Lược
dẫn
Lược
nói chủ ý
Không có dịch
phẩm nào của tôi dịch chữ Hoa và chữ Hoa Việt ra chữ Việt
nhiều bằng Pháp Hoa. Không những cốt làm cho bớt nặng nề
mà cốt vì một số chữ quen dùng nên hóa ra không hiểu hay
hiểu sai: kiếp là số kiếp, duyên là duyên nợ, phổ môn
là... phổ môn, vân vân. Thế nhưng trong các bản in 1 (với
ảnh bìa Phổ Hiền), bản in 2 (với ảnh bìa Thế Chí), bản
in 3 ( với ảnh bìa Hoa sen), bản in 4 (ở hải ngoại, với
bìa Pháp luân), vẫn để nguyên vài chỗ, như 10 như thị,
vân vân. Nay thì vài chỗ ấy cũng dịch cả. Lại chữa vài
chữ cho thích đáng, thí dụ cúng dường (cung dưỡng) đã
dịch là hiến cúng, nay có chỗ chữa là phụng sự, vân vân.
Ngoài ra, những từ ngữ nóùi về số nhiều cũng phải chú
ý. Một số để nguyên. Một số để nguyên mà còn dịch
rõ hơn. Nhưng một sốáá phảûi dịch gọn mới nói lên khái
niệm nhiều, rất nhiều và cực nhiều.
Kế đến, các
bản in trước đây không chú trọng lược giải mà chỉ ghi
chú và phụ lục. Nay thì lược giải gồm có ghi chú, phụ
lục, lược giải và toát yếu. Do vậy, bản chữa lần này
là định bản, gồm có hai tập, cóù thể in chung mà cũng
có thể in riêng: Tập 1 gọi là phần chính văn, gồm có chính
văn kinh Pháp Hoa, phụ lục phẩm Phổ Hiền và toát yếu kinh
Pháp Hoa. Vì nhiều lý do, tôi không dịch hay dịch lược kinh
Vô Lượng Nghĩa và kinh Quán Phổ Hiền, làø 2 kinh hay được
gồm với Pháp Hoa mà gọi là Pháp Hoa tam kinh. Tập 2 gọi là
phần lược giải nội dung mới nói ở trên; ở đây xin nói
thêm rằng chủ ý lược giải của tôi, nhất là ghi chú, cốt
làm sáng ý của chính văn, vì chính văn có mấy chỗ chuyển
văn hay chuyển ý mà rất cần phải tìm hiểu.
Với tuổi đời
76, sức yếu, mắt kém, nhưng tôi ráng hiến cúng Pháùp Hoa
lần chót để như là tụng kinh lần chót, hồi hướng cho
cha mẹ, sư trưởng, thiện hữu, tín thí, cho đồng loại và
chúng sinh.
Lược xét văn
bản
Pháp Hoa có 3 bản
dịch, nằm cả trong C9/1-198. Bản thứ nhất là Tần dịch
(CV), bản thứ hai là Tấn dịch (HD), bản thứ ba là Tùy dịch
(ĐD). Hãy lược xét về 3 văn bản ấy.
Nói về thì gian
thì HD có sớm nhất (288 dương lịch), CV tiếp theo (406 dương
lịch), ĐD có sau đó (601 dương lịch).
Nói về Phạn
bản thì có thể suy đoán CV có sớm nhất, HD tiếp theo, ĐD
có sau đó. Hãy coi thêm các tiểu mục dưới đây.
Nói về Phạn
bản của CV thì bài tựa của ĐD (không có tên tác giả, nằm
trong C9/134) suy đoán là bản Qui tư. Nhưng tài liệu này không
nói rõ là Phạn văn lưu hành ở Qui tư hay là văn tự Qui tư.
Còn tài liệu khác, C51/54t, thì nói Pháp Hoa mà ngài La Thập
dịch là được truyền dạy bởi thầy ngài, tôn giả Tu Lị
Da Tô Ma (Soryasoma), có nghĩa Phạn bản của CV là Phạn văn
Ấn độ. Phạn bản của HD thì lời tựa ĐD suy đoán là bản
của Đa la (Đa la diệp: Lá đa la? ). Phạn bản của ĐD thì
lời tựa tự cho cũng là bản Đa la.
