Giới
thứ 26
RIÊNG THỌ
LỢI DƯỠNG
Nếu
Phật tử, trước ở trong tăng phường, sau thấy có khách
Tỳ kheo Bồ Tát đến hoặc trong thành ấp nhà cửa của tăng
phường hay nhà cửa của Quốc vương cho đến nơi an cư kiết
hạ, hay đại hội, ... chư Tăng ở trước phải rước đến
đưa đi, cúng dường đồ ăn thức uống, đồ nằm, thuốc
men, nhà phòng, giường ghế, v.v... nếu tự mình không có thì
phải bán thân, bán con cái, lóc thịt thân mình mà bán để
sắm đồ cúng dường cho khách Tăng ấy. Nếu có thí
chủ đến thỉnh chúng Tăng thọ trai, khách Tăng có dự phần,
vị Tri sự phải theo thứ tự, phái khách Tăng đi thọ trai.
Nếu chư Tăng ở trước riêng đi thọ trai, mà không phái khách
Tăng đi, thì vị Tri sự mắc vô lượng tội, không đáng là
hàng Sa môn, không phải dòng họ Thích, nào khác gì loài súc
sanh, Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Trái
với tâm bình đẳng của thí chủ, mất hạnh lợi tha của
bậc Đại sĩ, không cử Tăng thứ lớp đi thọ trai, chính
là muốn đem lợi riêng về mình, vì thế gọi là chỉ một
mình mình thọ.
Tăng
phường là chỗ Tăng nương ở (tiếng Phạn là Tăng Già Lam,
Trung Hoa dịch là Chúng Viên) nghĩa là nơi cho chúng sanh
gieo trồng mầm đạo Thánh quả; hoặc gọi là Tỳ Ha La (Trung
Hoa dịch là Du Hành Xứ), là Tự viện mà Tăng qua lại; còn
gọi là Tăng Già La Ma (Trung Hoa dịch là Chúng Viện), là nơi
chúng Tăng ở.
Xưa,
ngài Ma Đằng mới đến Trung Hoa, Hán Minh Đế thỉnh Ngài
ở chùa Hồng Lô. Sau tuy dựng trụ xứ khác nhưng không
quên tên cũ, nên vẫn gọi là “Tự” (chùa). Nhà cửa
của Quốc vương, là nhà cửa, phòng xá mà Quốc vương dựng
lập cho Tăng ở. Nơi an cư là nơi do vua, tôi, đàn việt
thỉnh Tăng đến an cư 3 tháng hạ. Đại hội là hội
vô giá (hội thí) hoặc hội Phật Niết bàn, hội Phật giáng
sanh, hội Phật thành đạo, hội Tăng tự tứ, v.v... , người
ở trước là chủ nhân, người đến sau là khách, chủ phải
nghinh tiếp khách, cho đến cung cấp mọi thứ cho khách Tăng
dùng.
Lóc
thịt thân mình, là ý nói coi trọng việc cung cấp cho khách
Tăng, thịt trên thân còn cắt huống gì những vật ngoài thân
như là tiền của, lẽ đâu một mình mình nhận lấy sự lợi
dưỡng ư ?
Nam
nữ là gồm cả tại gia Bồ Tát, phải không tiếc thân mạng,
quyến thuộc để cúng dường khách Tăng. Chánh văn tuy
nói Tỳ kheo Bồ Tát, nhưng Thanh văn Tăng cũng có trong đó.
Vị trụ trì hơn tại gia, Sa-di, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na, vì
họ là những người không biết việc Tăng, chỉ có Tỳ kheo
mới đảm trách được chức vụ này, mới sai đón tiếp,
cung cấp. Sau đó, mới theo thứ lớp mà đi phó trai.
Đàn
việt, Đàn là tiếng Phạn ( Trung Hoa dịch là Thí) , Việt
là siêu việt, nghĩa là người hay thực hành bố thí, thì
liền vượt khỏi biển khổ nghèo cùng.
Khách
Tăng, gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa, Tăng từ mười phương
đến, tức tất cả Tăng chúng, người có phần lợi dưỡng
do đàn việt cúng dường hoặc thức ăn, hoặc y phục v.v...
hoặc thỉnh hết, hoặc thỉnh có giới hạn, gồm chung phàm
thánh mười phương, không luận là chủ hay khách, thảy đều
bình đẳng, nên nói có phần.
Thứ
lớp thọ thỉnh, nghĩa là đàn việt không có khả năng thỉnh
hết đại chúng, chỉ giới hạn thỉnh 5 hoặc 10 vị, nhẫn
đến 30 hay 50 vị mà thôi. Theo vị Thượng tòa nương
thứ tự mà đi, nếu trước đó mà thí chủ có thỉnh riêng
mình, mình đã được sai đi phó trai, nên theo thứ tự sai
tiếp những người chưa được thỉnh đi, chứ không được
vượt qua thứ lớp. Nếu biết Tăng chưa được mời,
mà không sai đi, thì Trụ trì chỉ phạm tội khinh cấu.
Đến lúc đi, tâm nghi ngờ ra khỏi Đại giới hoặc có Tăng
mới vào là vị Thượng tọa, thì nên nhường cho Thượng
tọa đi, bởi người mới đến chưa có phần, như vậy Trụ
trì chỉ phạm tội không sai đi, đó là tội khinh cấu.
Nếu
biết ngoài đại giới không có Tăng đến, đã sai xong, nơi
đáng đến lại không sai đi, hoặc sai dư người, thì người
sai đi, người được sai, đều phạm tội trộm.
Phương
tiện hoặc đồ ăn, hoặc đồ mặc, tính giá trị 5 tiền,
thì thành trọng tội, nên nói mắc vô lượng tội. Chỉ
biết có ăn uống mà không biết thứ lớp, nên Phật nói không
khác gì với súc sanh, trái với phép thường của Tăng, nên
chẳng phải Sa môn, phạm tội trộm kết trọng tội, nên chẳng
phải con cháu dòng họ Thích.
Trước
không nghinh tiếp cung cấp, sau lại không cho Tăng phẩm vật,
đều mắc tội, nếu thí chủ không thiết trai phạn, nhưng
có duyên riêng, thỉnh những người ở trước thì đi không
phạm. Nếu ý của thí chủ muốn thỉnh hết chúng Tăng,
nhưng những người ở trước làm trở ngại, thì những người
này mắc tội. Nếu biết thí chủ gặp người đó thì
sanh tâm không vui, nên tìm cách ngăn cản đừng cho người
ấy đi, làm như vậy thì không phạm.
Có
một con quỷ hỏi ngài Mục Liên rằng: “Tôi cả đời đến
nay thường bị đói khát, muốn đến nhà xí ăn phẩn dơ,
nhà xí có đại lực quỷ, cầm gậy đánh tôi, không cho tôi
đến gần, không biết tôi đã gây tội gì mà phải chịu
như thế?” Ngài Mục Liên đáp rằng: “Lúc ông làm người,
giữ chức Trụ trì, khi có khách Tăng đến, tâm ông bỏn xẻn,
không cho người ta ăn, đợi khi khách Tăng đi khỏi rồi, mới
cho Tăng thường trụ ăn. Ông bỏn xẻn vật của Tăng
nên phải chịu ác báo, còn quả báo phải vào địa ngục.”
Lại
có một con quỷ hỏi rằng: “Tôi cả đời nay, trên vai phải
mang một cái bình đựng đầy nước đồng sôi, rưới trên
đầu tôi, đau đớn vô cùng, không biết tôi đã gây tội
gì mà phải chịu cái khổ này?”. Ngài Mục Liên đáp:
“Khi ông làm người giữ chức Duy na, biết rõ việc Tăng,
chúng Tăng có một bình sữa, ông đem cất giấu chỗ khác,
không cho khách Tăng uống, đợi khách Tăng đi rồi, mới cho
chúng thường trụ dùng. Sữa này là vật thuộc Chiêu
Đề Tăng, tất cả đều có phần, do ông bỏn xẻn vật của
Tăng, nên nay thọ ác báo, còn quả báo ở địa ngục.”
Phật
bảo ngài Tăng Hộ: “Ông thấy hạng người thứ 4 này, không
phải là Tăng ở trong chùa, cũng chẳng phải là Tỳ kheo mà
là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp, người
này xuất gia thường ở trong chùa, có đàn việt đem thức
ăn đến, cúng dường cho hiện tiền Tăng, khi đó có khách
Tăng đến, Tỳ kheo trụ trì này do tâm bỏn xẻn tham tiếc,
đợi khách Tăng đi mới chia cho chúng thường trụ, chưa kịp
chia thì bị trùng phá hư thức ăn, đành phải đem đổ, do
nhơn duyên này, đọa vào địa ngục ăn phẩn dơ, uống nước
tiểu. Từ khi Phật Ca Diếp nhập diệt đến nay, chịu
khổ không lúc nào ngớt. Lại nữa, ông thấy hạng người
thứ 6 này, không phải là Tăng ở trong chùa, cũng chẳng phải
là Tỳ kheo, mà là người ở địa ngục. Thời Phật
Ca Diếp người này xuất gia, không đánh kiền chùy báo cho
Tăng biết, lẳng lặng cùng với chúng Tăng uống nước ngọt,
vì sợ Tăng ở ngoài đến, do nhơn duyên bỏn xẻn tham tiếc
kia, nên phải đọa trong địa ngục, uống nước đồng sôi,
chịu khổ đến nay chưa hết. Ông có thấy cái đài thịt
to lớn thứ 2 kia không, đó chẳng phải là đài mà là người
ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp, ông này là người
xuất gia, vì làm chủ chư Tăng trong chùa, ưa lựa phòng xá
tốt, rồi tự mình hoặc cho những người thân hữu thọ dụng
và không chịu theo luật thứ lớp phân chia phòng xá, vì tâm
không bình đẳng, do nhơn duyên này nên phải đọa địa ngục,
làm đài thịt lớn, thọ muôn ngàn thống khổ, đến nay chưa
hết.” Ngoài ra như trong Kinh Tăng Hộ có nói rõ.
Giới
thứ 27
THỌ BIỆT
THỈNH
Là
Phật tử, tất cả không được nhận thỉnh riêng, nhận hết
lợi dưỡng về cho mình, của cúng dường này thuộc về thập
phương Tăng, nếu nhận riêng thời là lấy của thập phương
Tăng đem về phần mình. Vật trong tám phước điền,
vật của chư Phật, Thánh nhân, của tất cả Sư Tăng, Cha
mẹ và người bệnh, nếu tự mình lấy, dùng, Phật tử này
phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Tất
cả, đây là chỉ cho vua, quan, bề tôi, kẻ sĩ, muôn dân, năm
chúng xuất gia và hai chúng tại gia. Muốn lựa chọn thỉnh
riêng chừng vài người, người được thỉnh không được
nhận thỉnh, bởi vì lợi dưỡng của thí chủ đều thuộc
về Tăng của thập phương, ai nấy đều có phần. Nếu
ta nhận lời mời tức là ta đã lấy vật của Tăng đem về
cho mình, mà đó cũng là cướp đoạt vật trong tám phước
điền đem về mình tự dùng.
Tăng
được lợi dưỡng, được thí chủ cúng, thì trước là cúng
cho Kỉnh điền, sau là cho Ân điền, sau nữa là cúng cho Bi
điền. Nếu thỉnh thuyết pháp, thọ giới, hoặc thấy
căn cơ thích nghi hoặc biết vì thí chủ tâm không còn chấp
ngã, thời không tính toán về công đức hoặc số người
được thỉnh, chỉ trong 4 người, có một người do Tăng sai
đi, thì không phạm.
