng,
cùng với thảo
luận.
(45) Những kẻ
ám độn
chỉ thích pháp
nhỏ,
vướng mắc sinh
tử;
nơi vô số Phật
họ đã không
đi
theo đường tuyệt
diệu.
Họ bị đau khổ
dày vò tác loạn.
Như Lai vì họ
mà nói niết bàn.
(46) Như Lai thiết
lập
phương tiện như
vậy,
chủ ý làm cho
họ được nhập
vào
tuệ giác Phật
đà,
nhưng chưa hề
nói
tất cả các người
đều sẽ thành
Phật.
(47) Sở dĩ Như
Lai
chưa nói như vậy
là vì chưa đến
thì gian đáng
nói.
Nhưng nay là lúc
Như Lai quyết
định
nói về giáo pháp
cỗ xe vĩ đại.
*
(48) Giáo pháp
ở trong
chín thể loại
trên,
là do Như Lai
tùy thuận chúng
sinh
mà tuyên thuyết
ra,
nhưng mà bản
ý
là dẫn họ vào
cỗ xe vĩ đại.
Vì lý do ấy,
ngày nay Như Lai
nói về bản kinh
Diệu Pháp Liên
Hoa.
(49) Có những
con Phật
tâm trí trong sáng
tánh tình ôn hòa
các căn lanh lợi,
đã từng đi theo
con đường tuyệt
diệu
ở nơi vô lượng
chư Phật Như
Lai;
chính vì những
người
con Phật như vậy
mà nay Như Lai
nói kinh Pháp Hoa,
bản kinh thuộc
về
cỗ xe vĩ đại.
(50) Qua đó Như
Lai
sẽ thọ ký cho
những con Phật
ấy
trong thì vị lai
được thành Phật
đà _
Được thành vì
họ
đã đem tâm chí
cực kỳ sâu xa
tưởng niệm Phật
đà
nghiêm giữ giới
pháp.
(51) Những con
Phật ấy
nghe được thành
Phật
thì nỗi mừng
lớn
tràn khắp cơ
thể.
Như Lai biết rõ
tâm chí cùng với
đạo hạnh của
họ,
nên mới nói cho
bản kinh thuộc
về
cỗ xe vĩ đại.
(52) Và là thanh
văn
hay là bồ tát,
nghe kinh như vậy
của Như Lai nói,
thì dẫu chỉ
được
một bài chỉnh
cú,
cũng thành Phật
cả,
không nghi gì được.
*
(53) Khắp cả
cõi Phật
trong cả mười
phương,
chỉ có diệu
pháp
cỗ xe duy nhất.
Cỗ xe thứ hai
đã không thực
có,
cũng không thực
có
cỗ xe thứ ba,
trừ ra Như Lai
phương tiện tuyên
thuyết -
là chỉ thiện
dụng
những danh từ
giả
mà dẫn dắt cho
các loại chúng
sinh.
(54) Chính vì công
bố
tuệ giác Phật
đà,
cho nên Như Lai
xuất hiện thế
gian.
Chỉ một việc
này
là việc đích
thực,
còn hai việc khác
không đích thực
đâu.
Như Lai tuyệt
đối
không muốn sử
dụng
cỗ xe thấp nhỏ
mà chở chúng
sinh.
(55) Như Lai tự
ngồi
cỗ xe vĩ đại,
cỗ xe được
có
những pháp như
là
định, tuệ và
lực
trang sức huy hoàng,
Như Lai sử dụng
mà chở chúng
sinh.
(56) Như Lai tự
chứng
tuệ giác vô thượng
là xe vĩ đại
có tính bình đẳng.
Nếu đem hóa độ
bằng xe thấp
nhỏ,
thì dẫu hóa độ
một người mà
thôi,
Như Lai cũng rơi
vào sự tham lẫn:
ấy là một việc
không chấáp nhận
được.
(57) Mọi người
tín ngưỡng
qui y Như Lai.
Như Lai không hề
lừa dối ai cảû,
không cả tâm
ý
tham lam ganh ghét,
triệt hết sự
xấu
ở trong các pháp.
Cho nên khắp trong
mười phương
quốc độ,
chỉ có Như Lai
không e sợ gì.
(58) Với cái thân
thể
tướng hảo trang
nghiêm,
với cái tuệ
giác
soi sáng tất cả,
và được vô
lượng
chúng sinh tôn
trọng,
Như Lai công bố
ấn tín thật
tướng.
(59- Này Xá lợi
Phất
60) tôn giả nên
biết
Như Lai vốn lập
chí nguyện cao
rộng
là muốn làm cho
hết thảy chúng
sinh
đều như Như
Lai
không khác gì
cả.