Nói về nội dung
thì mục lược trình toàn văn sau đây sẽ nói. Ở đây chỉ
nói rằng tôi suy đoán Phạn bản của CV có sớm và thuần
hơn, đặc biệt tương đồng với PT (luận Pháp Hoa của ngài
Thế Thân) hơn cả. Còn Phạn bản của HD và của ĐD, thêm
nữa của KD, thì rõ ràng có chậm lắm, thêm thắt không ít,
và những chỗ thêm thắt ấy không thích đáng với phong cách
Pháp Hoa cả văn lẫn ý. Lời tựa của ĐD nói CV thiếu thì
đáng lẽ phải nói các bản khác thêm và thừa (trừ chỉnh
cú phẩm Phổ môn khá thích đáng, nhưng KD lại thêm hơn và
vì vậy mà không đáùng có).
Nói về giá trị
thì CV dĩ nhiên đặc tôn. Nhưng HD có cái sở trường là dịch
từ ngữ, không đối chiếu với HD thì có những từ ngữ
của CV sẽ bị hiểu lầm. Tức như từ ngữ châu giao lộ
man mà không hiểu giao lộ mới là gạch nối. Còn ĐD thì chỉ
thêm mấy chỗ mà lời tựa cho là thiếu (nhưng vẫn không
đủ bằng HD), ngoài ra, toàn bộ chỉ sao lại CV, nên chẳng
có giá trị bao nhiêu.
Lược trình
toàn văn
Thật ra nên nói
CV có 2 bản: CV nguyên hữu và CV bổ sung. Nguyên hữu là y
nguyên của ngài La Thập dịch. Bổ sung là sau này thêm vào
2 chỗ. Đây là toàøn văn CV nguyên hữïu, trích và kê theo
Pháp Hoa sớ (V150/396-412, được viết năm 432) của ngàøi Đạo
Sinh (355-434, đứng đầu tứ kiệt của học đồ ngài La Thập)
: phẩm 1 Mở đầu, phẩm 2 Phương tiện, phẩm 3 Ví dụ, phẩm
4 Tin hiểu, phẩm 5 Cây cỏ, phẩm 6 Thọ ký, phẩm 7 Tương
quan xa xưa, phẩm 8 Năm trăm đệ tử tiếp nhận thọ ký, phẩm
9 Thọ ký cho các vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất,
phẩm 10 Người diễn giảng Pháp Hoa, phẩm 11 Bảo tháp xuất
hiện, phẩm 12 Kính giữ Pháp Hoa, phẩm 13 Sống yên vui, phẩm
14 Từ đất xuất hiện, phẩm 15 Sự sống lâu của đức Thế
Tôn, phẩm 16 Phân tích thành quả, phẩm 17 Thành quảû tùy
hỷ, phẩm 18 Thành quả của người diễn giảng Pháp Hoa, phẩm
19 Bồ tát Thường bất Khinh, phẩm 20 Sứùc thần của đức
Thế Tôn, phẩm 21 Giao phó trọng trách, phẩm 22 Việc cũ của
bồ tát Dược Vương, phẩm 23 Bồ tát Diệu Âm, phẩm 24 Quan
Âm đại sĩ: vị Toàn diện, phẩm 25 Tổng trì minh chú, phẩm
26 Việc cũ của Diệu Trang Nghiêm Vương, phẩm 27 Sự khuyến
khích của bồ tát Phổ Hiêàn.
CV nguyên hữu,
như vậy, là rất gọn gàng và sáng sủa. Còn CV bổ sung thì
thêm vào 2 chỗ: một, sau phẩm 11 thêm phẩm Đề bà đạt
Đa thành phẩm 12, và do vậy CV bổ sung có 28 phẩm; hai, phẩm
24 thêm phần chỉnh cú. Thế nhưng CV bổ sung lại là bản
Pháp Hoa lưu hành, và có thể là định bản. Việc bổ sung
2 chỗ thành Pháp Hoa lưu hành và định bản này không rõ ai
làm, lịch sử và dã sử đều chưa tìm thấy, chỉ xét thấy
việc làm khá có ý thức, và phải có sau thời ngài Pháp Vân
(467-529) viết Pháp Hoa ký (cũng giải thích CV nguyên hữu, làm
cho kinh này thành vấn đề và có học thuyết hơn trước).