Tăng
là chúng hòa hợp, một, hai hay ba người không gọi là Tăng,
mà 4 người trở lên cho đến trăm, ngàn người mới gọi
là Tăng”.
Giới
thứ 28
BIỆT THỈNH
TĂNG
Phật
tử là những hàng Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, cho đến
tất cả đàn việt, lúc muốn thỉnh Tăng để cúng dường,
cầu nguyện, nên vào trong Tăng phường thưa với vị Tri sự.
Tri sự mới bảo rằng: “Theo thứ tự mà thỉnh thời được
thập phương hiền thánh Tăng, nhưng người đời thỉnh riêng,
500 vị Tăng Bồ Tát, A la hán cũng chẳng bằng Tăng sai một
phàm phu Tăng. Nếu biệt thỉnh Tăng thì đó là pháp của
ngoại đạo. Trong 7 Phật không có pháp biệt thỉnh Tăng,
vì không thuận theo đạo hiếu, nếu Phật tử cố thỉnh riêng
thời phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Trái
với tâm vô tướng, mất phước bình đẳng, Tam luân chưa
không, chẳng phải Pháp đàn Ba-la-mật của bậc Đại sĩ.
Hiền, Thánh có Quyền và Thật. Thật là những vị đã
chứng Tứ quả,Tam Hiền, Thập Thánh. Quyền tuy là phàm
phu nhưng đã thọ Đại giới Tâm địa Bổn nguyên, tu học
chánh đạo của Hiền, Thánh, nên cũng gọi là Hiền, Thánh.
Vì thế, Tăng là gồm cả Phàm và Thánh, thí khắp mười phương,
tâm hành bình đẳng, phước như hư không, nếu tâm còn sanh
lựa chọn thì phước quả có giới hạn, huống gì Thánh và
Phàm khó rõ, hơn kém khó lường, vì thế mà ngài Tân Đầu
Lô bị đánh. Sa-di không được nhận cúng y, nên biết
không lựa chọn, thì thỉnh được Hiền, Thánh, huống gì
đức Như Lai đã sai 16 vị đại A La Hán, mỗi người lãnh
trăm ngàn đồ chúng đều chứng Tứ quả, thị hiện đồng
phàm phu, người thường đâu biết được, để làm bậc phước
điền cho đàn việt.
Xét
trong Thập Tụng Luật, Giới Nhơn Duyên Kinh, mẹ ngài Tỳ kheo
Tỳ Xá Khư, thỉnh riêng 500 vị A La Hán, Phật bảo mẹ ngài
Tỳ Xá Khư là người vô trí, không khéo léo, không được
đại phước, nếu ở trong Tăng, theo thứ lớp thỉnh một
vị, được công đức rất lớn, lợi ích phước báo rất
thù thắng.
Hỏi:
Như vậy thì 500 vị Thánh Tăng không bằng một phàm phu Tăng
ư?
Đáp:
Nên biết luận về phước điền, thì vượt hơn trăm ngàn
vạn, nhưng vẫn chưa bằng Thánh.
Cho
nên, ngài A Na Luật đem dâng một bửa ăn cho vị Độc Giác,
từ đó đến nay trải qua 91 kiếp, dù ở trên trời hay dưới
nhân gian, Ngài luôn hưởng phước điền.
Như
Kinh Tứ Thập Nhị Chương chép: “Cúng thí cho kẻ ác nhẫn
đến cúng dường Như Lai, phước kia rất rõ. Luận về
tâm, nếu tâm bình đẳng thì phước lớn; vì thế, đức Như
Lai sai Xá Lợi Phất, đem cơm thí cho con chó, nhưng xét về
lý thì tùy thời mà chọn cúng, chớ có chấp nê vào một
pháp, thì sẽ được không ngăn ngại, ở đây luận về tâm
thí bình đẳng, chứ không luận về cầu pháp, cầu pháp phải
đủ con mắt trạch pháp, không thể không biết rõ tà chánh,
không phân biệt được hiền, ngu, mê mất đạo lớn, việc
chẳng phải nhỏ.
Kinh
này ghi: “Khi đức Như Lai mới ngồi dưới cội cây Bồ đề,
mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư chưa sanh, làm sao nói thỉnh riêng
500 vị Tăng ư ?” Đây là Như Lai nói về thời quá khứ,
việc xảy ra trước thời Phật, hoặc là thọ ký trước,
sau quả nhiên, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư có việc như vậy.
Tin
theo giáo pháp ngoại đạo là không tuân theo lời Phật dạy,
là trái lại giáo pháp Phật, trái lại nhơn địa phàm thánh,
nên nói không thuận đạo hiếu.
Bảy
Phật đều ứng hóa ở thế giới Ta bà này, dấu tích trong
cả 100 kiếp, cõi Trường thọ thiên, đều đã từng thấy,
nên chỗ nào cũng dẫn 7 Phật để làm chứng, khiến cho mọi
người dễ biết rõ.
91
kiếp về quá khứ, có một vị Phật ra đời, tên là Tỳ
Bà Thi, cũng gọi là Duy Vệ, các kiếp trong khoảng kế tiếp
không có Phật ra đời, đến kiếp thứ 31 có hai vị Phật
ra đời là:
1.
Phật Thi Khí
2.
Phật Tỳ Xá Phù
Đến
kiếp thứ 91, gọi là Hiền kiếp. Lúc này có ngàn Phật
ra đời như: Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật
Ca Diếp, Phật Thích Ca Mâu Ni, v.v... cho đến vị Phật sau
cùng trong 1000 Phật này ra đời tên là Lâu Chí Phật.
Trước
riêng thọ lợi dưỡng, không sai khách Tăng đi phó thỉnh,
là mắc tội, sau thọ biệt thỉnh là tự mình thọ nhận người
khác thỉnh riêng, nên mắc tội. Nay giới này tự lựa
chọn thỉnh Tăng, nên kết tội. Không phải cầu phước
mà cúng trai Tăng, hoặc biết rõ thân bằng quyến thuộc, thì
không phạm.
Giới
thứ 29
TÀ MẠNG NUÔI
SỐNG
Nếu
Phật tử dùng ác tâm vì lợi dưỡng buôn bán nam sắc, nữ
sắc, tự tay làm đồ ăn, tự xay, tự giã, xem tướng nam nữ,
giải điểm kiết hung, bùa chú, pháp thuật, nghề nghiệp,
phương pháp nuôi chim và chó săn, hòa hiệp trăm thứ thuốc
độc, ngàn thứ thuốc độc, rắn độc, kim ngân độc, cổ
độc, đều không có tâm từ mẫn, tâm hiếu thuận. Nếu
cố ý làm các điều như thế, thì Phật tử này phạm tội
khinh cấu.
Giải
thích:
Nương
vào tà pháp được lợi dưỡng nuôi thân mạng, tổn thương
sanh vật làm lợi cho mình, đều chẳng phải tâm từ bi thanh
tịnh của Đại sĩ.
Ác
tâm là chẳng phải thiện tâm, vì lợi dưỡng mà chẳng phải
vì lợi tha.
Buôn
bán nam sắc nữ sắc, nghĩa là mua bán nam nữ tuổi nhỏ, đem
đến cho người để thoả mãn việc ham muốn (dục vọng).
Tự
tay làm đồ ăn là đích thân mình thổi nấu.
Tự
xay, tự giã là xay giã ngũ cốc.
Xem
tướng nam nữ, tức là bói xem hình dáng, khí sắc rồi bảo
cho họ biết chết yểu hay là giàu nghèo.
Giải
điềm kiết hung là đem điềm mộng để đoán tốt xấu, họa
phước, đã có thai nam hay nữ.
Chú
thuật là phù phép tà chú của ngoại đạo.
Công
xảo là 100 thứ kỹ nghệ. Nuôi chim và chó là dạy chim,
chó để đi săn.
Trăm
thứ ngàn thứ thuốc độc là tất cả thứ thuốc độc ở
thế gian, hòa hợp lại, nấu thành cao hoàn tán để hại sanh
vật.
Rắn
độc là lấy nọc độc của rắn ở đầu, ở đuôi, hoặc
ở não, hoặc tinh dịch để hại người khác. Kim ngân
độc là thứ độc uống vào chết ngay. Cổ độc là
hòa hợp thuốc độc uống vào thì sình trướng.
Đều
không có tâm từ mẫn, nghĩa là bậc Đại sĩ phải dùng tâm
từ thương xót tất cả chúng sanh cũng như con mình, phải
thường nhớ nghĩ tổn hại mình để làm lợi cho người,
nhưng trái lại tự nuôi sống mình bằng cách làm hại người,
chẳng khác nào ăn thịt con mình, cho nên không có tâm từ
mẫn là thế. Bồ Tát coi chúng sanh như Cha mẹ mình, mà
trái lại vì lợi dưỡng riêng mình mà thương tổn đến thân
nhân, ngỗ nghịch không ai bằng, đó là không có tâm hiếu
thuận.
“Cố
ý làm” rõ ràng không phải là nhầm lẫn, lấy tà nghiệp
để mưu cầu mạng sống cho mình, nên phạm khinh cấu tội.
Nếu việc làm khiến chúng sanh phải chết thì phạm trọng
tội. Nếu Bồ Tát tại gia dùng chú thuật công xảo y
dược, đúng như pháp tự nuôi sống, không thương tổn sanh
vật thời không phạm. Bồ Tát xuất gia dùng chú thuật
công xảo, cứu nguy bạt khổ cho chúng sanh, không có tâm cầu
lợi thì cho phép.
Hỏi:
Xay giã nấu ăn, người tại gia làm sao tránh khỏi ?
Đáp:
Đây có hai nghĩa, một là tự nuôi sống bản thân, không phải
là việc làm của bậc đại nhân. Hai là trong ngũ cốc
phần nhiều có trùng, nếu không tổn hại đến chúng sanh,
không phải dùng tà nghiệp để sanh sống. Hai chúng nhỏ
xuất gia, Phật cũng khai cho. Xét trong Kinh Luận, dùng
tà nghiệp để mưu cầu mạng sống có 5 loại hoặc 4 loại,
nay xin đưa ra cùng với các giới:
1.
Vì lợi dưỡng, nên trá hiện những điều kỳ đặc.
2.
Vì lợi dưỡng, nên tự nói công đức của mình.
3.
Vì lợi dưỡng, xem tướng tốt xấu.
4.
Vì lợi dưỡng, lớn tiếng ra uy, khiến cho người sợ.
5.
Vì lợi dưỡng, nên nói lợi ích của việc cúng dường để
kích động lòng người khác.
Người
xuất gia có 4 thứ tà mạng nuôi sống:
1.
Hạ khẩu thực, nghĩa là nói về thuốc men trị bệnh, xem
địa lý, gieo trồng các thứ cây trái ruộng vườn.
2.
Ngưỡng khẩu thực, nghĩa là xem thiên văn, mặt trăng, mặt
trời, 5 thứ tinh tú, v.v...
3.
Phương khẩu thực, nghĩa là nịnh hót nhà giàu, kẻ có thế
lực, đi sứ 4 phương, nói năng khéo léo để mưu cầu nhiều
lợi.
4.
