|
|
|
|
|
Cuốn
1
|
|
|
|
|
|
Cuốn
2
|
|
|
|
|
|
Cuốn
3
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
4
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
5
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
6
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cuốn
7
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
sao lục:
|
|
|
|
|
|
c
KINH
PHÁP HOA
(Hoa
Sen Của Chánh Pháp)
Phần
CHÍNH VĂN - Trí Quang
dịch
CUỐN
1
Ngưỡng bạch
Phật Pháp Tăng vô tận Tam bảo từ bi chứng minh. Đệ tử
chúng con nguyện vì bản thân, vì cha mẹ bà con, vì người
thân kẻ thù, vì mọi người và vì chúng sinh, trì tụng kinh
Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa.
Mở đầu tụng
kinh Pháp Hoa, chúng con xin kính lạy:
Kính lạy kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ
đại, bản kinh cho Bồ tát và được Phật giữ gìn. Kính
lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười
phương quốc độ.
Kính lạy đức
Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết
kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng
cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc,
đức Phật đương lai, đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp
dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu Suất tịnh
độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong
quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
Kính lạy Bồ
tát Văn Thù, vị Pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Phổ Hiền,
vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Quan Âm, vị Đại
sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ
tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp
Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.
KINH
PHÁP HOA
Phẩm
1: Mở đầu
Tôi nghe như vầy.
Một thời đức Thế Tôn ở trong đỉnh Linh sơn, thuộc thành
Vương Xá, cùng chúng đại Tỷ kheo mười hai ngàn vị, toàn
là những bậc A La Hán mà sự sơ hở đã được tận diệt,
sự phiền não không còn tái sanh, đã đạt được sự ích
lợi của bản thân, đã dứt hết sự ràng buộc vào hiện
hữu, tâm trí tự tại giải thoát. Tên các vị ấy là tôn
giả Kiều Trần Như, tôn giả Đại Ca Diếp, tôn giả Tần
Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp,
tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả
Ca Chiên Diên, tôn giả A Nâu Lâu Đà, tôn giả Kiếp Tân Na,
tôn giả Kiều Phạm Ba Đề, tôn giả Ly Bà Đa, tôn giả Tất
Lăng Già, tôn giả Bạc Câu La, tôn giả Câu Hy La, tôn giả
Nan Đà, tôn giả Tôn Đà Ra Nan Đà, tôn giả Phú Lâu Na, tôn
giả Tu Bồ Đề, tôn giả A Nan Đà, tôn giả La Hầu La, đại
loại như vậy, những vị A La Hán mà mọi người đều biết.
Lại có hai ngàn vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất,
có Tỷ kheo ni Đại Thắng Sinh Chủ cùng với sáu ngàn người
tùy thuộc, có thân mẫu tôn giả La Hầu La là Tỷ kheo ni Trì
Dự cùng với những người tùy thuộc, đều đến tụ tập.
Chúng đại Bồ
tát có tám mươi ngàn, toàn là những vị không thoái chuyển
đối với tuệ giác vô thượng, được các pháp tổng trì,
được các tài hùng biện mà trong đó có sự biện thuyết
hoan hỷ, biện thuyết về pháp không thoái chuyển; đã phụng
sự vô lượng trăm ngàn chư Phật, vun trồng các gốc rễ
công đức ở nơi chư Phật ấây, và thường được chư Phật
ấy tán dương; sửa mình bằng đức tính từ bi, khéo nhập
vào tuệ giác Phật đà, thông suốt tuệ giác vĩ đại, đạt
đến bờ bến bên kia; danh tiếng vang khắp vô lượng quốc
độ, hoá độ vô số trăm ngàn chúng sanh. Tên các vị ấy
là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát
Đại Thế Chí, Bồ tát Thường Tinh Tấn, Bồ tát Bất Hưu
Tức, Bồ tát Bảo Chưởng, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát
Dũng Thí, Bồ tát Bảo Nguyệt, Bồ tát Nguyệt Quang, Bồ tát
Mãn Nguyệt, Bồ tát Đại Lực, Bồ tát Vô Lượng Lực, Bồ
tát Việt Tam Giới, Bồ tát Hiền Hộ, Bồ tát Di Lạc, Bồ
tát Bảo Tích, Bồ tát Đạo Sư, đại loại như vậy, tám
mươi ngàn vị đại bồ tát đều đến tụ tập.