Nay lại đối
chiếu với HD, ĐD và KD để thấy CV bổ sung không có những
gì nữa. Thì ngoài 2 chỗ bổ sung nói trên, còn có 5 chỗ nữa
CV bổ sung không có, đó là không có nửa sau của phẩm Cây
cỏû (điều này rất giống PT, vì ở đó không có cái ví
dụ như nửa sau ấy), là không có 3 chỗ như HD, ở trong các
phẩm 8, 10 và 11 (ghi theo số hiệu các phẩm của CV bổ sung),
là không có 7 bài chỉnh cú nữa ở trong phẩm 25 như KD. Những
chỗ không có trên đây (mà tôi nói không có, không nói là
thiếu) sẽ được ghi chú và phụ lục ngay nơi mỗi chỗ,
và đủ hơn cả lời tựa đầy nhược điểm của ĐD.
Đến đây xin
kết luận rằng, may, rất may, CV bổ sung chỉ có 2 chỗ như
đã ghi.
Lược phân
đại ý
Toàn văn CV bổ
sung, như đã thấy, có 28 phẩm. Xét thẳng ý chính của 28
phẩm ấy, ta có thể, và nên, hệ thống hóa như sau, cực
kỳ đơn giản. Phẩm 1 là ngài Di Lạc phát khởûi. Phẩm 28
là ngài Phổ Hiền kết thúc. Còn 26 phẩm giữa thì chia làm
2 đại bộ phận. Đại bộ phận 1 gồm các phẩm 2-9, nói
về nhất thừa. Đại bộ phận 2 gồm các phẩm 10-27, nói
về sự quảng bá nhất thừa.
PH cốt nói nhất
thừa. Nhất thừa ởû đây là PH. PH không công nhận La hán
(hay Duyên giác) là cứu cánh. PH nói Phật xuất thế để làm
cho người làm Phật. Phật không có đệ tử Thanh văn, chỉ
có đệ tử Bồ tát. Thanh văn chỉ là phương tiện. Phương
tiện ở đây có 2 nghĩa:Thanh văn chỉ là Phật phương tiện
thiết lập, chỉ là nửa đường đi đến Phật.
Bằng nhiều cách,
PH xác quyết nhất thừa như vậy, trong đại bộ phận 1. Qua
đại bộ phận 2, càng bằng nhiều cách, PH nói quảng bá như
thế nào về nhất thừa, lại bổ túc nhiều mặt cho đại
bộ phận 1.
Cũng có thể bỏ
sự hệ thống hóa đi, chỉ nhìn cái thế liên hoàn của 28
phẩm, càng có thể thấy, không như kinh khác, PH có lắm văn
và ý độc đáo và đặc tôn.
Lược nói đương
cơ
Một người hướng
dẫn giỏi, dẫn một đoàn người vượt qua con đường hiểm
mà dài để đến chỗ vàng ngọc. Nửa đường họ muốn trở
lui. Người hướng dẫn phải tạo ra một đô thành giả cho
họ nghỉ. Nghỉ thế mà họ cho là an toàn và đến rồi. Người
hướng dẫn hủy diệt đô thành ấy, và bảo họ phải đi
tới nữa: sắp đến chỗ vàng ngọc rồi.
Phật cũng vậy.
Đã hướng dẫn đệ tử, mà chủ yếu là Thanh văn, đến
cái niết bàn của La hán rồi thì nay, ở PH, xác quyết rằng
niết bàn ấy chỉ là giả thiết. Và rằng Phật xuất thế
để đưa người làm Phật. Phật mới cứu cánh. Do vậy mà
Thanh văn thành ra đương cơ, đối thoại chủ yếu của PH.
Thế nhưng vẫn
có một số Thanh văn tăng thượng mạn: tự thị La hán đã
là cứu cánh. Loạn hơn, họ cho Phật cũng chỉ là La hán _
dầu chính nguyên thỉ và tiểu thừa cũng nói, không như La
hán, Phật có 10 lực, 4 vô úy, 18 bất cọng, đại bi tam niệm,
tam bất hộ, vân vân. Do vậy, Thanh văn tăng thượng mạn không
là đương cơ của PH. Họ rời khỏi đại hội PH ngay từ
đầu _ dầu sau đó Phật vẫn theo đuổi giáo hóa cho họ cũng
được làm Phật. Còn lại là chư vị Thanh văn có thể trở
thành Bồ tát, tự tín làm Phật. Họ là đương cơ của PH.
PH không như Duy ma nói Thanh văn là mầm hư giống hỏng, tuyệt
phần nhất thừa; PH nói, từ lâu và mãi hoài, Phật giáo hóa
nhất thừa cho Thanh văn. Thanh văn thời Phật, hay sau đó và
sau này, bao kiếp đi nữa rồi ra ai cũng làm Phật, không ai
cố định là La hán.