Duy khẩu thực, nghĩa là học các thứ chú thuật bói toán
kiết hung, nếu trái với những thứ trên đây gọi là Tịnh
mạng thực.
Tịnh
mạng cũng có 4 thứ:
1.
Ở trong núi sâu, ăn rau trái
2.
Thường đi khất thực
3.
Thọ dụng đàn việt cúng dường
4.
Ăn món ăn thanh tịnh trong Tăng.
Dùng
các thứ này để nuôi sống thân mạng cho mình thì không làm
nhiễm ô tâm địa nên gọi là Tịnh mạng.
Giới
thứ 30
BẤT KÍNH TRỌNG
NHỮNG NGÀY TRAI GIỚI
(Ngày
tốt)
Nếu
Phật tử vì ác tâm tự mình hủy báng Tam bảo, giả tuồng
kính mến, miệng thì nói không, mà hành vi ở trong lại có,
làm quản lý cho hàng Bạch y, vì hàng bạch y làm mai làm mối
cho nam nữ giao hội dâm sắc, gây thành các nghiệp kiết phược;
sáu ngày trai trong mỗi tháng, ba tháng trường trai trong mỗi
năm, làm việc sát sanh, trộm cắp, phá trai phạm giới, người
này phạm tội khinh cấu.
Mười
giới như thế hết lòng kính trọng, phụng trì.
Giải
thích:
Những
ngày tốt mà không có tâm cung kính là chẳng có tín tâm hiếu
tâm. Lời nói và việc làm trái nhau, chẳng phải là chánh
tâm chơn chánh. Sáu ngày trai trong một tháng và ba tháng
trường trai trong một năm, những ngày này là ngày Phật hiện
Đại thần thông, nhẫn đến Phật Đản sanh và ngày thành
đạo, nhập Niết Bàn, ngày Tự tứ, v.v... đều là ngày giờ
tốt.
Ác
tâm, nghĩa là đối với Tam bảo, không sanh tâm cung kính phụng
sự, khéo dẫn dắt mọi người, lại dối gạt, trá hiện
tướng thân cận Tam bảo, khiến cho người khác tin kính.
Miệng thốt ra lời nói lý Bát nhã, thực tế trong tâm lại
chấp có, lời nói và việc làm trái nhau, trái với chơn chánh,
nên nói là phỉ báng Tam bảo.
Kinh
lý, nghĩa là kinh doanh lo liệu công việc cho hàng Bạch y, thậm
chí làm việc mai mối cho nam nữ, tư thông dâm ái với nhau,
hoặc làm môi giới, hoặc những việc uế ác, xấu xa khác.
Gây
nên các nghiệp kiết phược, nghĩa là làm các việc dơ xấu
như trên, cả mình và người cùng bị trói buộc trong 3 đường
ác (địa ngục, ngạ quỷ súc sanh) trôi lăn trong sáu đường
sanh tử, khổ không được giải thoát.
Sáu
ngày trai, trong kinh Thiên Vương ghi: “Chư Thiên dò xét xem
trong những ngày trai này, con người làm thiện hay ác.
Mỗi vị trời cõi Tứ Thiên vương trấn giữ một phương,
thường chọn 3 ngày trong tháng là mồng một, mồng 8 và 20
để sai sứ giả xuống nhân gian xem xét việc làm của chúng
sanh là thiện hay ác. Còn ngày 14 và 29 sai Thái tử xuống,
ngày 15 (rằm) và 30, Tứ Thiên vương đích thân xuống, ra lịnh
cho nhựt nguyệt và tinh tú, 28 tinh chủ cần quán sát xem chúng
sanh thiện hay ác, thấy rồi trở về Thiên đình tâu với
trời Đế Thích, để thi hành kiết lành hay dữ.”
Ba
tháng trường trai, là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9.
Trời Đế Thích dùng gương Đại Bảo, chiếu soi cõi Nam Thiệm
Bộ Châu để quán sát tội phước của chúng sanh cõi này.
Trời Tứ Thiên vương mỗi vị đều phân chia trấn giữ giữa
tháng ở cõi Tứ Đại Bộ Châu.
Nay
3 tháng này, là Đa Văn Thiên Vương ở phương Bắc, trấn giữ
phía Nam Châu, quán sát tháng thiện hay ác. Ngày này tháng
này, tất cả quỷ thần thường thừa cơ, cũng là thời gian
tốt để các vị Thiên vương cùng nhau đi tuần thú, thế
nên cần tránh ác tu thiện. Thời điểm tốt như thế
mà chúng Bồ Tát, Phật tử không biết, trái lại đem tâm
mạn nghịch, sai phạm giới luật, không sanh tâm hổ thẹn
lo sợ, điều này gọi là ác tâm.
Sát
sanh trộm cắp, 2 giới này đã lược nêu trong mười giới
trọng, nay nêu 2 giới này thời đã bao gồm 10 trọng giới,
tùy theo việc sai phạm mà kết tội Ba-la-di. Hơn nữa,
trong 10 trọng giới lại kết thêm tội khinh cấu. như người
phạm tội tử hình lại dùng roi đánh thêm. Nếu phạm
trong 48 giới khinh, tức là thêm một tội bất kính trong những
ngày trai giới.
Phá
trai, là trong sáu ngày trai của Phật tử tại gia, trường
trai một tháng thọ trì Bát quan trai giới, quá ngọ không ăn
(gọi là trai), nếu phạm là phi thời thực, nên nói là phá
trai. Người xuất gia trọn đời không phạm phi thời,
cũng như trong các ngày trai, nếu phạm là phi thời thực, tội
càng nặng thêm.
Kinh
Anh Lạc ghi: “Nếu có Bồ Tát Ma Ha Tát, tu tập pháp lục
độ thanh tịnh, gồm tu cả Bát trai giới của chư Phật, thiện
nam tử thiện nữ nhơn này đối với việc hành sáu pháp này
đầy đủ hạnh thanh tịnh.” Đúng như kinh đã chép,
lại có thể khinh bỏ trai giới, bỏ tám pháp trai giới không
thọ trì, cam tâm làm người phá giới chăng ?
Mười
giới như thế hết lòng kính trọng phụng trì. Phần
còn lại như trong phẩm Chế Giới có ghi rõ.
Giới
thứ 31
KHÔNG MUA CHUỘC
Là
Phật tử, sau khi Phật nhập diệt, ở trong đời ác nếu thấy
tất cả hàng ngoại đạo, kẻ ác trộm cướp, cùng tất cả
người ác đem bán hình tượng Phật, Bồ Tát, Cha mẹ, đem
bán kinh luật, đem bán Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người hành đạo
Bồ Tát, kẻ phát tâm Bồ đề, để làm tay sai cho các quan,
hay làm tôi tớ cho mọi người, v.v... nên có lòng từ bi cứu
hộ, tìm cách cứu vớt, nếu không đủ sức, Phật tử phải
đi quyên tiền các nơi để chuộc hình tượng Phật, Bồ Tát
cùng tất cả kinh luật, chuộc Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người
tu hạnh Bồ Tát, kẻ phát tâm Bồ đề. Nếu không chuộc,
Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Thấy
người khổ mà không cứu giúp thì không có tâm từ bi, biết
người bị người khác bán mà không chuộc thì trái với đạo
hiếu thuận.
Sau
khi Phật diệt độ, là nói rõ đời mạt pháp. Khi Phật
còn tại thế, phần đông người ta làm lành lánh dữ, nên
không có tệ nạn như trên xảy ra.
Ảnh
tượng, hoặc là điêu khắc, hoặc tự họa, nếu bị người
khác cưỡng đoạt chiếm lấy, hoặc bị giặc cướp, hoặc
trộm lấy đem bán. Nay chỉ nêu 2 chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni, thời đã bao gồm cả 7 chúng rồi.
Người
phát tâm Bồ đề, là người mới phát đạo tâm. Đạo
nhơn, là người hành Bồ Tát đạo. Đại Trí Độ Luận
ghi: “Người đắc đạo gọi là Đạo nhơn, ngoài ra,
người xuất gia tuy chưa đắc đạo, nhưng do tu đạo xuất
thế nên cũng gọi là Đạo nhơn. Quan sử là người sai
khiến phục dịch những việc quan sai. Tất cả mọi người,
là kẻ sĩ, nhà nông, thợ thuyền, thương buôn, v.v...
Tượng
Phật là Phật bảo. Kinh luật là Pháp bảo. Người
phát đạo tâm là Tăng bảo. Hình tượng Bồ Tát là Đại
thừa Tăng bảo. Tỳ kheo, Tỳ Kheo Ni là Tiểu thừa Tăng
bảo. Cha mẹ là Ân điền.
Phật
tử cũng là Đại sĩ trong trời đất, đang ở trong đời mạt
kiếp ác thế này, hộ trì Phật pháp, nối dòng Tam bảo, rộng
làm việc lành hóa đạo chúng sanh, đâu có thể thấy người
khổ mà ngồi nhìn những việc hủy nhục vậy sao ? Bởi
vậy phải cứu vớt nỗi khổ cho họ. Nếu tự mình không
có khả năng tiền của để chuộc lại, phải dùng các thứ
phương tiện khuyến hóa người khác chuộc lại. Nếu
tâm biếng nhác hoặc cố ý không chuộc, đều phạm.
Giới
thứ 32
TỔN HẠI CHÚNG
SANH
Là
Phật tử, không được chứa hay buôn bán dao, gậy, cung, tên,
những khí cụ sát sanh, không được dùng cân non, giạ thiếu
để đong, không được nương thế lực quan quyền mà lấy
tài vật của người, không được ác tâm trói buộc người,
phá hoại việc thành công của người, không được nuôi mèo,
chồn, heo, chó. Nếu cố làm các điều trên đây, Phật
tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Ngăn
ngừa nhơn xa tổn hại, lìa nghiệp kiết phược về sát sanh,
trộm cắp, v.v... mới không trái với tâm từ bi, tâm lợi
ích của bậc Đại sĩ.
Đao
trượng, cung tên, trói buộc, mèo chồn heo chó, ấy là tổn
hại chánh báo thân mạng của chúng sanh, ngoài ra các thứ
vật nhỏ, v.v... đều là tổn hại y báo các vật thọ dụng
của chúng sanh. Dùng cân non bán ra, tất dùng đấu lớn
mua vào, thước đo dài ngắn cũng vậy.
Hình
thế, hoặc tự dụng thế lực quan quyền, hoặc ỷ thế lực
người khác. Trói buộc là dùng thế lực ác độc riêng tư
mà trói buộc người, làm tổn hại thân thể chúng sanh, chứ
không phải dùng tâm công bằng trói buộc. Tuy là tội
nhơn, cũng cần nên sanh tâm thương xót, nhớ nghĩ họ ngu si
không biết, nên phương tiện khuyến dụ, khiến cho họ phát
khởi tâm tốt, sửa đổi lỗi quấy trước.
Phá
hoại sự thành công của người, nghĩa là người khác muốn
thành tựu sự nghiệp mà mình do vì ác tâm, trái lại muốn
cho họ bỏ phế hư hoại việc ấy.
Trưởng
dưỡng là nuôi dưỡng. Mèo chồn đều là loài thú bắt
chuộc. Heo, chó là tham tài hại mạng, nếu mua bán thì
phạm tội khinh cấu.