Chư Thiên thì
có Đế Thích cùng hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc; Nguyệt
thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bảo Quang thiên tử, và bốn
vị đại thiên vương, cùng mười hai ngàn thiên nhân tùy thuộc;
Tự Tại thiên tử và Đại Tự Tại thiên tử cùng ba mươi
ngàn thiên nhân tùy thuộc; Phạn vương chủ thế giới hệ
Kham nhẫn, cùng các Phạn vương đại loại Phạn vương Thi
Khí, Phạn vương Quang Minh, và hai mươi ngàn thiên nhân tùy
thuộc, đều đến tụ tập. Các bộ khác thì có tám Long vương
là Hỷ, Hiền Hỷ, Diêm Hải, Cửu Đầu, Đa Thiệt, Vô Nhiệt
Não, Từ Tâm và Hồng Liên Hoa, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn
tùy thuộc; có bốn Khẩn na la vương là Pháp và Diệu Pháp,
Đại Pháp và Trì Pháp, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc;
có bốn Càn thát bà vương là Nhạc và Nhạc Âm, Mỹ và Mỹ
Âm, mỗi vị cùng mấy trăm ngày tùy thuộc; có bốn A tu la
vương là Tối Thắng, Dục Cẩm, Yến Cư và Hấp Khí, mỗi
vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Ca lâu la vương
là Đại Uy Đức, Đại Thân, Đại Mãn và Như Ý, mỗi vị
cùng mấy trăm ngày tùy thuộc, đều đến tụ tập.
Nhân loại thì
có con Hoàng hậu Vi Đề Hy là Hoàng đế A Xà Thế, cùng mấy
trăm ngàn tùy thuộc, cũng đến tụ tập.
Tất cả các chúng
trên đây, mỗi chúng đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, rồi
lui lại mà ngồi mỗi chúng một chỗ.
Vào lúc này, đức
Thế Tôn được bốn chúng vây quanh, hiến cúng, cung kính,
tôn trọng, tán dương. Ngài nói cho các vị Bồ tát bản kinh
Đại thừa tên Nghĩa Vô Lượng, bản kinh dạy cho Bồ tát
và được Phật giữ gìn. Nói kinh ấy rồi, đức Thế Tôn
vẫn ngồi xếp bằng ở ngay giữa đại hội mà nhập định.
Vị trí của Nghĩa Vô Lượng, thân thể và tâm trí đều không
dao động. Ngay khi ấy chư thiên mưa xuống hoa mạn đà, hoa
mạn đà lớn, hoa mạn thù, hoa mạn thù lớn, rải trên đức
Thế Tôn và cả đại hội. Khắp cõi Phật này chấn động
đủ cả sáu cách. Trong đại hội, bốn chúng là Tỷ kheo và
Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di; tám bộ là thiên, long,
dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la
dà, toàn là những người không phải loài người, và các
chúng khác mà trong đó có các vị quốc vương và các vị
luân vương, hết thảûy các chúng như vậy đều được sự
chưa từng có, hoan hỷ, chắp tay, và chuyên chú chiêm ngưỡng
đức Thế Tôn. Còn đức Thế Tôn thì từ nơi tướng lông
trắng giữa hai đầu của hai hàng lông mày phóng ra ánh sáng,
chiếu soi mười tám ngàn thế giới hệ ở về hướng đông,
không thế giới hệ nào mà không chiếu soi dưới đến Vô
gián ngục trên đến Sắc cứu cánh. Làm cho đại hội ở
thế giới hệ này mà thấy hết chúng sinh trong sáu loài của
các thế giới hệ ấy; lại thấy chư Phật hiện tại của
các thế giới hệ ấy, nghe kinh pháp của chư Phật ấy nói,
thấy bốn chúng, những người hành đạo và đắc đạo trong
các thế giới hệ ấy; lại thấy các vị bồ tát đi theo
đường đi của bồ tát bằng các thứ yếu tố, các cách
tin hiểu và các loại hình thức; lại thấy chư Phật nhập
diệt, thấy sau đó xá lợi của chư Phật ấy được đem
ra xây dựng những ngôi tháp bằng bảy chất liệu quý báu
mà tôn thờ.
Bấy giờ đức
Di Lạc suy nghĩ, hôm nay đức Thế Tôn biểu hiện cảnh tượng
thần biến. Vì lý do gì mà có điềm lành như vậy? Đức
Thế Tôn đang nhập định, sự thể ngoài sự nghĩ bàn ấy
biểu hiện cảnh tượng hiếm có này, ta nên hỏi ai, ai giải
đáp được? Đức Di Lạc lại nghĩ, bồ tát Văn Thù, vị
thái tử của đức Pháp vương, đã từng thân gần phụng
sự vô lượng chư Phật quá khứ, tất đã thấy được cảnh
tượng hiếm có này, vậy ta nên hỏi người. Cùng lúc, cả
bốn chúng, tám bộ và các chúng khác, ai cũng nghĩ rằng, cảnh
tượng thần biến biểu hiện bởi ánh sáng của đức Thế
Tôn như vầy, nên đem hỏi ai? Đức Di Lạc muốn giải quyết
nghi ngờ của mình, lại xét tâm trí của cả đại hội, nên
hỏi bồ tát Văn Thù, vì lý do nào mà có điềm lành _ có
cảnh tượng thần biến là đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn
chiếu soi mười tám ngàn cõi Phật ở về hướng đông, làm
cho đại hội ở đây mà thấy hết mọi sự huy hoàng của
các cõi Phật ấy? Đức Di Lạc muốn lặp lại ý nghĩa đã
hỏi, nên hỏi bồ tát Văn Thù bằng những lời chỉnh cú
sau đây.