Đúng như chí
nguyện
Như Lai đã lập,
ngày nay Như Lai
thực hiện đầy
đủ,
cho nên Như Lai
giáo hóa tất
cả,
làm cho vào được
tuệ giác Phật
đà.
(61) Nhưng nếu
Như Lai
gặp ai cũng đem
tuệ giác Phật
đà
mà giáo hóa cho,
thì kẻ vô trí
sẽ bị thác loạn,
mù mờ, lầm lẫn,
không thể tiếp
nhận.
(62) Như Lai nhận
thức
những kẻ như
vậy
chưa từng sửa
sang
gốc rễ pháp
lành,
dính chắc vào
nơi
năm thứ dục
lạc,
khổ não vì những
mù quáng, đam
mê.
(63) Chính vì nhân
tố
năm thứ dục
lạc
mà họ sa vào
ba đường độc
dữ.
Luân hồi khắp
cảû
sáu nẻo sống
chết,
lãnh chịu đủ
hết
khổ sở độc
địa.
Hình hài hèn kém
có bởi bào thai,
đời đời liên
tiếp
cứ thêm lên mãi.
Họ là những
kẻ
mỏng đức thiếu
phước,
và bị đủ thứ
khổ não bức
bách.
(64) Nên họ lạc
vào
rừng rậm tà
kiến,
chấp có thế
này
chấp không thế
khác.
Căn cứ những
thứ
tà kiến như vậy,
họ lần đủ
cả
sáu hai tà kiến,
đắm sâu vào
trong
chủ thuyết hư
vọng,
chấp nhận cứng
chắc
không thể xả
bỏ.
(65) Họ đầy
ngã mạn,
tự cao, dua nịnh,
quanh co, xảo trá.
Vạn ức thời
kỳ
họ không nghe
được
danh từ Phật
đà,
chánh pháp Phật
đà
càng không nghe
thấy.
Những người
như vậy
thật khó hóa
độ.
(66) Này Xá lợi
Phất,
vì những người
ấy
cho nên Như Lai
lập chước phương
tiện:
nói cho họ biết
con đường diệt
khổ,
chỉ cho họ rõ
về sự niết
bàn.
Nhưng mà Như Lai
dẫu nói niết
bàn,
sự niết bàn
đó
chưa thật niết
bàn.
(67) Vì vậy Như
Lai
khai thị nguyên
lý:
các pháp xưa nay
thường tự vắng
lặng.
Con Phật đi trọn
đường đi của
mình
thì trong tương
lai
được thành Phật
đà,
như thế mới
là
niết bàn đích
thực.
(68) Như vậy đủ
thấy
do phương tiện
lực
mà Như Lai có,
Như Lai khai thị
đủ hết các
pháp
của ba cỗ xe;
kỳ thật tất
cả
chư Phật Như
Lai
đều chỉ nói
đến
cỗ xe duy nhất.
(69) Ngày nay đại
hội
hãy bỏ nghi hoặc.
Lời chư Phật
nói
không khác sự
thật:
chỉ có cỗ xe
Phật đà duy nhất,
không hai cỗ xe
thứ hai thứ ba.
*
(70) Vô số thời
kỳ
thuộc thì quá
khứ,
vô lượng chư
Phật
đã nhập niết
bàn;
những loại số
mục
trăm ngàn vạn
ức
không thể đem
ra
mà tính cho được.
(71) Chư Phật
như vậy
đã dùng đủ
thứ
yếu tố, ví dụ
của phương tiện
lực,
diễn đạt thật
tướng
tất cả các pháp.
(72) Nghĩa là các
ngài
cũng nói giáo
pháp
cỗ xe duy nhất,
giáo hóa chúng
sinh
làm cho vào được
tuệ giác Phật
đà.
(73) Chư Phật
quá khứ,
những chúa thánh
triết,
biết rõ thị
hiếu
từ trong thâm
tâm
của cả thế
gian,
trong đó bao gồm
chư thiên, nhân
loại
và bao loài khác,
cho nên sử dụng
phương tiện khác
nhau
để giúp phát
lộ
chân lý bậc nhất.
(74- Ấy là ai
gặp
75) chư Phật quá
khứ,
được nghe thuyết
pháp
và rồi bố thí,
giữ giới, nhẫn
nhục,
cùng với tinh
tiến,
thiền định,
trí tuệ,
làm đủ các pháp
của cả hai loại
phước đức tuệ
giác,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(76) Chư Phật
quá khứ
nhập Niết bàn
rồi,
ai có tâm lý
tốt đẹp mềm
dịu,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(77-78) Chư Phật
quá khứ
nhập Niết bàn
rồi,
những ai hiến
cúng
xá lợi các ngài,
bằng cách xây
dựng
vạn ức chùa
tháp,
lại đem bạc,
vàng,
cùng với pha lê,
xa cừ, mã não,
mai khôi, lưu ly,
trang hoàng quang
đãng
trần thiết tráng
lệ,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(79-80) Ai dựng
chùa tháp
bằng đá cẩm
thạch,
bằng những thứ
gỗ
đàn hương, trầm
hương,
cùng với gỗ
mật
và gỗ quý khác;
ai dựng chùa tháp
bằng gạch, đất
sét;
hay nơi hoang dã
đắp nổi gò
đất
tạo thành chùa
tháp
chư Phật quá
khứ;
(81) thậm chí
trẻ con
vui đùa đắp
tháp
mà tưởng tượng
rằng
xây dựng tháp
Phật,
tất cả người
này
đã thành Phật
tuệ.