Sát
sanh là phạm giới trọng đầu. Đấu là đồ đong đếm,
cho đến ỷ vào thế lực để lấy tài vật của người và
phá hoại sự nghiệp của người khác, đều phạm vào giới
trọng thứ hai, gọi là khi dối cưỡng đoạt, nên phạm.
Kinh
Ưu Bà Tắc Giới ghi: “Cũng không cho nuôi chó, heo, dê, v.v...”
Trong Luật ghi: “Vì đề phòng, giữ gìn tài sản của chùa
nên khai cho phương tiện nuôi chó.”
Kinh
Tạp Tạng chép: “Có một con quỷ thưa ngài Mục Liên rằng:
Âm hoàn của tôi to lớn như là cái hũ, khi đi phải vác lên
vai, khi đứng phải ngồi lên trên âm hoàn ấy, đi lại rất
là khổ sở, không biết vì nhơn duyên gì ? Ngài Mục
Liên đáp: Khi ngươi còn ở đời, bán thì dùng cân thiếu,
mua thì dùng cân nặng, chỉ muốn lợi nhiều mà thôi, do cắt
xẻn người khác, nên thọ tội này, đây là họa báo, khổ
quả ở địa ngục sau này phải chịu.”
Giới
thứ 33
TÀ MẠNG GIÁC
QUÁN
Là
Phật tử, không được vì ác tâm đi xem nam nữ đánh nhau,
hay quân trận, binh tướng giặc cướp, v.v... đánh nhau, cũng
không được đi xem hát, nghe nhạc, chơi cờ, đánh bạc, đá
cầu, đá bóng, v.v..., cho đến bói quẻ, không được làm
tay sai cho kẻ trộm cướp, nếu cố làm các điều trên, Phật
tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Ác
tâm thúc đẩy, nghĩa là lấy việc được thua thắng bại
của người làm trò vui giải trí cho mình. Có khi mình
vui thích trong cái đau khổ của người khác mà không hay.
Khi họ đánh nhau, gây nhau, v.v... Xảy ra những việc trái với
thiện tâm, mình không có khả năng phương tiện can gián cho
họ mà trái lại còn trực tiếp coi xem lấy đó làm vui thích,
thật là trái với tâm từ bi của Đại sĩ, thật là ác tâm,
tà tư tà giác. Gồm có năm việc như sau: coi đôi bên
đấu tranh, coi người vui chơi, coi đánh cờ, đánh bạc, bói
quẻ, v.v...Tất cả những việc trên đều làm cho ta rối loạn
tâm trí, dễ manh nha ác tâm, đệ tử Bồ Tát giới cần tránh.
Tất cả chỗ vui chơi đều khiến cho người ta buông lung phóng
túng, quên mất chánh niệm. Như hiện nay, các thứ trò
chơi đều khiến cho người ta mê tâm loạn trí, đều là tà
nghiệp, không phải chỗ tăng trưởng Đại bi tâm của Đại
sĩ.
Bị
giặc cướp sai khiến, đây thuộc về tánh nghiệp và giá
nghiệp, còn giá tội, tùy vào việc sai phạm mà kết thành
tội khinh.
Kinh
Giới Bản chép: “Nếu Bồ Tát lười biếng buông lung, ham
vui, ham ngủ, nghỉ, đều là phi thời, không phải hạnh xuất
ly, đây là phạm tội nhiễm ô tâm địa. Không phạm
là khi bệnh hoặc vì đoạn mạng, giới này nhiếp tất cả,
vì khi muốn khởi tâm phương tiện nhiếp thủ đối trị,
phiền não tánh thường sanh khởi.
Giới
thứ 34
TẠM BỎ BỒ
ĐỀ TÂM
Nếu
Phật tử ngày đêm sáu thời đọc tụng giới Bồ Tát này,
nên giữ gìn giới luật, trong cả khi đi đứng nằm ngồi
vững chắc như kim cương, như đeo phao để qua biển khổ.
Như các Tỳ kheo bị cột bằng dây cỏ, thường có tín tâm
Đại thừa. Đối với Đại thừa, tự biết rằng mình
là Phật chưa thành, còn chư Phật là Phật đã thành, rồi
phát Bồ đề tâm và giữ vững không thối chuyển. Nếu
có một tâm niệm xu hướng theo Nhị thừa, hay ngoại đạo,
Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Tâm
muốn trái bỏ giáo pháp Đại thừa, hướng về Tiểu thừa,
ý còn do dự chưa quyết định hẳn, liền phạm như giới
thứ 8 trước. Nếu tâm đã quyết thì liền mất giới,
phạm giới trọng.
Nay
giới này nói tâm chưa muốn trái bỏ Đại thừa, mà chỉ
nói giáo pháp Đại thừa dễ tu dễ học. Hơn nữa, trước
cần đoạn Kiến, Tư, Hoặc để chứng Niết Bàn, rồi sau
hóa sanh chưa muộn, mà tạm dấy khởi niệm này, thì đã phế
bỏ Đại nguyện rồi, rốt cuộc đọa vào pháp Thanh văn,
đâu biết Đại sĩ còn nguyện mang Hoặc nghiệp, mà vẫn có
thể làm lợi quần sanh. Nên Luận Chỉ Quán ghi: “Thối
tâm Đại thừa, thủ chấp Tiểu thừa bị các Thánh quở trách.”
Bồ Tát thì không như vậy, thấy chúng sanh khổ, coi như mình
khổ, khởi tâm đại bi, thương chúng sanh như con một.
Như khi người mẹ được món ăn, thường nhớ đến đứa
con. Nếu Bồ Tát cầu trụ nơi Thiên không Niết bàn,
thì có lỗi xả bỏ chúng sanh, đâu thể làm thanh tịnh quốc
độ Phật. Giáo hóa chúng sanh phải có đầy đủ Phật
Pháp. Tất cả chưa có thể làm xong, tuy vào thế gian
sanh tử phiền não, nhưng nếu có đủ đạo lực, thì không
bị tổn hại trí tuệ của mình. Dầu đạo Phật dài
xa, cũng không lấy làm xa, tuy chúng sanh số nhiều, mà có ý
chí dõng mãnh, tâm kiên cố không thối khuất, tinh tấn phát
tâm thú hướng về giác ngộ, trước hết tâm không mệt mỏi
biếng nhác. Nên nói Bồ Tát ở trong sanh tử mà có tâm
dõng mãnh, đối với cảnh Niết Bàn mà không đắm trước.
Dõng mãnh ở nơi sanh tử, vô sanh mà sanh, không bị sanh tử
làm nhiễm ô, như hoa sen ở trong bùn, không bị bùn làm ô
nhiễm.
Trong
Phụ Hành Sao ghi: “Ở nơi cao nguyên không sanh hoa sen, ở chốn
bùn lầy đất ướt mới sanh hoa sen.” Nên biết Niết
bàn Cao nguyên không thể sanh hoa Đại bi của Bồ Tát, mà nơi
sanh là bùn sanh tử, mới là lực dụng thù thắng của Bồ
Tát. Tuy ở trong sanh tử mà không bị sanh tử làm nhiễm
ô, bởi vì chí dõng mãnh và thệ nguyện kiên cố của bậc
Đại sĩ, huống gì Tiểu thừa giới không lìa Bồ Tát giới.
Sức của giới Bồ Tát, hay thành tựu chí nguyện độ sanh.
Đây là lấy Đại nhiếp Tiểu. Tiểu thừa không có Đại
dụng, làm sao hóa sanh được ?
Trong
58 giới này, đều là đức Xá Na chế, nên nói cấm giới,
như sắc lệnh cấm của nhà vua, không ai dám cố ý sai phạm.
Thế nên bậc Đại sĩ ở trong tứ oai nghi (đi, đứng, nằm,
ngồi) hộ trì cấm giới, không để cho sai phạm, ngày đêm
phải chuyên cần học tập, đọc tụng cho thông làu, khiến
cho đừng quên.
Kim
cang, dụ cho giới hay phá trừ được giặc kiết sử phiền
não, cũng dụ cho tâm kiên cố giữ gìn cấm giới của Đại
sĩ vững như kim cang.
Phao
là đồ vật mà người ở Thiên Trúc sử dụng để vượt
qua biển, hoặc dùng lông cừu, cánh chim để làm thành, hoặc
làm bằng da dê, hoặc mang phao nổi, thường mang theo bên mình.
Khi thuyền đi biển, nếu bị hư, liền thổi hơi cho nổi lên
để vượt qua biển cả sanh tử. Nếu không nương vào
cấm giới của Phật thì không thể sang bờ bên kia được.
Nên Kinh Niết Bàn ghi: “Có một con quỷ La-sát theo người
qua biển, ân cần xin cái phao, người qua biển trả lời quỷ
rằng:”Thà giết thân mạng ta, còn phao không thể cho được,
quỷ La-sát nói: Nếu không bằng lòng cho ta hết thì xin vui
lòng cho ta một nửa thôi, người kia cũng từ chối.”
Đây là dụ cho khi Bồ Tát giữ gìn cấm giới, quỷ phiền
não La-sát xúi Bồ Tát, khiến cho phạm 10 giới trọng, còn
giới khinh thì hộ trì. Bồ Tát không thuận theo, như
thế, lần lần quỷ La-sát (vô minh phiền não) xúi phạm Bồ
Tát khởi tâm tạo các tội cấu ác, Bồ Tát cũng nhất định
không thuận theo, vì cớ sao ? Vì Bồ Tát giữ mười giới
trọng của Phật và các tội khinh cấu, ác tác, kính trọng
giữ gìn hết sức kiên cố, giới trọng cũng như giới khinh,
không khác.
Các
Tỳ kheo bị buộc bằng cỏ, nghĩa là Phật chế giới, Tỳ
kheo không được làm tổn hại cỏ cây. Xưa có các Tỳ kheo
đi ngoài đồng vắng, bị giặc cướp đoạt hết quần áo,
giặc sợ các Tỳ kheo vào tụ lạc báo cho dân biết, họ muốn
giết hết các Tỳ kheo. Trong số bọn giặc có một người,
biết Tỳ kheo không làm thương tổn cỏ cây, bèn cột họ
vào cây cỏ rồi bỏ đi. Ngày hôm đó, các Tỳ kheo bị
muỗi mòng, bọ chét chích đốt, từ sáng đến tối, ác thú
liên tiếp tung hoành, rất đáng lo sợ. Các Tỳ kheo cùng
nhau nhắc nhở chỉ lo giữ gìn cấm giới, thà chết không
sai phạm. Mỗi người đều giữ yên thân mình không để
dao động. Ngày hôm sau, nhà vua đi săn bắn, thấy các
Tỳ kheo thọ trì giới cấm, nguyện thà chết không sai phạm,
nhà vua thấy thế rất lấy làm hoan hỷ, liền sai người cởi
trói cho các Tỳ kheo.” Phần này trong Kinh Nhơn Duyên
và luận Đại Trang Nghiêm nêu rõ.
Hỏi:
Nay theo giới kinh này, khi ấy, đức Như Lai mới ngồi dưới
cội Bồ đề nói giới kinh này, lúc đó chưa có chúng Tỳ
kheo, làm sao bị cột bằng cỏ được ?