(1) Văn Thù đại
sĩ,
vì lý do nào
mà đức Thế
Tôn,
vị thầy dẫn
đạo,
từ nơi lông trắng
giữa hai đầu
mày,
phóng ánh sáng
lớn
chiếu soi khắp
cả?
(2) Chư thiên mưa
xuống
bao nhiêu hoa quí
mạn đà mạn
thù,
và thổi làn gió
hơi thơm đàn
hương,
đẹp lòng đại
hội.
(3) Vì vậy mặt
đất
cả quốc độ
này
rực rỡ huy hoàng,
và cả quốc độ
đều chấn động
lên
đủ hết sáu
cách.
Làm cho bốn chúng
hoan hỷ tất cả,
cơ thể tâm trí
đều thấy thích
thú,
cảm nhận sự
thể
chưa bao giờ có.
(4) Chỉ một ánh
sáng
phóng từ lông
trắng
giữa hai đầu
mày
chiếu soi hướng
đông,
mà khiến một
vạn
tám ngàn quốc
độ
đều như màu
sắc
ánh từ vàng ròng.
(5) Trong các quốc
độ
được chiếu
như vậy,
từ Vô gián ngục
đến Sắc cứu
cánh,
hết thảy chúng
sinh
thuộc cả sáu
loài
sinh từ loài này
chết đến loài
khác,
(6) hành vi lành
dữ,
kết quả tốt
xấu,
ở quốc độ
này
mà thấy rõ cả.
(7) Lại thấy
chư Phật,
chúa của thánh
hiền,
tuyên thuyết kinh
pháp
tinh túy bậc nhất,
bằng tiếng trong
thanh
xuất lời hòa
nhã
mà dạy bồ tát
vô số ức vạn.
(8) Bằng tiếng
Phạn thiên
thâm thúy kỳ
diệu
khiến người
thích nghe,
chư Phật ở nơi
quốc độ của
mình
diễn giảng chánh
pháp,
vận dụng vô
số
yếu tố, ví dụ,
soi sáng chánh
pháp
thức tỉnh chúng
sinh:
(9) Ai bị khổ
não,
chán già bịnh
chết,
thì nói cho họ
về pháp niết
bàn,
để họ diệt
tận
biên cương khổ
não.
(10) Ai có phước
đức
từng hiến cúng
Phật,
chí cầu đạt
được
chân lý cao hơn,
thì nói cho họ
về pháp duyên
giác.
(11) Còn các con
Phật
làm mọi hạnh
nguyện
để cầu thành
tựu
tuệ giác vô thượng,
thì nói cho họ
tuệ giác trong
suốt.
*
(12) Văn Thù đại
sĩ,
tôi ở nơi đây
mà thấy và nghe
đến như thế
đó,
có ngàn ức việc.
Việc nhiều như
vậy
nay tôi chỉ kể
một cách vắn
tắt.
(13) Tôi thấy
bồ tát
như cát sông Hằng,
của trong tất
cả
thế giới hệ
ấy,
đem mọi yếu
tố
cầu tuệ giác
Phật.
(14) Có người
thực hành
hạnh nguyện bố
thí:
bạc, vàng, san
hô,
chân châu, ma ni,
xa cừ, mã não,
kim cương, của
quí,
tôi tớ, xe thuyền,
vật để cỡi,
chở,
(15) xe liễn, xe
dư
trang hoàng vàng
ngọc,
cũng rất hoan
hỷ
mà đem hiến cho,
rồi hồi hướng
cả
về nơi trí Phật,
(16) nguyện được
xe Phật
cỗ xe bậc nhất
trong cả ba cõi,
được Phật tán
dương.
(17) Hoặc có bồ
tát
cho xe quí báu
kéo bởi bốn
ngựa,
lại có lan can
mui trần hoa mỹ
mái riềm trang
hoàng.
(18) Lại thấy
bồ tát
cho thân cho thịt
cho tay cho chân
cho cả vợ con,
quyết chí đạt
đến
tuệ giác vô thượng.
(19) Lại thấy
bồ tát
cho đầu cho mắt
cho cả thân thể
_
cho mà vui thích,
để cầu thành
tựu
tuệ giác Phật
đà.
(20) Văn Thù đại
sĩ,
tôi thấy vua chúa
đi đến chỗ
Phật
hỏi pháp vô thượng,
rồi từ bỏ liền
đất nước thịnh
vượng,
bỏ cả cung điện
đình thần hậu
phi,
(21) cạo sạch
râu tóc
mà mặc pháp y.
(22) Hoặc thấy
bồ tát
mà làm tỷ kheo,
chỉ ở một mình
nơi chỗ thanh
vắng,
vui vẻ thích thú
đọc tụng kinh
điển.
(23) Lại thấy
bồ tát
dũng mãnh tinh
tiến,
vào chốn núi
sâu
suy nghĩ trí Phật.
(24) Lại thấy
bồ tát
tách rời dục
vọng,
thường xuyên
trú ở
những chỗ trống
vắng,
tu sâu thuyền
định
được năm thần
thông.
(25) Lại thấy
bồ tát
chân đứng vững
vàng
tư tưởng tập
trung
hai tay chắp lại,
đem cả ngàn vạn
bài văn chỉnh
cú
hoan hỷ ca tụng
các đấng Pháp
vương.