Lược điểm
chi tiết
Như đã nói PH
có lắm văn và ý độc đáo và đặc tôn. Nhưng ở đây chỉ
nêu lên một số cần thiết để làm sáng thêm đại ý của
PH.
Trước hết là
Phật quan, PH khái niệm về Phật rất độc đáo. Cái gọi
là đức Phật trong lịch sử, cái gọi là đức Phật cửu
viễn thật thành, cái gọi là đức Phật phi sinh phi diệt,
theo PH, toàn là Thích Ca. Phật không nhập diệt. Cái nhân bồ
tát hạnh của Phật làm cho sự sống lâu của Phật đã không
bao giờ hết. Phật ởû bên ta. Ta không thấy Phật chỉ vì
ta thấy là thấy sống chết mà Phật thì phi sinh diệt. Nhưng
mù nên không thấy mặt trời mà vẫn sống nhờ ánh sáng của
nó. Ta không thấy Phật nhưng ơn hóa độ của Phật không
rời bỏ ta, ta vẫn luôn luôn được hưởng. Phật quan của
PH là như vậy.
Thứ hai là Pháp
quan. Khái niệm 10 như vậy (hay 5 gì) về cái gọi là thật
tướng, đã khá độc đáo trong văn cũng như ý, vì khái niệm
như vậy thì Pháp chính là bản thân và thuộc tính của Phật.
Nhưng rõ ràng hơn, chỉnh cú 101 và 102 của phẩm 2, tuy nói
cả tánh đức và tu đức mà vẫn rõ ràng đề cao tu đức,
khi nói giống Phật cũng phát từ các yếu tố. PH là như vậy,
không những nói Pháp là đương xứ tiện thị, mà dẫu vì
vốn và vẫn trong sáng nên tu được, nhưng tu mới là điều
PH khuyến phát và đôn đốc.
Thứ ba là Niết
bàn. PH không công nhận tiểu thừa là không công nhận niết
bàn của tiểu thừa. PH nói niết bàn ấy chỉ giải thoát
hư ảo, chưa thật niết bàn, vì giải thoát mà chưa được
tuệ giác vô thượng. Khái niệm không những phủ nhận niết
bàn của tiểu thừa mà còn không cho niết bàn chỉ là đoạn
đức. Niết bàn phải đủ hết đoạn đức trí đức và ân
đức. Tựa như đứa con vẫn là đứa con, nhưng bỏ cha mà
đi là con dại, biết cha mà nhận là con thật. Lăng nghiêm
nói cánh tay vẫn là cánh tay, chỉ vì chỉ xuống nên gọi
là ngược, khi chỉ lên thì gọi là xuôi. Niết bàn của PH
là như vậy: hoạt dụng hơn cả sinh tử, với biết bao bất
tư nghị nghiệp, khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri
kiến.
Thứ tư là Nhất
thừa. PH nói tam thừa là phương tiện, nói nhất thừa mới
chân thật, cách nói nào cũng nói lên cái khái niệm"ai cũng
có thể làm Phật": tất cả Thanh văn đều được thọ ký
làm Phật, và bất cứ người nào, và chỉ niệm Phật một
tiếng đi nữa, rồi ra cũng làm Phật cả. Ý nghiã này rất
quan trọng, vì không những tu hành tiểu thừa cuối cùng cũng
làm Phật, mà một điều thiện nhỏ nhặt đến mấy cũng
không vô hiệu quả, vô lượng thì gian cũng không mất đi,
và cuối cùng sẽ làm Phật tất cả. Chính trong ý nghiã này
mà ngài Đạo Sinh nhận định đầu tiên rằng PH là vạn thiện
đồng quy. PH nhất thừa cao đến tột đỉnh mà lại bao trùm
hết thảy.