Đáp:
Đây hoặc Như Lai dự ký, hoặc là các việc của Tỳ kheo
từ thời Phật quá khứ, dẫn ra để chứng minh. Như
vào thời Phật Ca Diếp, có vị Tỳ kheo ngồi thiền, bẻ cành
lá của cây Y La Thối, bị đọa trong loài rồng, cây có mùi
xú uế sanh ở trên đầu, gió thổi diêu động, mủ tràn khắp
làm nhơ biển cả, trăm ngàn muôn năm chịu các thống khổ,
cho đến khi đức Phật Di Lặc ra đời, mới thoát khỏi thân
rồng, nên trong Tam tạng kinh điển, mỗi mỗi đều dẫn tích
này để chứng minh.
Thời
nay, các kẻ cuồng thiền bảo rằng tông môn giải thoát, giữ
giới cho là chấp tướng, đẵn cây đào đất nào có thương
tổn gì. Nhưng chưa đủ lực dùng tay chém rắn độc
như Quy Tông, chưa có cái đức của Sơ Quả cày ruộng trùng
đứt thành 4 khúc, xem quả báo của con rồng này, dám cho mình
là giải thoát chăng? Là chấp trước chăng? Làm
tổn hại một lá cây, còn phải thọ báo như thế, lẽ đâu
những việc ấy không làm cho ta phải ớn lạnh đến vỡ mật
chăng !
Mặc
dầu, trước có thể hộ trì cấm giới kiên cố, mà không
có tâm chánh tín Đại thừa, còn e rằng sa vào pháp Nhị thừa,
chung quy mất cực quả thành Phật, mà đại nguyện độ sanh
theo đó cũng mất. Cần phải phát tâm sanh chánh tín,
tin ta và chúng sanh là Phật sẽ thành, chư Phật là Phật đã
thành. Mặc dù đủ lòng tin, nhưng không phát tâm Bồ
đề, thì lòng tin kia cũng không có chỗ nương tựa, nên phải
phát đại tâm, để lập lòng tin kiên cố. Phải biết
tâm ta tức là tâm Phật, vì thế trước cầu Phật đạo,
và cũng phải biết tâm ta chính là tâm chúng sanh, nên dưới
thì hóa độ chúng sanh. Đối với tâm này trong từng
giây, từng phút không thể xa lìa, nên nói niệm niệm không
lìa tâm, nếu lìa niệm trong giây phút liền rơi vào pháp Nhị
thừa tự độ.
Hạ
hoá, nghĩa là chẳng phải chỉ hóa độ chúng sanh trong một
thế giới, mà phải hóa độ đến chúng sanh trong trăm ngàn
hằng hà sa thế giới.
Thượng
cầu, nghĩa là chẳng phải chỉ thừa sự chư Phật một thế
giới, mà phải phụng thờ đến chư Phật trăm ngàn hằng
hà sa thế giới để cầu đạo vô thượng. Nên Kinh Hoa
Nghiêm chép: “Bồ Tát không phải vì giáo hóa chúng sanh trong
một thế giới mà phát Bồ đề tâm, nhẫn đến không phải
vì giáo hóa tất cả chúng sanh vi trần thế giới trong Tam
thiên Đại thiên mà phát Bồ đề tâm, không phải chỉ cúng
dường Như Lai trong một thế giới mà cúng dường tất cả
Như Lai trong các thế giới thứ lớp xuất hiện nơi đời
phát Bồ đề tâm, không những chỉ cúng dường bất khả
thuyết, bất khả thuyết Phật trong vi trần thế giới, mà
muốn giáo hóa, điều phục tất cả chúng sanh không sót một
ai nên phát Bồ đề tâm, vì muốn thờ phụng cúng dường
tất cả Phật chẳng sót vị nào nên phát Bồ đề tâm.”
Hỏi:
Tâm đại Bồ đề từ đâu lưu xuất ra?
Đáp:
Từ Đại bi tâm mà sanh. Kinh Vô Tận Ý ghi: “Vì muốn
cứu độ tất cả chúng sanh hữu tình, khởi sức bi niệm,
v.v... hướng đến cầu vô thượng Bồ đề, nếu không vì
hóa độ chúng sanh thì Ta không phát tâm Bồ đề.”
Kinh
Hoa Nghiêm ghi: “Từ Sơ địa đến Thập địa, ở trong các
địa đều dùng tâm đại bi làm chủ.”
Bồ
đề Tâm luận ghi : “Tâm từ bi phát sanh ra tâm đại Bồ
đề, tất cả Phật pháp tối thắng, đều do bi tâm làm cội
gốc.”
Vô
Sai Biệt Luận ghi: “Nhơn tu tức là Bồ đề tâm, quả đức
viên mãn tức là Chánh Giác. Pháp Bồ đề không thể
nghĩ bàn, chư Phật Như Lai đều khen ngợi tán thán pháp này.”
Kinh Vô Úy Thượng Thọ Vấn ghi: “Khi phát tâm Bồ đề đã
sanh các phước, sánh bằng cõi hư không, cao tột rộng khắp
không có cùng tận. Giả sử có người đem trân bảo
trong hằng hà sa số cõi Phật cúng dường đức Thế Tôn,
nếu có người chí thành chắp tay chỉ trong một niệm phát
tâm Bồ đề vô thượng chánh đẳng, chánh giác, thì phước
đức này vượt hơn phước đức cúng dường trân bảo cho
đức Thế Tôn, phước cầu vô thượng, không thể tính kể
được.”
Kinh
Thành Phật ghi: “Các pháp vô tướng, là tướng hư không,
khi khởi lên quán chiếu rồi, gọi là Thắng nghĩa Bồ đề
tâm. Phải biết tất cả pháp không, do đã tỏ ngộ pháp
vốn không sanh, không diệt, vì tâm thể vốn tự như vậy
chẳng thấy thân tâm trụ nơi tịch diệt, rốt ráo bình đẳng,
trí chơn thật thường không bị thối mất. Nếu khi vọng
tâm khởi lên, biết thì chớ có rong ruổi theo, khi vọng niệm
dứt, nguồn tâm tĩnh lặng, vạn đức đầy đủ, bấy giờ
diệu dụng không cùng tận, bởi vì mười phương chư Phật
dùng hạnh nguyện thắng nghĩa làm giới. Nếu người
đầy đủ tâm này, hay chuyển bánh xe pháp, cả mình và người
đều lợi lạc, như Kinh Hoa Nghiêm quyển thứ 64 ở phẩm Phát
Bồ Đề Tâm nói rõ.
Giới
thứ 35
KHÔNG PHÁT
NGUYỆN
Là
Phật tử, nên phát những điều nguyện lớn: nguyện
ở hiếu thuận với Cha mẹ, Sư tăng, nguyện gặp được thầy
lành, thiện hữu tri thức, thường dạy bảo cho ta các kinh
luận Đại thừa, dạy cho ta về Thập Phát thú, Thập Trưởng
dưỡng, Thập Kim cang và Thập địa, khiến cho ta hiểu rõ
để tu hành đúng chánh pháp và nguyện giữ vững giới của
Phật, thà chết chứ không chịu thay lòng. Nếu Phật
tử không phát những điều nguyện trên đây thì phạm tội
khinh cấu.
Giải
thích:
Nguyện
là nghĩa mong cầu, ưa muốn. Tất cả nhơn thú thắng
quả vi diệu vô lượng thiện pháp mà không có tâm mong cầu,
ưa muốn thì do đâu được toại nguyện, nên phải phát Đại
nguyện.
Tất
cả nguyện bao gồm 10 nguyện sau:
1.
Nguyện hiếu thuận, chính là nguyện trì giới. Lấy hiếu
làm giới, nên hiếu là cội gốc của mười nguyện, cội
gốc nếu thiếu khuyết thì chín giới sau không chỗ nương.
2.
Mong gặp được thầy tốt, thầy tốt là hạnh giải song toàn,
nếu có hiểu biết thông suốt mà không có đức hạnh thì
đâu có thể dắt dẫn ta tinh tấn tu hành được, nếu có
hạnh đức nhưng không thấu hiểu, thì làm sao khai mở tâm
địa cho ta được. Vì để báo ân hai đấng song thân,
nối dòng Tam bảo đều nhờ vào lực dạy dỗ của Sư trưởng,
nên trong mười Đại nguyện, ân Sư là quan trọng nhất.
Dẫu đủ tín tâm, nếu không có thầy lành dẫn dắt, cũng
không thành bậc pháp khí. Nay nhằm thời mạt pháp, người
giới đức, hạnh giải đầy đủ thật là hiếm gặp, có
hiểu mới tu, y vào hiểu biết mà hành trì, tự mình phải
gia công cố gắng tấn tu, cuối cùng mới hy vọng đạt đến
vô sanh, thẳng đến Bảo sở. Nếu có hạnh mà không
hiểu kinh điển và phương pháp tu hành thì hạnh kia không
phải là chánh hạnh, rất tối kỵ, khi nương tựa người
như thế, chẳng khác nào như người không có mắt mà dẫn
đường, ắt sẽ đọa vào đường hiểm, vĩnh viễn không
ra khỏi. Nay cầu chánh kiến, chánh giải, cũng không phải
là dễ gặp minh sư thiện hữu, huống chi bậc hạnh giải
song toàn ư ?
Trước
nói về Sư Tăng là phải hiếu thuận với thầy, sau nói về
thầy tốt là cần phải lựa chọn gặp vị minh sư để dẫn
dắt, mới tránh khỏi sự lầm đường lạc lối.
3.
Nguyện được đồng học với bậc thiện hữu tri thức, đồng
học chánh tông Đại thừa, gặp bạn lành khéo hiểu Tâm địa
pháp môn. Dù gặp được minh sư nhưng nếu không có bạn
hiền, thì đánh mất đi sự lợi ích tha thiết trên bước
đường tu học của ta.
4.
Nguyện gặp người khéo dẫn dắt dạy bảo, nghĩa là nguyện
trước là thầy lành, bạn tốt, thường dạy ta về nghĩa
lý kinh luật Đại thừa, để phát tâm chánh tín, thú
hướng tấn tu đến Thập Phát thú vị, khỏi rơi vào Thiên
không Nhị thừa, kiến giải tà chấp ngoại đạo.
5.
Nguyện tu Thập trụ nên nói Thập Phát thú.
6.
Nguyện tu Thập hạnh nên nói Thập Trưởng dưỡng.
7.
Nguyện tu Thập Hồi hướng, nên nói Thập Kim cang.
8.
Nguyện tu chứng Thập thánh nên nói Thập địa.
9.
Nguyện tu hành tất cả như pháp. Nghĩa là như pháp Đại
thừa trước đã nói cần phải vâng lời thầy bạn giúp cho
tiến tu, nguyện theo chánh pháp đã lãnh thọ, khiến cho tâm
ta mở mang kiến giải thù thắng, tùy hiểu rồi tu hành, thể
nhập chứng đắc quả vị Tam Hiền, Thập Thánh.
10.
Nguyện kiên cố trì giới. Trước lấy hiếu thuận làm
giới, sau lấy nguyện thứ mười, là trì giới, làm tóm kết.
Phải biết từ xưa đến nay đều lấy Tâm địa chánh giới
làm tông thú Đại thừa, bởi vậy vô lượng pháp môn, trăm
ngàn thắng Định, vô lậu Diệu Huệ, đều từ giới mà lưu
xuất ra. Tam Hiền, Thập Thánh cho đến Diệu giác cực
quả, đều do giới mà được thành tựu, nên giới pháp này,
đặc biệt cần phải tôn trọng.