(82) Ai vì chư
Phật
trong thì quá khứ
mà tạo hình tượng
chạm trỗ tướng
tốt,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(83) Hoặc tạo
tượng Phật
bằng bảy chất
quý,
bằng các loại
đồng
vàng đỏ và trắng,
(84) bằng chì,
thiết, sắt,
gỗ với đất
sét;
hoặc dùng các
thứ
keo, sơn, vải
bố,
bồi đắp tô
chuốt
mà làm tượng
Phật;
tất cả người
này
đã thành Phật
tuệ.
(85) Hoặc dùng
hội họa
vẽ ra tượng
Phật
đủ cả các tướng
trăm phước trang
nghiêm,
tự mình vẽ ra
hay nói người
vẽ,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(86) Đến nỗi
trẻ con
dùng cỏ, cây,
bút,
ngón tay, móng
tay,
vẽ chơi tượng
Phật,
(87) thì những
trẻ ấy
công đức dồn
chứa,
từ bi hoàn hảo,
đã thành Phật
tuệ,
và chỉ giáo hóa
chư vị Bồ tát,
cứu độ vô lượng
các loại chúng
sinh.
(88) Nếu ai đối
với
chùa tháp, hình
tượng,
tượng ngọc,
tượng vẽ
chư Phật quá
khứ,
mà đem bông hoa
các loại hương
liệu
tràng phan bảo
cái
cung kính hiến
cúng;
(89-92) nếu ai
tấu nhạc,
đánh trống, thổi
còi,
thổi ốc, ống
tiêu,
ống sáo, đàn
cầm,
đàn hầu, tỳ
bà,
chiên nhỏ, bạt
đồng,
đem hết âm thanh
nghe hay như vậy
hiến lên chư
Phật
trong thì quá khứ;
hoăëc là hoan
hỷ
ca hát, ngâm vịnh,
tán dương đức
tính
chư Phật quá
khứ;
và làm như vậy
dầu một tiếng
nhỏ;
tất cả người
này
đã thành Phật
tuệ.
(93) Những ai trong
lòng
tư tưởng xao
lãng,
chỉ được mỗi
một
bông hoa mà thôi,
và chỉ hiến
cúng
tượng vẽ mà
thôi,
cũng vẫn dần
dần
gặp vô số Phật.
(94) Ai biết lễ
bái,
hay chỉ chắp
tay,
đến nỗi đưa
lên
chỉ một cánh
tay,
hoặc chỉ hơi
khẽ
cúi đầu mình
xuống,
hiến cúng tượng
Phật
bằng những cách
ấy
cũng đã dần
dần
gặp vô lượng
Phật,
tự thành tựu
được
tuệ giác vô thượng,
hóa độ rộng
rãi
vô số các chúng,
và rồi nhập
vào
Niết bàn hoàn
toàn
tựa như củi
hết
thì lửa cũng
tắt.
(95) Những kẻ
trong lòng
tư tưởng xao
lãng,
bước vào chùa
tháp
chư Phật quá
khứ,
chỉ nói một
tiếng
con tôn kính Phật,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(96) Ở nơi chư
Phật
quá khứ như vậy,
mà lúc các ngài
đang còn ở đời
hay lúc các ngài
nhập Niết bàn
rồi,
những ai nghe danh
của pháp như
vầy,
thì những người
ấy
đã thành Phật
tuệ.
(97) Chư Phật
Như Lai
trong thì vị lai
số lượng vô
số,
các ngài cũng
dùng
mọi cách phương
tiện
tuyên thuyết về
pháp.
(98) Các ngài cũng
dùng
vô số phương
tiện
cứu thoát chúng
sinh,
dẫn vào tuệ
giác
không còn sai sót
của chư Phật
đà.
(99) Những người
được nghe
pháp các ngài
thuyết,
thì không một
ai
không thành Phật
đà.
Bởi vì các ngài
cũng lập thệ
nguyện
nguyện đem trí
Phật
mà mình hoàn thành
dìu dắt hết
thảy
các loại chúng
sinh< |