(26) Lại thấy
bồ tát
trí sâu, nhớ
chắc
có thể thưa hỏi
chánh pháp nơi
Phật,
nghe rồi tiếp
nhận
ghi nhớ đủ cả.
(27) Lại thấy
con Phật
đủ cả định
tuệ,
áp dụng vô số
mọi sự ví dụ,
diễn giảng chánh
pháp
cho các chúng khác;
(28) lại vui thuyết
pháp
giáo hóa bồ tát,
chiến thắng ma
vương
và binh đội nó,
rồi gióng lớn
lên
tiếng trống chánh
pháp.
(29) Lại thấy
bồ tát
vắng bặt im lặng,
trời rồng cung
kính
không lấy làm
mừng.
(30) Lại thấy
bồ tát
ở trong núi rừng
mà phóng ánh sáng
cứu khổ địa
ngục,
thức tỉnh cho
họ
hướng vào trí
Phật.
*
(31) Lại thấy
con Phật
chưa từng ngủ
nghỉ,
kinh hành trong
rừng
siêng cầu trí
Phật.
(32) Lại thấy
có vị
giới pháp đầy
đủ,
uy nghi vẹn toàn,
sạch sẽ trong
suốt
in như ngọc quí
để cầu trí
Phật.
(33) Lại thấy
con Phật
trụ vào sức
nhẫn,
bao kẻ thượng
mạn
mắng nhiếc đánh
đập
vẫn nhẫn được
cả
để cầu trí
Phật.
(34) Lại thấy
bồ tát
từ bỏ trò chơi,
bỏ luôn những
kẻ
thân thuộc ngu
dốt,
chỉ biết thân
gần
những người
thánh trí,
(35) chuyên nhất
tâm ý
trừ bỏ loạn
động,
trú ở núi rừng
tập trung tư tưởng,
trải qua ức vạn
những năm như
vậy
để cầu thành
tựu
tuệ giác Phật
đà.
(36) Hoặc thấy
bồ tát
cỗ bàn quí trọng,
thức uống, đồ
ăn,
các loại dược
phẩm,
đều đem hiến
cúng
Phật bảo Tăng
bảo.
(37) Y phục danh
tiếng
và thượng hảo
hạng,
giá trị ngàn
vạn
hoặc đến vô
giá,
đều đem hiến
cúng
Phật bảo Tăng
bảûo.
(38) Nhà cửa quí
báu
bằng gỗ đàn
hương,
trong đó đồ
nằm
rất tốt và đẹp,
nhà và đồ ấy
nhiều đến vạn
ức,
đều đem hiến
cúng
Phật bảûo Tăng
bảo.
(39) Vườn rừng
quang đãng,
trong đó đủ
cả
hoa trái tốt nhiều,
suối chảy ao
tắm,
đều đem hiến
cúng
Phật bảo Tăng
bảo.
(40) Đồng đẳng
như vậy,
họ đem hiến
cúng
đủ hết những
thứ
rất là tinh tế,
mà lòng hoan lạc
không biết nhàm
chán,
chí quyết đạt
đến
tuệ giác vô thượng.
(41) Hoặc có bồ
tát
bằng nhiều minh
chứng,
nói về nguyên
lý
tuyệt đối vắng
lặng,
huấn dụ vô số
các loại chúng
sinh.
(42) Hoặc thấy
bồ tát
xét thấy bản
thể
tất cả vạn
hữu
in như hư không:
không những khái
niệm
thuộc về nhị
biên.
Lại thấy con
Phật
tâm không vướng
mắc,
đem tuệ mầu
này
cầu tuệ vô thượng.
*
(43) Văn Thù đại
sĩ,
có những bồ
tát
Phật nhập diệt
rồi
hiến cúng xá
lợi.
(44) Lại thấy
con Phật
dựng bao chùa
tháp
nhiều bằng Hằng
sa
tô điểm quốc
độ.
(45) Tháp thì tráng
lệ,
làm bằng bảy
báu,
chiều cao có đến
năm ngàn do tuần,
chu vi rộng đến
hai ngàn do tuần.
(46) Mỗi một
chùa tháp
cờ phan cả ngàn,
màn được kết
ngọc,
chuông nhỏ hòa
reo,
tám bộ thiên
long,
loài người loài
khác,
thường đem hiến
cúng
hoa hương, kịch
nhạc.
(47) Văn Thù đại
sĩ,
những con Phật
ấy
chính vì hiến
cúng
xá lợi của Phật
mà cố trang hoàng
những ngôi chùa
tháp,
nên cả quốc
độ
tự nhiên tráng
lệ
tuyệt diệu tuyệt
hảo,
in như cây chúa
của trời Đế
Thích
toàn bộ nở hoa.
*
(48) Thế Tôn chỉ
phóng
một đường ánh
sáng
mà làm cho tôi
và cả đại hội
thấy quốc độ
này
đủ mọi vẻ
đẹp.