Thà
bỏ thân mạng không niệm nào xa lìa giới này, nghĩa là mười
nguyện trước phát tâm kiên cố, niệm niệm không quên, dù
gặp phải nạn duyên mất mạng, nguyện xả thân tứ đại
giả tạm này, nhưng nếu xả tâm này, thật là trái phạm
tâm giới.
Tất
cả Bồ Tát không phát nguyện này, nghĩa là từ lúc mới đắc
giới, cho đến Thập địa, nếu không phát Thập Đại nguyện
này thì chí nguyện không kiên cố, gia hạnh tấn tu cũng e
rằng bị ma làm chướng ngại, giữa đường thành trệ mà
Quả hải Diệu giác cũng không biết dựa vào đâu để chứng
đắc, nên nói rằng: “Trang nghiêm cõi Phật là việc lớn”.
Nếu chỉ một mình làm việc công đức, thì không thể thành
tựu, nên cần phải có nguyện lực để hành trì. Thí
như sức con trâu, tuy có thể kéo được cỗ xe, nhưng cần
phải có người điều khiển, mới có thể đi đến đích.
Nên biết, người có chí mà không kiên cố thì nguyện khó
viên mãn. Bởi vậy Kinh Viên Giác chép: “Phải phát Đại
nguyện thanh tịnh của Bồ Tát.” Nên suy nghĩ như vầy: “Mong
cho con đời này trụ ở quả Viên giác của Phật, cầu thiện
tri thức, chẳng gặp ngoại đạo, Nhị thừa, nương nguyện
tu hành, dần dần đoạn hết các chướng, chướng hết thì
nguyện viên mãn, liền lên điện bảo pháp giải thoát thanh
tịnh, chứng đắc cảnh giới Đại viên giác vi diệu trang
nghiêm.”
Giới
thứ 36
KHÔNG PHÁT
THỆ
Là
Phật tử, khi đã phát mười điều nguyện lớn trên đây
rồi, phải giữ gìn giới cấm của Phật. Tự thệ rằng:
“Thà nhảy vào đống lửa hố sâu, núi dao, quyết không cùng
với tất cả khác phái, làm điều bất tịnh, để phạm điều
cấm trong Kinh luật của Tam thế Chư Phật.
Lại
thệ rằng: “Thà lấy lưới sắt nóng quấn thân mình cả
nghìn lớp, quyết không để thân này phá giới mà thọ những
đồ y phục của tín tâm đàn việt. Thà chịu nuốt hoàn
sắt nóng cháy đỏ và uống nước đồng sôi mãi đến trăm
nghìn kiếp, quyết không để miệng này phá giới mà ăn các
thứ thực phẩm của tín tâm đàn việt. Thà nằm trên
đống lửa lớn, trên tấm sắt nóng, quyết không để thân
này phá giới mà nhận lấy các thứ giường ghế của tín
tâm đàn việt, thà trong một hai kiếp chịu cho cả trăm gươm
giáo đâm vào mình, quyết không để thân này phá giới mà
thọ các thứ thuốc men của tín tâm đàn việt. Thà nhảy
vào vạc dầu sôi trong trăm ngàn kiếp, quyết không để thân
này phá giới mà thọ lãnh phòng xá, nhà cửa, ruộng vườn,
đất đai của tín tâm đàn việt.”
Lại
phát thệ rằng: “Thà dùng chày sắt đập thân này từ đầu
tới chân, nát như tro bụi, quyết không để tâm này phá giới
mà thọ sự cung kính lễ bái của tín tâm đàn việt.”
Lại
phát thệ rằng: “Thà lấy trăm nghìn lưỡi gươm đao khoét
đôi mắt mình, quyết không đem tâm này phá giới mà nhìn
xem sắc đẹp của người. Thà lấy trăm ngàn dùi sắt
đâm thủng lỗ tai mình, trải qua trong một hai kiếp, quyết
không đem tâm này phá giới mà nghe tiếng tốt giọng hay.
Thà lấy trăm ngàn lưỡi dao cắt bỏ lỗ mũi mình, quyết
không đem tâm này phá giới mà ngửi các thứ mùi thơm.
Thà lấy trăm ngàn lưỡi dao cắt đứt lưỡi mình, quyết
không đem tâm này phá giới mà ăn các thứ tịnh thực của
người. Thà lấy búa bén chặt đứt thân thể mình, quyết
không đem tâm này phá giới mà mặc các thứ đồ tốt.”
Lại
phát nguyện: “Nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Phật
đạo.”
Nếu
Phật tử không phát những điều nguyện trên đây, thì phạm
tội khinh cấu.
Giải
thích:
Thệ
là trong tâm quyết đoán mười lời nguyện, ý chí, dõng mãnh,
lấy thệ hỗ trợ cho nguyện, để khiến cho tâm không sanh
khởi một niệm khiếp nhược thối lui, bậc Đại sĩ mới
thành tựu ý nguyện sở trì, sở cầu, mãn nguyện như ý.
Đại
sĩ trì cấm giới của Phật, trước tiên lấy 10 nguyện làm
người dẫn đường, sau dùng 5 thệ để làm cho nguyện được
kiên cố, khiến cho không sanh khởi một niệm khiếp nhược,
tấn tu trọn đời. Năm lời thệ ấy là:
1.
Lìa nhiễm dục
2.
Thọ nhận của cúng dường
3.
Thọ nhận sự cung kính
4.
Làm thanh tịnh sáu căn
5.
Độ chúng sanh.
Thà
đem thân này, nghĩa là lời phát thệ kiên cố, ý nói là nát
thân chứ không phạm giới. Chúng sanh bị lưu chuyển
trong sanh tử, ái dục là thứ nhất. Làm nhiễm ô tâm
địa bổn nguyên, hạnh bất tịnh đứng đầu, bởi vậy trước
phải phát đại thệ rằng: “Thà đem thân nhảy vào hầm
lửa, chịu các khổ thiêu đốt nát như tro bụi, chịu cái
khổ rơi trong địa ngục, trong núi đao, rừng kiếm, chịu
nỗi thống khổ cắt lóc da thịt chân tay, ruột gan, v.v....
trăm ngàn muôn thứ thống khổ bức bách, trọn không dám vi
phạm kinh luật của Phật, làm hạnh bất tịnh với người
khác phái, vì sao vậy? Vì như lửa dữ, núi đao chỉ
hoại sắc thân trong một đời, còn như làm hạnh bất tịnh
thì muôn kiếp tan thân mất mạng. Cho nên tất cả chúng
sanh từ vô thủy đến nay, trầm luân trong biển khổ, không
ra khỏi được, đều do nữ sắc, ái dục trói buộc.
Như người mù không có con mắt trí tuệ, không thấy được
hố sâu sanh tử, khiến cho không biết bao sinh mạng phải bị
vùi lấp.
Kinh
Niết Bàn chép: “Nếu Bồ Tát tuy không hòa hợp với người
nữ nhưng cùng họ nói năng, đùa giỡn cười cợt, hoặc là
ngoài vách nghe tiếng vòng xuyến, nhẫn đến thấy nam nữ
đuổi bắt nhau, Bồ Tát này đã hủy phá tịnh giới, làm
nhiễm ô phạm hạnh, khiến cho giới tạp uế, không được
gọi là tịnh giới cụ túc, nghe tiếng, thấy sắc còn khiến
cho tạp uế, huống gì Bồ Tát khởi niệm bất tịnh, lẽ
đâu được giới cụ túc ư ?
Đoạn
trước ghi: “Lập thệ như vầy”, còn đoạn này nói: “Lại
nguyện như vầy” nên biết Thệ là ý chí quyết đoán trong
Nguyện, tất cả y phục, ăn uống, thuốc men, giường chiếu,
ngọa cụ, nhà cửa, ruộng vườn, đều là do tín tâm đàn
việt, mong cầu phước mà cúng dường cho ta. Giới của
ta được vẹn toàn cũng cần phải kiểm xét tâm mình sanh
lòng hổ thẹn, dùng Bi điền và Kỉnh điền triển chuyển
để sanh phước thiện. Nếu khuyết giới thì một hạt
gạo cũng khó tiêu, huống gì có thể đền đáp chỗ mong cầu
của thí chủ được, nên lập trước lời thệ này để tự
răn nhắc và ngăn ngừa.
Lễ
bái tuy không hao tổn tiền của nhưng mà tín tâm đàn việt
chí thành. Bởi vậy có người đem tâm cung kính Tam bảo,
một lần chiêm ngưỡng, một lần lễ lạy, vô lượng tội
diệt, vô biên phước sanh.
Kinh
Anh Lạc chép: “Bồ Tát khi mới sanh, đi bảy bước, kế đó
giở chân trái, thế nhưng vô lượng chúng sanh trong tam thiên
thế giới chẳng hay chẳng biết. Nếu có chúng sanh thấy
tướng túc luân, đều phát tâm Vô thượng chánh đạo, phước
báo này là do xưa kính lễ đức Như Lai, phải biết được
phước đã nhiều nhưng nếu sai phạm mắc tội cũng không
phải ít. Nay đem thân phá giới, thọ nhận người khác
cung kính lễ bái, thì tự tổn phước không ít, đâu có thể
khiến cho họ tăng thêm phước lành. Người có tâm hổ
thẹn cần nên nghĩ kỹ. Trước là thệ thân khẩu không
nhận tứ sự cúng dường của người khác. Nay thệ sáu
căn, không nên phóng túng nhiễm đắm ngũ trần, mà không nói
về ý căn là vì trong ngũ căn đều nói: “Tâm phá giới”,
tâm chính là ý, huống gì ý căn vô hình, pháp trần vô thể,
không thể dụ giống như ngũ căn, nhưng ý căn duyên cảnh
trong năm trần phân biệt tốt xấu, tức là pháp trần, nên
không thể lập thêm một pháp trần khác. Như vậy sáu
căn nhiễm sáu trần, như con ruồi dính nơi đờm dãi, nay đã
hoại mất giới thân, thì vĩnh viễn mất huệ mạng, cần
phải phát thệ nghiêm trọng và lập ra cái nạn nghiêm trọng
để ngăn ngừa. Bởi vậy thà chịu sự thống khổ trăm ngàn
dao nhọn kiếm bén đâm vào tim mình, quyết không nhìn sắc
đẹp, nhẫn đến không ham đắp mặc y phục mịn màng, nằm
nơi êm ấm, v.v... Nay dùng tâm thệ này, cắt đứt nguồn gốc
ác mới có thể sanh căn lành. Nên Kinh Di Giáo chép: “Tai
họa của năm căn gây tai ương đến nhiều đời, gây hại
không kể xiết, không thể không thận trọng. Bởi vậy
người trí ngăn ngừa mà không theo, giữ nó như giữ giặc,
giả sử có buông lung nó thì chỉ trong khoảnh khắc, liền
phải trừ diệt.”
Luận
Đại Trí Độ chép: “Như Phật dạy, thà dùng sắt nóng dí
lên mắt mình, chứ không đem tâm nhiễm liếc nhìn nữ sắc.
Người trí không nên nhìn sắc đẹp, nếu muốn quán, phải
coi người ấy như mẹ, như chị của mình, v.v... nhìn kỹ,
quán xem bất tịnh dẫy đầy, lửa dâm chẳng dứt thì bị
nó thiêu đốt. Cái họa của sắc đã như vậy, còn thanh,
hương, vị, xúc có thể tự rõ.