Thứ năm là Thanh
văn. Thanh văn chủ yếu là hai bộ đại Tăng, có loại còn
tu học có loại hết tu học, và có bốn đạo qủa mà tột
bậc là La Hán. PH nói về Thanh văn càng độc đáo. Tất cả
Thanh văn, thời Phật cũng như thời nay và sau này, toàn đã
là đệ tử của Phật - của vị Sa di Bồ tát thứ 16. Chưa
hết, Thanh văn còn là"nội bí Bồ tát hạnh, ngoại hiện Thanh
văn tướng." PH thọ ký làm Phật cho Thanh văn, điều này kinh
động tiểu thừa quá lăém, vì như thế là không công nhận
La Hán đã cứu cánh, niết bàn của La Hán, dầu hữu dư (chỉ
hết tập đế) dầu vô dư (hết cả khổ đế) đều chưa
thật niết bàn. Thanh văn, kể cả Thanh văn La hán, tự cho
đã cứu cánh thì bị PH gọi là kẻ Tăng thượng mạn. Thế
nên tất cả Thanh văn phải, và có thể, làm Phật: đó là
chủ ý của PH. Vì vậy mà đối tượng chính yếu của PH
là Thanh văn, cũng vì vậy mà PH không công nhận có một loại
Thanh văn cố định, vĩnh viễn không chuyển hướng đại thừa.
Thứ sáu là Duyên
giác. Phạn tự pratyeka buddha, ngoài chữ Duyên giác (giác ngộ
đạo lý duyên khởi) còn dịch là Độc giác (độc lực giác
ngộ đạo lý duyên khởi). Tra cứu cách nói của các danh tác
thuộc cả đại thừa tiểu thừa và nguyên thỉ thì thấy
nói Duyên giác có nhiều loại. Nhưng nói thế nào cũng không
minh bạch Duyên giác là đệ tử của Phật, Phật có giáo
pháp huấn dụ riêng cho, và giáo pháp ấy gọi là Duyên giác
thừa. Trái lại, xét cách nói thì thấy Phật giáo thừa nhận
có người đời trước hay những đời trước gặp Phật hoặc
Phật pháp nên đời này không gặp mà vẫn tự ngộ tương
đương với đạo lý duyên khởi. PH thì không thấy Phật thọ
ký làm Phật cho ai gọi là Duyên giáùc. Thế nhưng PH nói đến
Duyên giác lại minh bạch các vị này cũng là đệ tử của
Phật, minh bạch có cái gọi là Duyên giác thừa. Không dưới
vài chỗ nói ai cầu Thanh văn thì Phật nói cho 4 chân lý, ai
cầu Duyên giác thì Phật nói cho 12 duyên khởûi, ai cầu Bồ
tát thì Phật nói cho 6 ba la mật. Phẩm 3 lại nói như sau về
tam thừa,"Người nào theo Phật nghe Pháùp mà tin tưởng tiếp
nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng ước muốn cấp tốc thoát
ra 3 cõi nên cầu tự niếát bàn, đó là theo cỗ xe Thanh văn.
Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết
tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác tự nhiên, thích đơn độc,
khéo vắng lặng, biết sâu nguyên lý duyên khởi của các pháp,
đó là theo cỗ xe Duyên giác. Người nào theo Phật nghe Pháp
mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ
giác hoàn toàn, tuệ giác Phật đà, tuệ giác tự nhiên, tuệ
giác không thầy, nói tóm là cầu sự thấy biết của Phật
mà nội dung có đủ các phẩm chất như 10 đại năng lực,
4 sự không sợ, và cầu như vậy là vì thương tưởng, muốn
đem lại sự yên vui cho vô số chúng sinh, cứu độ cho hết
thảy, đó là theo cỗ xe vĩ đại. Bồ tát cầu cỗ xe vĩ đại
ấy nên gọi là bậc vĩ đại ’’. Ngoài đoạn văn trên
đây, phẩm 7 nói đức Trí Thắng mà cũng như nói đức Thích
Ca, rằng Phật nói 4 chân lý rồi nói rộng thành 12 duyên khởi.
Vậy có thể nói thế này: dầu 12 duyên khởi là Phật quảng
diễn 4 chân lý, nhưng đối tượng là cho những người có
trình độ hơn Thanh văn. Thế nhưng quả vị Duyên giác dẫu
hơn Thanh văn về gì đi nữa cũng chỉ chứng niết bàn với
trạng huống hữu dư và vô dư, với tận trí và vô sinh trí.
Như vậy Duyên giác cũng là La hán mà đặc biệt một chút
về trình độ thôi. Và trong PH thì Duyên giác được nói riêng
vì trình độ ấy, nhưng vẫn bao gồm trong Thanh văn khi nói
về đối tượng đương cơ của PH, về sự thọ ký làm Phật
ở đó.