(49) Những thần
thông lực
của đức Thế
Tôn
thật là hiếm
có:
chỉ phóng một
đường
ánh sáng rực
rỡ
mà chiếu khắp
cả
vô lượng quốc
độ.
(50) Làm cho chúng
tôi
nhìn cảnh tượng
này
ai cũng cảm được
sự chưa từng
có.
Phật tử Văn
Thù,
xin hãy giải thích
cho nỗi nghi ngờ
của cả đại
hội.
(51) Tất cả bốn
chúng
thích thú trông
ngóng,
nhìn vào nhân
giả
và nhìn vào tôi.
(52) Ai cũng muốn
biết
tại sao Thế Tôn
phóng ra ánh sáng
đến như thế
này?
(53) Phật tử
Văn Thù,
hãy đáp ứng
gấp,
giải tỏa nghi
ngờ
cho họ hoan hỷ:
vì ích lợi nào
mà đức Thế
Tôn
phóng ra ánh sáng
đến như thế
này -
(54) Chánh pháp
tinh túy
mà đức Thế
Tôn
đã chứng ngộ
được
trong khi mới ngồi
nơi bồ đề tràng,
ngài muốn tuyên
thuyết
về chánh pháp
ấy,
hay muốn thọ
ký?
(55) Ánh sáng Thế
Tôn
đã làm hiện
ra
cho chúng tôi thấy
bao nhiêu cõi Phật
đẹp và sáng
lên
với những ngọc
quí,
lại được thấy
cả
chư vị Phật
đà,
thì đó không
phải
là sự kiện nhỏ.
(56) Văn Thù đại
sĩ,
nên biết tất
cả
bốn chúng tám
bộ
và các chúng khác,
nhìn xem nhân giả
nói cho rhế nào?
Lúc ấy bồ tát
Văn Thù nói với đức Di Lạc, và các vị đại sĩ khác, chư
vị thiện nam tử, theo tôi suy xét thì đức Thế Tôn hiện
nay muốn nói chánh pháp vĩ đại, đổ mưa chánh pháp vĩ đại,
thổi loa chánh pháp vĩ đại, đánh trống chánh pháp vĩ đại,
diễn nghĩa chánh pháp vĩ đại. Chư vị thiện nam tử, nơi
chư Phật quá khứ, tôi đã từng thấy điềm lành như vậy.
Các ngài phóng ra ánh sáng này rồi là nói về chánh pháp vĩ
đại. Do đó, chư vị nên biết, đức Thế Tôn hiện nay phóng
ra ánh sáng thì cũng sẽ làm như vậy. Muốn làm cho chúng sinh
ai cũng nghe biết được cái pháp mà cả thế gian đều khó
tin, nên đức Thế Tôn biểu hiện điềm lành như vầy.
Chư vị thiện
nam tửû, như trong quá khứ, lâu đến rất nhiều thời kỳ
vô số, bấy giờ có đức Phật danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng
Minh, đủ mười đức hiệu: bậc Đến như chư Phật, bậc
Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn
hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ,
bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy
cả trời người, bậc Tuệ giáùc hoàn toàn: bậc Tôn cao nhất
đời. Ngài tuyên thuyết chánh pháp một cách phần đầu phần
giữa phần cuối ba phần đều tuyệt hảo, nghĩa lý sâu xa,
lời tiếng tuyệt diệu, thuần nhất không tạp, đủû hết
sắc thái phạn hạnh trắng trong. Ấy là người cầu Thanh
văn thì nói mà đáp ứng bằng bốn chân lý, để họ vượt
qua sinh, già, bịnh, chết, cứu cánh niết bàn; người cầu
Duyên giác thì nói mà đáp ứng bằng mười hai duyên khởi;
còn các vị Bồ tát thì nói mà đáp ứng bằng sáu ba la mật,
làm cho họ được tuệ giác vô thượng, nghĩa là thành bậc
Tuệ giác biết tất cả.
Kế đó lại có
đức Phật cũng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, kế đó nữa lại
có đức Phật cũng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như vậy có
hai mươi ngàn đức Phật đều cùng một tên, tên Nhật Nguyệt
Đăng Minh, và cùng một họ, họ Phả La Đọa. Di Lạc đại
sĩ, đại sĩ nên biết, đức Phật đầu tiên cũng như đức
Phật cuối cùng đều cùng một tên Nhật Nguyệt Đăng Minh,
cùng đủ mười đức hiệu, và pháp mà các ngài tuyên thuyết
cũng phần đầu phần giữa phần cuối ba phần đều tuyệt
hảo. Đức Phật cuối cùng, khi chưa xuất gia, có tám vương
tử, thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên
Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bảo Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ
sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hướng Ý, thứ tám tên
Pháp Ý. Cả tám vương tử đều uy đức tự tại, thống lãnh
bốn đại lục. Khi nghe phụ hoàng xuất gia, thành tựu tuệ
giác vô thượng, thì tám vương tử ấy cùng bỏ ngôi vua mà
xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường hành phạn hạnh,
và cùng làm pháp sư, vì đã từng gieo trồng các gốc rễ
điều lành ở nơi ngàn vạn đức Phật. Bấy giờ đức Phật
Nhật Nguyệt Đăng Minh cũng đã nói bản kinh Đại thừa tên
Nghiã Vô Lượng, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật
giữ gìn. Nói kinh ấy rồi, đức Phật ấy cũng đã ở ngay
giữa đại hội mà ngồi xếp bằng, nhập định vị trí của
nghiã vô lượng, thân thể và tâm trí đều không dao động.