Bốn
thệ nguyện trên đây, tuy nói là tự độ, nhưng cũng gồm
cả độ tha, vì sao vậy ? Vì Bồ Tát tu hành vốn vì
chúng sanh, nếu không tự độ thì làm sao độ người ?, Không
giống như Nhị thừa, chỉ tự độ, nên nay phát thệ nguyện
này, nguyện chúng sanh thành Phật, chính là bổn hoài của
Bồ Tát, là đại thệ tự lợi và lợi tha cùng thành Phật
đạo. Người không phát nguyện này là do không lập năm
thệ trước. Nếu không lập mười nguyện và năm thệ,
dẫu có tu trì, chỉ là không rơi vào Nhị thừa, được hưởng
phước báu ở cõi trời, cõi người mà thôi.
Giới
thứ 37
KHÔNG ĐƯỢC
DU HÀNH NƠI MẠO HIỂM, CÓ NẠN
Là
Phật tử, thường nên hai mùa tu hạnh Đầu đà, mùa đông
mùa hạ ngồi thiền, kiết hạ an cư, thường dùng nhành dương,
nước tro, ba y, bình bát, tọa cụ, tích trượng, hộp lư hương,
đãy lược nước, khăn tay, con dao, đá lửa, cái nhíp, giường
giây, kinh luật, tượng Phật, tượng Bồ Tát. Khi Bồ
Tát tu hạnh Đầu đà, du phương qua lại trong trăm dặm, ngàn
dặm, 18 vật này thường mang theo bên mình. Hành hạnh
Đầu đà từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba và từ rằm
tháng tám đến rằm tháng mười, trong hai kỳ hành hạnh Đầu
đà luôn mang theo mình mưới tám thứ ấy, như chim hai cánh.
Nếu
đến ngày bố tát, Bồ Tát tân học mỗi nửa tháng phải
thường bố tát tụng 10 giới trọng và 48 giới khinh.
Lúc
tụng giới nên ở trước tượng Phật và tượng Bồ Tát
mà tụng, chỉ có một người bố tát thì một người tụng,
nếu có hai người, ba người, cho đến trăm ngàn người thì
cũng chỉ một người tụng. Người tụng ngồi trên tòa,
người nghe ngồi dưới tòa, tất cả đều đắp y hoại sắc
chín điều, bảy điều và năm điều, lúc kiết hạ an cư
mỗi mỗi việc đều phải như pháp.
Lúc
hành hạnh Đầu đà, chớ đi đến chỗ có tai nạn, như cõi
nước hiểm ác, nhà Vua hung bạo, đất đai gập ghềnh, cỏ
cây rậm rạp, chỗ có sư tử, cọp, sói cùng lụt bão, nạn
cháy, giặc cướp, đường xá có rắn độc; tất cả những
nơi hiểm ác ấy đều không được đến, chẳng những lúc
hành hạnh Đầu đà, mà lúc kiết hạ an cư cũng không được
vào những chỗ hiểm nạn ấy. Nếu cố vào nơi ấy,
Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Nghiệp
đã kết nhiều đời nhưng sở dĩ chưa thọ quả báo thì chưa
nhất định gặp duyên liền như vang theo tiếng, như bóng theo
hình, nếu chưa gặp duyên phải đợi đến lúc khác.
Du
hành nơi hiểm nạn, như con thiêu thân lao đầu vào lửa, huống
gì thân người khó được như rùa mù gặp lỗ cây. Giả
sử gặp ác duyên tạm quên huệ nhãn, sanh ra đại thống khổ,
do đây phải đọa ba đường ác, hiện tại đánh mất phước
duyên với đạo, vĩnh viễn trôi dạt trong bến mê, hơn nữa
các tai nạn lớn nhỏ nào ai biết trước, tự chuốc lấy
tai vạ chết yểu, thật đáng thương thay.
Hai
mùa là mùa xuân và mùa thu, khí hậu dễ chịu, không bị nóng
và lạnh trở ngại, việc hành hóa của Bồ Tát trở nên thuận
tiện.
Đầu
đà, cũng gọi là Đỗ đa (Trung Hoa dịch là Đẩu tẩu), nghĩa
là phủi sạch các phiền não tham, sân, si trong ba cõi ra khỏi
sự trói buộc, thương ghét của sanh tử. Hành Đầu đà
có 12 thứ như kinh Đại Bát Nhã nêu rõ:
1.
Ở chốn A Lan Nhã (Trung Hoa dịch là chỗ tịch tĩnh), cách
thôn ấp khoảng sáu dặm.
2.
Thường đi khất thực.
3.
Mặc áo bá nạp, chính là áo phấn tảo.
4.
Ăn một bữa.
5.
Tiết chế sự ăn uống.
6.
Sau giờ ngọ không ăn, chỉ uống nước trái cây.
7.
Ngồi nơi gò mả.
8.
Ở dưới gốc cây.
9.
Ngồi nơi đất trống.
10.
Thường ngồi không nằm.
11.
Theo thứ lớp khất thực (không lựa nhà giàu sang)
12.
Chỉ mặc 3 y (không chứa y dư thừa).
Đối
với việc ăn uống, y phục và chỗ ngủ, nghỉ, không đắm
nhiễm là lìa chướng ngại, mau được giải thoát.
Đại
Luận chép: “Giới mà Phật đã kiết, đệ tử phải thọ
trì.” Mười hai hạnh Đầu đà không gọi là giới,
nếu người hay thực hành thì giới được trang nghiêm, không
hành trì thì cũng không phạm giới, thí như người bố thí
hay thực hành thì được phước, không bố thí thì cũng không
mắc tội.
Mùa
đông, mùa hạ thì ngồi thiền, mùa đông thì tuyết lạnh,
mùa hạ thì nóng bức, lại nhiều thứ côn trùng giun dế,
muỗi mòng, nếu đi du hành thời thường gặp khi trời lạnh
nóng làm thương tổn thân thể, lại tổn hại thân mạng chúng
sanh nên tọa thiền an cư.
Mười
tám thứ vật mang theo bên mình như chim có hai cánh, mặc tình
bay lượn, dạo đi trăm dặm, ngàn dặm, thọ dụng không thiếu,
về sự thì như vậy, nhưng về lý có hơn có kém.
Nhành
dương để tẩy sạch khẩu nghiệp. Nước tro dùng để
tẩy sạch thân nghiệp. Nước tịnh bình để tẩy sạch
ý nghiệp. Một bình bát tiêu biểu biết đủ để lìa
tà mạng. Ba y để trừ ba độc, là đắp mặc áo giáp
hoằng thệ. Tọa cụ để an ổn ngũ phần pháp thân.
Tích trượng là tiêu biểu dựng lập cờ xí của Thánh, Hiền.
Hương là tiêu biểu cho mùi thơm giới đức. Lò là tiêu
biểu trì giới kiên cố. Hộp là vật để hương có
đáy bằng phẳng, tiêu biểu tâm địa Bồ Tát bình đẳng.
Đãy lược nước là hạnh từ cứu độ chúng sanh. Khăn
tay là để lau chùi mồ hôi vô tàm, vô quý. Dao là hàng
phục bốn ma. Đá lửa tiêu biểu ánh sáng trí tuệ, để
phá trừ vô minh si mê tối tăm. Nhíp dùng để nhổ sạch
cội rễ phiền não. Giường giây tiêu biểu cho tòa pháp
không.
Kinh
luật để xiển dương cội nguồn Đại thừa tâm tông.
Tượng Phật tiêu biểu cực quả Như Lai.
Tượng
Bồ Tát là tiêu biểu cho nhơn vi diệu của Bồ Tát, muốn
chứng quả cao tột phải cần có nhơn vi diệu, muốn xây dựng
thềm bậc của nhơn vi diệu, trước hết phải rõ tâm địa,
mười tám thứ vật dụng như thế, sự và lý đầy đủ,
dù trong tích tắc không được lìa khỏi thân, nếu lìa thì
chẳng phải thực hành đại đạo của Bồ Tát.
An
cư kiết hạ, từ ngày 16 tháng 4 kiết đến rằm tháng 7 (âm
lịch ) giải, là ba tháng cấm túc, đó là thời gian cần thiết
để 3 tháng sách tấn tu hành.
Thường
bố tát, nghĩa là trong một năm, mỗi nửa tháng (tháng có
trăng và không trăng) thường tụng giới kinh, không nên bỏ
kỳ nào. Nay chỉ nêu hàng tân học Bồ Tát, nghĩa là
hàng cựu học đã biết rõ phép thường của Chư Phật mỗi
nửa tháng tụng giới một lần, vì sợ rằng hàng tân học
Bồ Tát chưa rõ nghi thức định kỳ tụng giới hàng tháng,
chứ không phải ý nói cựu học Bồ Tát không tụng, nên văn
trước nêu rõ: “Phật Lô Xá Na tụng, ta cũng tụng như thế,
ba đời Chư Phật Bồ Tát cũng tụng như thế”, đủ biết
không phải chỉ riêng tân học Bồ Tát mới tụng.
Khiến
ở trước tượng Phật và Bồ Tát tụng, thấy rõ là hàng
tân học Bồ Tát tụng cũng không khác với Phật và Bồ Tát.
Một người bố tát thì một người tụng, cho đến trăm ngàn
người cũng chỉ một người tụng mà thôi, đây là khiến
cho đại chúng nghe không bị huyên náo ồn ào, mỗi mỗi đều
được nhứt tâm, người tụng ngồi tòa cao, tụng cho rõ ràng
để hiển rõ giới pháp phải tôn sùng, người nghe ngồi tòa
thấp, để được nghe hết, cũng để rõ khiêm tốn đem tâm
kính giới.
Ca
sa, tiếng Phạn nói đủ là Gia-sa-giả (Trung Hoa dịch là Hoại
sắc) cũng gọi là màu đỏ, dùng ba thứ phẩm xanh, đen, mộc
lan nhuộm thành y hoại sắc, như lá dâu vàng, để khác với
năm sắc chính, còn như nêu rõ công năng, thì tên gọi và
nghĩa của nó không chỉ có một, danh nghĩa của nó chẳng
phải một.
Năm
điều gọi là An Đà Hội (Trung Hoa dịch là Hạ Trước Y).
Bảy điều gọi là Uất Đa La Tăng (Trung Hoa dịch là Thượng
Trước Y). Chín điều gọi là Tăng Già Lê, Trung Hoa dịch
là Trùng y, y này có chín phẩm, từ 9 điều đến 25 điều,
nay chỉ lược nêu phẩm thứ nhất, cũng là biểu trưng cho
nửa tháng tụng giới, là cửa ngỏ đầu tiên làm lợi ích
cho cửu giới (chín cõi).
Mỗi
nửa tháng như pháp, nghĩa là chẳng những mỗi nửa tháng
tụng giới, mà ngay trong mùa an cư kiết hạ cũng phải nhất
nhất như pháp, mỗi nửa tháng tụng giới, không được thiếu
sót.
Nếu
gặp lúc an cư mà không an cư, mạo hiểm du hành đây đó,
thì đây gọi là mạo hiểm du hành chỗ có nạn, có ngại.
Thời nay cách Phật quá xa, chánh pháp và tượng pháp đã qua
rồi, đang thời kỳ mạt, bỏ phế việc bố tát, chánh giáo
ít được nghe. Các chốn tòng lâm, mười người hết
chín người không thực hành, hoặc có người vào ngày mùng
một, ngày rằm thăng tòa dạy chúng, gọi đó là bố tát.