Thứ bảy là Bồ
tát. Một ít khái niệm về Bồ tát của PH càng phải chú
ý. Một, rất đơn giản, Bồ tát có 2 loại cần nói: loại
mới phát tâm chí (sơ phát tâm) và loại không còn thoái chuyển
(bất thoái). Loại trước thì thấp nhất là Càn tuệ địa,
cao nhất là Phát tâm trú; loại sau là Cực hỷ địa sắp
lên. Hai, loại trước rất quan trọng, vì từ căn bản, Bồ
tát phải có tâm chí xuất từ sự tự tín có thể làm Phật.
Ba, Phật xuất thế cốt làm cho ai cũng làm Phật, do vậy,
PH nói rõ, Phật chỉ có đệ tử Bồ tát, không có đệ tử
Thanh văn. Nói cách khác, PH không công nhận có loại Thanh văn
cố định là Thanh văn; Thanh văn nào rồi cũng là Bồ tát
và được thọ ký làm Phật. Bốn, Bồ tát, đúng ra là tư
cách Bồ tát (Bồ tát chủng tánh), mới được nói cho PH,
thế nên cuối cùng, khi thấy Thanh văn đã có thể chuyển
ra Bồ tát thì Phật nói cho PH. Thêm nữa, PH còn có một loại
Bồ tát mà bản (gốc gác) và tích (dấu vết) đều rất cao.
Thí dụ các ngài Quan Âm, Diệu Âm, Dược Vương, Văn Thù...
Thí dụ các vị Bồ tát từ đất xuất hiện... Nhưng nói
Bồ tát thì phải nói Bồ tát hạnh (việc làm của Bồ tát).
Bồ tát hạnh mà PH nói thì tổng quát là"tịnh Phật quốc
độ, thành tựu chúng sinh’’ (làm sạch thế giới, làm nên
chúng sinh).
Thứ tám là thọ
ký. Thọ ký làø trao cho lời biết trước, lời phán quyết,
lời ghi nhận. Thọ ký ởû đây là Phật thọ ký cho làm Phật.
Sự thọ ký này xác quyết ai cũng sẽ làm Phật, đặc biệt
các vị Thanh văn La hán phải làm Phật mới là cứu cánh.
Thế nên 5.000 người rời khỏi đại hội PH khi Phật sắp
xác quyết La hán là giả thiết, Phật đà mới tột bậc.
Họ là tăng thượng mạn, tự cho đã là cứu cánh. Họ không
thể đương cơ PH, dẫu sau đó bao nhiêu đời kiếp đi nữa
Phật vẫn theo đuổi giáo hóa cho họ cũng được làm Phật
(không có vấn đề họ cố định là họ). Ngoài họ ra, Phật
đã thọ ký cho tất cả Thanh văn, không phân giới tính và
trình độ. Không những thọ ký cho Thanh văn, PH còn có mấy
sự thọ ký nữa rất đặc thù. Thọ ký cho Đề bà đạt
Đa để thấy cực ác cũng vẫn có thể sẽ làm Phật. Long
Nữ thì Phật chứng kiến cho làm Phật để thấy bộ loại,
giới tính và tuổi tác, không là chướng ngại cho sự làm
Phật. Rồi Bồ tát Thường bất Khinh nói không dám khinh ai,
ai cũng sẽ làm Phật, thì đó là điều mà Bồ tát Thế Thân
ghi cũng làø sự thọ ký. Sau hết, phải ghi nhận cũng là
sự thọ ký về lời Phật nói sau đây, trong phẩm 10,"Dược
Vương, sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có người nào nghe kinh
Pháp Hoa, thì dẫu chỉ nghe được một bài chỉnh cú, một
câu đủ nghĩa, hay đến nỗi chỉ có được một ý niệm
tùy hỷ mà thôi, Như Lai cũng thọ ký cho tất cả sẽ được
tuệ giác vô thượng’’.