Lúc ấy chư thiên cũng mưa xuống hoa Mạn Đà, hoa Mạn Đà
lớn, hoa Mạn Thù, hoa Mạn Thù lớn, rải trên đức Phật
và cả đại hội. Khắp cõi Phật này cũng chấn động đủ
hết sáu cách. Trong đại hội, bốn chúng, tám bộ và các
chúng khác, hết thảy các chúng như vậy cũng được sự chưa
từng có, hoan hỷ, chắp tay, chuyên chú mà chiêm ngưỡng đức
Phật. Còn đức Phật thì cũng từ nơi tướng lông trắng
giữa hai đầu của hai hàng lông mày phóng ra ánh sáng, chiếu
soi mười tám ngàn cõi Phật ở về hướng đông, không cõi
Phật nào mà không chiếu soi khắp cả, y như những cõi Phật
mà ngày nay chư vị đang thấy.
Di Lạc đại sĩ,
đại sĩ nên biết, trong đại hội lúc ấy có hai mươi ức
bồ tát ưa thích nghe pháp. Các vị bồ tát này thấy ánh sáng
của Phật chiếu khắp các cõi Phật như vậy thì cũng được
sự chưa từng có, và cũng muốn biết mục đích của ánh
sáng ấy. Bấy giờ có một vị bồ tát tên Diệu Quang, có
tám trăm đệ tử. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất
định, nhân bồ tát Diệu Quang mà nói bản kinh Đại thừa
tên Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và được
Phật giữ gìn. Ngài nói đến sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ,
không đứng dậy khỏi pháp tòa. Đại hội thính giả lúc
ấy cũng ngồi một chỗ, trải qua sáu mươi thời kỳ bậc
nhỏ mà thân thể và tâm trí đều bất động, nghe đức Phật
nói thì cho rằng chỉ bằng thì gian một bữa ăn. Cả đại
hội không một ai mà thân thể hay tâm trí sinh nhác sinh mệt.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa trong sáu
mươi thời kỳ bậc nhỏ rồi, liền ở giữa đại hội các
chúng phạn vương, ma vương, sa môn, bà la môn, và chư thiên,
nhân loại, tu la, tuyên ngôn rằng giữa đêm hôm nay Như Lai
sẽ nhập niết bàn hoàn toàn.
Bấy giờ có bồ
tát tên Đức Tạng, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền
thọ ký cho, bằng cách nói với chư vị Tỷ kheo, rằng vị
bồ tát Đức Tạng này sẽ kế tiếp làm Phật, danh hiệu
Tịnh Thân, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến
cúng, bậc Biết đúng và kháép. Thọ ký rồi, ngay giữa đêm
ấy, đức Phật nhập niết bàn hoàn toàn. Sau đó bồ tát
Diệu Quang ghi nhớ Pháp Hoa, diễn giảng cho người trọn tám
mươi thời kỳ bậc nhỏ. Tám vương tử con đức Phật Nhật
Nguyệt Đăng Minh đều tôn thờ bồ tát Diệu Quang làm thầy,
bồ tát ấy giáo hóa, làm cho tám vương tử vững chắc đối
với tuệ giác vô thượng. Tám vương tử, sau đó, phụng sự
rất nhiều ức đức Phật rồi, được thành Phật cả, và
vị thành Phật cuối cùng danh hiệu là Nhiên Đăng. Trong tám
trăm đệ tử của bồ tát Diệu Quang, có một vị tên là
Cầu Danh, đam mê danh lợi, dẫu cũng đọc tụng kinh pháp mà
không thông suốt, phần nhiều quên mất, nên mới có cái tên
Cầu Danh. Nhưng vị này cũng nhờ sự gieo trồng các gốc rễ
điều lành mà được gặp rất nhiều ức đức Phật, hiến
cúng, cung kính, tôn trọng và tán dương. Di Lạc đại sĩ,
đại sĩ nên biết bồ tát Diệu Quang lúc ấy đâu phải ai
khác, mà chính là tôi đây, còn bồ tát Cầu Danh thì chính
là đại sĩ. Ngày nay thấy điềm lành như vầy so với ngày
xưa không khác gì cả, nên tôi nghĩ rằng đức Thế Tôn hiện
nay sẽ tuyên thuyết về bản kinh Đại thừa tên là Pháp Hoa,
bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn.
Lúc ấy, ở giữa
đại hội, bồ tát Văn Thù muốn lập lại ý nghiã đã nói,
nên nói những lời chỉnh cú sau đây.
(57) Tôi nhớ quá
khứ
vô số thời kỳ,
có đức Phật
đà,
bậc tôn cao nhất,
danh hiệu ngài
là
Nhật Nguyệt Đăng
Minh.
(58) Đức Phật
đà ấy
tuyên thuyết chánh
pháp
hóa độ vô lượng
các loại chúng
sinh,
và vô số ức
các vị Bồ tát,
làm cho vào được
tuệ giác Phật
đà.
(59) Có tám vương
tử
con của Phật
sinh
lúc chưa xuất
gia,
thấy Phật xuất
gia
cũng xuất gia
theo
thực hành phạn
hạnh.
(60) Bấy giờ
Phật nói
bản kinh đại
thừa
tên Nghĩa Vô Lượng,
giảng giảûi
rộng rãi
nghĩa lý vô lượng
cho cả đại hội.
(61) Phật tuyên
thuyết xong
bản kinh ấy rồi,
liền ngồi xếp
bằng
ngay trên pháp
tòa,
nhập định Vị
trí
của nghĩa vô
lượng.
(62) Chư thiên
mưa xuống
hoa mạn đà la,
và trống chư
thiên
tự kêu vang rền;
tám bộ thiên
long
dùng hoa trống
ấy
hiến cúng lên
bậc
tôn cao nhất người.
(63) Toàn cõi Phật
này
đồng thời chấn
động.
Và rồi đức
Phật
phóng ra ánh sáng
từ nơi lông trắng
giữa hai đầu
mày,
biểu hiện đủ
cả
cảnh tượng hiếm
có.
*
(64) Ánh sáng như
vậy
chiếu soi một
vạn
tám ngàn cõi Phật
ở về hướng
đông,
biểu hiện cho
thấy
tất cả những
chỗ
các loại chúng
sinh
sinh ra chết đi,
hành động lành
dữ,
hưởng chịu tốt
xấu.
(65) Lại được
nhìn thấy
có những cõi
Phật
toàn thể trang
hoàng
bằng bao vàng
ngọc,
ánh lên màu sắc
lưu ly pha lê;
đại hội thấy
được
đến như thế
này
là do ánh sáng
của Phật chiếu
soi.
(66) Lại thấy
tất cả
tám bộ thiên
long
cùng với nhân
loại
tại mỗi quốc
độ
cùng nhau hiến
cúng
đức Phật của
mình.
(67) Lại thấy
chư Phật
tự thành Phật
tuệ,
thân như núi vàng
cực kỳ tráng
lệ.
Các ngài ở giữa
đại hội thánh
hiền
diễn giảng nghĩa
ý
của pháp sâu
xa,
thì trông giống
như
những tượng
vàng thật
hiện trong các
khối
lưu ly trong suốt.
(68) Trong mỗi
cõi Phật,
thanh văn vô số,
cũng nhờ ánh
sáng
của Phật chiếu
soi
mà thấy rõ cả
chúng thanh văn
ấy.
(69) Thấy chư
tỷ kheo
ở trong núi rừng,
tinh tiến giữ
giới
như giữ ngọc
sáng.
(70) Lại thấy
bồ tát
nỗ lực bố thí
kiên trì nhẫn
nhục,
số bồ tát ấy
nhiều như hằng
sa
mà thấy được
cả,
là do ánh sáng
của Phật chiếu
soi.
(71) Thấy các
bồ tát
tinh tiến nhập
định
một cách sâu
xa,
thân tâm bất
động,
đem thiền định
ấy
cầu trí vô thượng.
(72) Thấy các
bồ tát
biết rất thấu
suốt
thật tướng vắng
lặng
của tất cả
pháp,
thuyết thật tướng
ấy
nơi quốc độ
mình,
đem báùt nhã
này
cầu thành trí
Phật.
(73) Bấy giờ
bốn chúng
được thấy đức
Phật
Nhật Nguyệt Đăng
Minh
biểu hiện thần
lực
đến như thế
ấy,
lòng họ hoan hỷû
và cùng hỏi nhau,
rằng cảnh tượng
này
vì lý do nào
mà Phật biểu
hiện?
*
(74) Khi ấy đức
Phật,
đấng mà trời
người
ai cũng tôn thờ,
vừa mới xuất
định,
tức thì khen ngợi
bồ tát Diệu
Quang:
(75) Ông là con
mắt
của cả thế
gian!
Ai cũng qui về
tin tưởng nơi
ông!
Ông kính giữ
được
kho tàng chánh
pháp!
Kho tàng chánh
pháp
mà rồi Như Lai
sẽ nói hết ra,
chỉ ông chứng
biết!
(76) Đức Phật
khen ngợi
làm cho bồ tát
Diệu Quang hoan
hỷ,
rồi nói Pháp
Hoa
suốt hết sáu
mươi
thời kỳ bậc
nhỏ.
(77) Và pháp tối
thượng
tuyệt diệu như
vậy
được Phật tuyên
thuyết
mà không đứng
dậy
rời khỏi pháp
tòa,
pháp sư Diệu
Quang
vẫn tiếp nhận
được
và ghi nhớ cả.
(78) Đức Phật
tuyên thuyết
về kinh Pháp Hoa
làm cho các chúng
hoan hỷ cả rồi,
liền trong ngày
ấy
ngài bảo các
chúng:
(79) Thật tướng
các pháp
Như Lai đã đem
nói cho các người.