Thứ chín là kỳ
vĩ. PH có lắm sự kỳ lạ, vĩ đại, tiêu biểu sâu xa cho
ý nghĩa của kinh này. Trước hết hãy nói thêm về Phật,
về đức Bổn sư Thích Ca. Đặc biệt phẩm 16, ở đó nói
Phật ở cạnh ta; đỉnh Linh sơn là tịnh độ của Phật mà
lửa hoại kiếp cũng không thiêu hủy được; Phật biểu hiện
qua thân và việc mình hoặc qua thân và việc khác; Phật phi
tồn tại phi nhập diệt, phi là một phi khác nhau; quả báo
Bồ tát hạnh của Phật cũng đã làm cho Phật có thọ lượng
bất tận. Phẩm 11 nói phân thân ở hướng đông của Phật
mà đã ngồi đầy một thế giới Phật lớn đến ba ngàn
hai trăm vạn ức lần trăm triệu quốc độ. Phẩm 7 nói tất
cả đệ tử thời Phật, sau đó và sau này, toàn là đệ tử
của Phật, Phật bao giờ cũng đeo đuổi giáo hóa cho bằng
nhất thừa. Qua những cách nói trên đây cho thấy, không những
cái thuyết 3 thân mà chính cái nghĩa bản tích cũng không đủ
để nói, và nói rất khéo, về Phật. Điều phải chú ý là
những cách nói này cho thấy Phật nói cho PH là quan trọng,
nhưng quan trọng hơn nữa là Phật làm cho ta đến được trình
độ để Phật nói cho PH. Bổ khuyết cho điều này, kinh Địa
Tạng còn nói Phật biểu hiện mọi thân hình và mọi cảûnh
vật có tác dụng hóa độ; luận Khởûi tín nói Phật biểu
hiện đến cả tôi tớ và kẻ thù;"không phải biểu hiện
chỉ có thân Phật’’.
Ngoài sự kỳ
vĩ trên đây của đức Bổn sư, PH còn có sự xuất hiện
của bảo tháp và toàn thân của đức Đa Bảo, xuất hiện
với phong cách đến nỗi thuyết cửu triệt nói Đa Bảo là"bản
Phật’’, là pháp thân. Còn có ngài Thường bất Khinh, rất
đơn sơ, đáng mến và gần gũi. Còn có hằng hà sa Bồ tát
dũng xuất. Còn có thần dụng của các giác quan do cha mẹ
sinh ra. Còn có Đề Bà được thọ ký và ai nghe PH nói về
việc này mà không hoài nghi hay lầm lẫn thì sinh ra ở đâu
cũng được nghe thuyếát PH. Còn có Long Nữ không khác bao
nhiêu với thiên nữ trong kinh Duy Ma (dầu ở đó Thanh văn than
mình là mầm hư giống hỏng đối với đại thừa, không như
trong PH Thanh văn được thọ ký làm Phật).
Thứ mười là
bà con. PH trọng thị sự liên hệ với nhau, nhất là liên
hệ thành thân quyến (bà con thế gian) rồi thành pháp quyến
(bà con Phật pháp). Phẩm 1, nhất là phẩm 7, chưa nói phẩm
27, không những là thân quyến, là pháp quyến, mà còn là khởi
đầu về PH của đức Bổn sư. Sau này Lương Hoàng Sám đặc
biệt đề cao cái gọi là"bồ đề quyến thuộc’’, còn
Cảnh Sách nguyện"bách kiếp thiên sinh đồng vi pháp lữ’’,
thì quả thật rất phù hợp với PH.
Thứ mười một
là quảng bá. Trước hết PH trọng thị sự thọ trì đọc
tụng vị thuyết thư tả là vì PH đề cao sự quảng bá PH.
PH còn đặc biệt đề cao sự tùy hỷ, nhất là 3 yếu tố
và 4 cách sống. Riêng 3 yếu tố thật đáng cảm,"muốn thuyết
PH thì hãy vào nhà của Phật, mặc áo của Phật, ngồi chỗ
của Phật’’. Quảng bá PH là như vậy, nên người làm việc
này được Phật nói là"sứ giả của Như Lai làm việc của
Như Lai’’.
Lược nói hiệu
lực
Pháp hạnh PH đem
lại tướng tốt (mà PH rất trọng thị tướng tốt ấy, coi
các phẩm 18, 28 và 23 thì biết), không bệnh tật, không chết
yểu, sống mà chiêm bao cũng đẹp, hơi thởû như hương sen,"ước
nguyện không vô hiệu quả’’. Nên khi chết thì được"cả
ngàn đức Phật trao tay cho’’, rồi hoặc sinh Cực lạc củûa
đức Di Đà (phẩm 23) hoặc sinh Đâu suất của đức Di Lạc
(phẩm 28) hoặc sinh Đao lợi (cũng phẩåm 28) hoặc sinh trong
nhân loại chư thiên hay trước chư Phật (phẩm 12). "Cả ngàn
đức Phật trao tay cho’’, điều này rất quan trọng, so sánh
được với người niệm Phật thì lâm chung được Phật tiếp
dẫn như thế nào.