Giữa đêm hôm
nay
Như Lai sẽ nhập
niết bàn hoàn
toàn.
(80) Các người
cần phải
một lòng tinh
tiến
chuyên chú vào
pháp
Như Lai đã nói,
còn sự phóùng
dật
nên tránh thật
xa;
vì lẽ chư Phật
rất là khó gặp,
vạn ức thời
kỳ
mới thấy một
lần.
(81) Đệ tử của
Phật
nghe Phật loan
báo
sắp sửa nhập
diệt,
ai cũng đau buồn
nghĩ Phật nhập
diệt
sao mà mau chóng.
(82) Vị chúa thánh
triết
và vua các pháp
an ủi các chúng:
sau khi Như Lai
nhập niết bàn
rồi
các người đừng
lo.
(83) Bồ tát Đức
Tạng
tâm trí thấu
triệt
thật tướng thuần
khiết,
sẽ kế Như Lai
thành đức Phật
đà
danh hiệu Tịnh
Thân,
và cũng hóa độ
vô lượng các
chúng.
(84) Rồi giữa
đêm ấy
đức Phật nhập
diệt
như củi mà hết
thì lửa cũng
tắt.
Sau đó xá lợi
được phân bủa
ra
và xây dựng lên
vô số bảo tháp.
(85) Chư vị tỷ
kheo
và tỷ kheo ni
số lượng nhiều
đến
như cát sông Hằng,
lại càng nỗ
lực
tinh tiến hơn
lên
để cầu đạt
được
tuệ giác vô thượng.
*
(86) Phần ngài
Diệu Quang,
pháp sư bồ tát,
kính giữ kho tàng
chánh pháp của
Phật,
trải qua tám mươi
thời kỳ bậc
nhỏ
tuyên thuyết rộng
rãi
Diệu Pháp Liên
Hoa.
(87) Còn tám vương
tử
thì nhờ bồ tát
Diệu Quang khai
hóa,
tất cả đều
được
vững chắc đối
với
tuệ giác vô thượng,
nên sau gặp được
vô số Phật đà.
(88) Các vị phụng
sự
chư Phật như
vậy,
cùng nhau đi theo
con đường vĩ
đại,
nên kế tiếp
nhau
được thành Phật
cả,
và theo thứ tự
thọ ký cho nhau.
(89) Đức Phật
cuối cùng,
vị trời nhất
trời,
danh hiệu ngài
là
Nhiên Đăng Như
Lai,
bậc thầy dẫn
đạo
các vị hiền
triết,
độ cho giải
thoát
vô số các chúng.
(90) Pháp sư Diệu
Quang
có một đệ tử
tính thường biếng
nhác
đam mê danh lợi,
(91) cầu hồ danh
lợi
một cách không
chán,
nên hay giao du
với nhà dòng
dõi,
bỏ bê kinh pháp
đã được tụng
tập,
nên hay quên mất
chứ không thông
suốt.
(92) Vì lý do ấy
có tên Cầu Danh.
(93) Nhưng cũng
thực hành
đủ các pháp
lành,
gặp được vô
số
chư vị Phật
đà,
phụng sự hiến
cúng
Phật đà như
vậy
và cũng đi theo
con đường vĩ
đại,
hoàn thiện sáu
pháp
đến bờ bên
kia,
nên nay lại gặp
Sư tử họ Thích.
(94) Thì gian sau
ngài,
sẽ kế làm Phật
với danh hiệu
là
Di Lạc từ tôn,
cứu độ rộng
rãi
các loại chúng
sinh
mà số lượng
ấy
không thể tính
kể.
*
(95) Sau khi đức
Phật
Nhật Nguyệt Đăng
Minh
nhập niết bàn
rồi,
người hay biếng
nhác
chính là đại
sĩ,
còn vị pháp sư
bồ tát Diệu
Quang
là bản thân tôi.
(96) Chính tôi
xưa kia
Ở nơi đức Phật
Nhật Nguyệt Đăng
Minh
đã từng thấy
được
điềm lành ánh
sáng
như tôi vừa nói.
(97) Vì vậy tôi
biết
Thế Tôn ngày
nay
chủ ý muốn nói
về kinh Pháp Hoa.
(98) Cảnh tượng
hiện nay
giống điềm lành
cũ,
và là phương
tiện
của chư Thế
Tôn:
Thế Tôn ngày
nay
phóng ánh sáng
lớn
là để hổ trợ
phát hiện thật
tướng.
(99) Chư vị nên
biết
chủ ý như vậy,
và hãy chắp tay
nhất tâm mà chờ.
Thế Tôn sẽ đổ
nước mưa chánh
pháp,
sung túc những
người
cầu tuệ giác
Phật.
(100) Tất cả
những người
cầu ba cỗ xe
nếu có điều
gì
hoài nghi hối
tiếc,
thì vị Toàn giác
sẽ giải trừ
cho -
giải trừ sạch
hết,
không còn sót
lại.
x |