Lược giải
đề kinh
HD là Chánh Pháp
Hoa, CV là Diệu Pháp Liên Hoa, đều có từ gốc Phạn tự Saddharma
pundarika. Chánh pháp hay Diệu pháp là chỉ cho Nhất thừa (xác
quyết ai cũng làm Phật). Nhất thừa ấy ví dụ như hoa sen.
Hoa sen ở đây là thế nào?
Một, khởûi đầu
như ngài Tăng Duệ giải thích hoa sen ở đây là phân đà lị
(pundarika), là hoa sen mà nở đúng độ, không phải mới nở
hay đã tàn. Đem Nhất thừa ví dụ như hoa sen ấy là nói sự
viên mãn (C9/62).
Hai, ngay khi mới
thành đạo, Phật đã đem hoa sen ví dụ cho chúng sinh: có kẻ
như hoa sen ngoi ra khỏi bùn, có kẻ như hoa sen ngoi lên nửa
nước, có kẻ như hoa sen ngoi lên mặt nước, có kẻ như hoa
sen ngoi lên khỏi mặt nước và nở ra. Nói theo ý nghĩa"vạn
thiện đồng qui’’ thì Nhất thừa chẳng phải chỉ làm
cho chúng sinh làm Phật, mà còn làm cho chúng sinh ngoi ra khỏi
bùn cho đến ngoi lên mặt nước. Thế Thân đại sĩ nói càng
sát ý PH, rằng hoa sen ở đây là lấy sự ngoi lên và nở
ra: Nhất thừa làm cho Thanh văn ngoi lên khỏi bùn nước Tiểu
thừa mà tín giải pháp thân của Phật (C26/3t). Pháp thân ở
đây ngôn ngữ PH gọi là Phật tri kiến.
Ba, thế nhưng
chính trong phẩm 2, Phật nói Nhất thừa hiếm có như hoa ưu
đàm. Ưu đàm là ưu đàm bát la (udumbara) mà nay có người
nói tên khoa học là ficus glomerata. Ưu đàm là hoa thiêng quí
hiếm hay là ficus glomerata thì tôi tồn nghi. Nhưng điều chắc
chắn là ưu đàm không thể không liên hệ gì với hoa sen.
Do vài điều sơ
lược trên đây mà ít ra cũng biết nói hoa sen nhân quả đồng
thời (mà thật ra đâu phải chỉ hoa sen mới là như vậy)
chỉ là ý kiến mới có từ trung diệp bách kỷ 6.
*
Đến đây có
thể tạm ngưng được để nói như lược lại, rằng tu học
PH thì phải thấy mấy điều sau đây. Một, thấy chính cái
thế giới này là tịnh độ của Phật. Phật thuyết PH tại
Linh sơn thì Linh sơn là tịnh độ của Phật. Tịnh độ của
Phật là đương xứ tiện thị: ở đâu và lúc nào cũng là
tịnh độ của Phật. Hai, thấy Phật không nhập diệt. Phật
siêu sống chết, siêu thì gian và không gian. Phật luôn luôn
ở bên ta, trên ta và trong ta. Cái thấy của ta không cục bộ
thì thế là thấy Phật. Ba, thấy đạo lý PH là"như vậy’’:
biểu hiện, đặc tính, bản thể, năng lực, động tác, nhân
tố, duyên tố, kết quả, hình thành, toàn bộ, hết thảy
các mặt của các pháp toàn là"như vậy’’: toàn là PH. Nói
ngay ta đây, tất cả những gì là ta thì chính tất cả những
gì ấy là Phật, như cả cái cánh tay đang chỉ xuống chính
là cả cái cánh tay sẽ chỉ lên. Bốn, thấy ta cũng từng
là đệ tử của Phật, không của ngài Thường Bất Khinh thì
của vị Sa di Bồ tát thứ 16. Năm, thấy làm gì cũng không
vô hiệu quảû: một câu con tôn kính Phật, một lời giới
thiệu PH, rồi ra cũng làøm Phật cả. Sáu, tu học PH là vào
nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi chỗ Phật. Bảy, chết thì
được chư Phật trao tay cho, rồi sinh chỗ đức Di Đà, chỗ
đức Di Lạc, sinh lại tại thế giới này, chưa kể chỉ sao
chép ấn hành PH cũng sinh Đao lợi, kỳ lạ nữa là nghe kẻ
cực ác được thọ ký mà tin hiểu chính xác thì hết còn
đọa lạc đường dữ, sinh trong nhân loại hay chư thiên, sinh
trước chư Phật.
Rằm tháng 2, 2542
(3, 1998)
TRÍ QUANG