Thậm chí ban đêm uống trà, nói chuyện cho đó là yết ma.
Than ôi! Pháp sắp diệt rồi, ai là người chánh đây !
chỉ nhờ bậc Đại nhơn hữu lực, nối dòng Thánh chủng,
tiếp nối quy củ giới luật, cứu vãn mối tệ nơi thời
mạt này, mở mang chánh giáo cho hậu học, tuy nói là cách
Thánh đã xa, nhưng đồng với thời chánh pháp không khác,
nếu phế bỏ việc bố tát để bổ sung vào nghĩa dựng lập,
bèn bị quỷ thần quở trách, hàng La Hán tự cho là thanh tịnh,
đức Thế Tôn còn đích thân mời đến vân tập bố tát,
chúng ta là hạng người gì mà dám coi thường giới luật
? nay chỉ nêu một hai điểm trong đó để tự hổ thẹn
mà răn nhắc lấy mình.
Xưa
Tăng Phạm ở chùa Đại Giác, huyện Nghiệp Đông, nước Tề,
vốn là người giới đức thanh cao, giữ giới rất cẩn mật,
không sai phạm, từng nghỉ ở chùa khác ý muốn nghe giới,
đến đêm ngày 15, chúng bàn nghĩ việc tụng giới bố tát,
để bàn nghĩa thẳng tắt, mới sai một vị Tăng thăng tòa
nói: “Bàn thẳng về pháp tướng, để hiểu sâu Thánh ý,
cần gì phải lao nhọc cực khổ bố tát làm gì”. Chúng
Tăng đều đồng ý như vậy, bỗng thấy một vị thần hình
dáng cao hơn một trượng vọt lên làm người ta khiếp sợ,
hỏi người bày ra nghĩa thẳng tắt : “Hôm nay là ngày gì
?” Người kia đáp: “Ngày bố tát” Thần liền đánh và
xô vị ấy xuống tòa, vị Tăng ngã lăn sắp chết. Kế
đó, vị thần hỏi hai, ba vị thượng tọa, các vị này cũng
đáp như vậy, thần mỗi mỗi quở trách và hành hạ rồi
đánh cho thừa sống chí chết, vị thần khoác áo ra đi.
Cả Tăng cả tục ai nấy đều thấy. Tăng Phạm thấy
vậy tự gắng một đời cung kính giới. Lại nữa, Tăng
Vân ở chùa Bảo Minh, huyện Nghiệp Hạ, nước Tề, là người
lãnh đạo đại chúng, ngày 15 tháng 4, chúng vân tập muốn
thuyết giới, Tăng Vân là bậc thượng thủ, bạch đại chúng
rằng: “Giới vốn ngăn quấy dứt lỗi, người người tụng
được, cần gì phải tụng nhiều lần, chỉ cần sai một
ông Tăng tụng lược là được rồi để người đời sau
được khai ngộ. Tăng Vân là người có tiếng tăm đương
thời nên không ai dám phản đối, phải đợi đến cuối mùa
hạ. Trong mùa hạ đó, chúng Tăng thường bỏ việc thuyết
giới. Đến ngày 15 tháng 7 âm lịch đại chúng muốn
nhóm họp, muốn tự tứ, bỗng chẳng thấy Tăng Vân ở đâu,
đại chúng bèn đi tìm khắp bốn phía. Cách bên chùa
hơn ba dặm, Tăng chúng tìm thấy Tăng Vân ở trong một ngôi
mộ cổ, toàn thân máu ra đầm đìa như bị ai cắt thịt,
nghe chúng hỏi, Tăng Vân đáp: “Có một trượng phu cầm dao
dài hơn ba thước, lớn tiếng hỏi ta sao dám cải đổi ngày
giờ bố tát, bày ra chuyện tụng lược. Dao chém vào
thân ta đau đớn vô cùng.” Đại chúng dìu Tăng Vân
trở về chùa, dốc lòng sám hối. Từ đó về sau, cả
thảy mười năm, Tăng Vân thường lấy việc thuyết giới
bố tát làm bổn phận của mình. Bởi vậy, đến lúc
lâm chung có mùi hương lạ hoằng quyện bên thân Ngài.
Cõi
nước có hiểm ác, chính là người và cảnh bất thiện, vị
Quốc chủ tâm bất thiện thời không có lòng tôn kính Tam
bảo, ắt có sự khinh hủy Sa môn. Cõi nước cao thấp
thời núi đồi gồ ghề, đất thấp ẩm ướt, nơi ở không
an, rừng cây sâu thẳm thì phần nhiều thú dữ, ác quỷ tụ
tập nhiều, sư tử, sói lang chính là ác thú hại người,
nạn nước nhận chìm, nạn lửa thiêu đốt, nạn gió làm
gảy đổ, giặc cướp thì cướp phá, rắn độc làm hại
người. Tất cả nạn là chỉ nêu sơ lược tám thứ,
còn lại rất nhiều không thể kể hết, nên nói “tất cả”.
Hễ nơi nào có nạn, làm mất mạng và mất hạnh thanh tịnh
thì không được vào, nếu biết mà cố vào thì phạm.
Có người cho rằng: “Bồ Tát còn đem thân thí cho cọp đói,
đâu được bỏ những nơi xa, lời nói này thật là chưa thấu
đạt chánh lý. Xả thân thí cho cọp ăn là cứu giúp
cho cọp đói khỏi chết, đem thân thay thế chim bồ câu, để
cứu mạng nó, mạo hiểm đi vào cõi nước hung dữ, nạn nước,
nạn lửa lao mình đến chỗ giặc cướp rắn độc, đã không
có lợi cho bọn họ thì có ích gì cho pháp môn ? huống
gì người mới hành Bồ Tát hạnh, nhẫn lực chưa đủ, bỏ
mạng một cách oan uổng, ngã kiến chưa bỏ, mất luôn chánh
niệm, vả lại đợi cho thân ngũ uẩn không thần thông liền
phát, hoặc vào vạc dầu, lò than chịu thay khổ, hoặc biến
toàn thân thành núi thịt mà cứu đói cho chúng sanh. Đây
là diệu dụng của Bồ Tát hành pháp lục độ, đâu thể
so sánh với người có tâm mạo hiểm đi du hành các nơi hiểm
nạn ư ?
Hỏi:
Trừ các nạn trên không được đến, giả sử ngẫu nhiên
gặp nạn ấy thì phải định liệu như thế nào?
Đáp:
Bồ Tát Học Luận ghi: “Nếu vì nhơn duyên gặp các việc
nạn, phải chánh niệm mà đối trị, không sanh tâm kinh sợ.
Nên Kinh Bát Nhã Phật dạy Xá Lợi Phất: “Giả sử Bồ Tát
ở trong nạn thú dữ, không sanh tâm khiếp sợ buồn rầu,
cũng không sợ hãi, vì sao? Vì khởi niệm như vậy, ta
nên làm lợi ích cho chúng sanh, tất cả đều phải xả hết,
nếu các ác thú muốn ăn thịt ta, ta sẽ thí cho mau chóng thành
tựu viên mãn bố thí Ba-la-mật, nguyện khi ta thành Vô thượng
chánh đẳng, chánh giác, cõi nước thanh tịnh, không còn nghe
tên ác thú, độc thú nữa, dầu gặp nạn giặc cũng không
sanh tâm kinh hãi, buồn rầu lo sợ, vì cớ sao? Vì Bồ
Tát này đã xả bỏ tất cả những gì mình có và suy nghĩ
rằng: “Nếu giặc cướp đến, muốn lấy, ta sẽ đem cho,
cho đến giặc cướp muốn lấy thân ta, ba nghiệp của ta cũng
không sân hận, để mau thành tựu viên mãn giới Ba-la-mật
và được đầy đủ nhẫn Ba-la-mật. Nguyện lúc ta sắp
thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cõi nước thanh tịnh,
không còn nghe tên giặc cướp như thế nữa, như kinh đã chép:
“Lìa tất cả sự buồn rầu, sợ hãi, v.v... không mất chánh
niệm mà còn hay thành tựu các công đức.”
Giới
thứ 38
TRÁI THỨ LỚP
TÔN TI
Là
Phật tử, phải theo thứ tự đúng pháp mà ngồi; người thọ
giới trước thì ngồi trước, người thọ giới sau thì ngồi
sau; không luận già trẻ, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người quyền
quý, Quốc vương, Vương tử, cho đến huỳnh môn, tôi tớ,
v.v... tất cả đều nên theo thứ tự mà ngồi. Không
được như hàng ngoại đạo si mê, hoặc già, hoặc trẻ, ngồi
trước sau lộn xộn không có thứ tự, không khác cách ngồi
của bọn binh nô. Trong giáo pháp của ta, hễ ai thọ giới
trước thì ngồi trước, ai thọ giới sau thì ngồi sau.
Nếu
Phật tử không theo thứ tự đúng pháp mà ngồi, thời phạm
tội khinh cấu.
Giải
thích:
Tâm
ngã mạn chưa trừ đâu thể tôn kính như Phật, không nương
chánh giáo nên trái lễ mất tôn ti, chẳng phải tâm hiếu
thuận của Bồ Tát và đạo khiêm cung của hàng Thích tử.
Tâm
trọng pháp nên luận về thứ lớp giới đức không phân chia
sang hèn, không hỏi tuổi đời già hay trẻ, chỉ tính giới
lạp tôn ti, đâu đồng với ngoại đạo si mê. Chẳng
trọng bậc tiên đức, ngồi không có thứ lớp trước sau,
binh nô là kẻ vô thức, đâu biết được lễ pháp nên ngồi
mất thứ lớp. Triều đình còn luận về chức tước
cao thấp, huống gì Phật pháp, lẽ đâu không có giới đức
trước sau ư?
Lúc
Bồ Tát lãnh thọ giới pháp chính là lúc sanh trưởng giới
thân huệ mạng, đâu được không y vào giới lạp mà luận
vể tuổi tác ư ?
Hỏi:
Giới lạp thì được rồi, còn như vua tôi, cha con, nam nữ,
tăng ni, không phân chia tôn ti trật tự, lẽ đâu không hỗn
tạp ư?
Đáp:
Hiện tại vị trí tăng ni đã tự phân trước sau rõ ràng
rồi, nam nữ mỗi mỗi có thứ lớp, nếu Vua trọng pháp thì
bề tôi thọ giới được ngồi ở phía trước. Vua nếu
giữ gìn lễ nghi phép tắc ở đời thì bề tôi sẽ lui ngồi
phía sau, tránh khỏi sự lưu nạn như Phật pháp đã nói (Phật
pháp căn cứ người thọ giới trước ngồi trước, người
thọ giới sau ngồi sau, không luận là vua tôi hay thứ dân).
Nếu thật như người trọng đạo mà đã vong ngã, vong nhân
thì cũng như Phạm Vương đảnh lễ Thiên Nữ. Nếu luận
về pháp không có sang hèn, thì cũng như trời Đế Thích đảnh
lễ Giã Can, thì đâu còn tâm phân biệt già trẻ, sang hèn,
trọng khinh ư ?
Không
y vào giới theo thứ lớp tôn ti, nhường chỗ và mời người
khác ngồi, người nhường và người ngồi cả hai đều phạm.
Xưa
Vua A Xà Thế thỉnh ngài Văn Thù, ngài Văn Thù nhường cho
ngài Ca Diếp đi trước với lý do ngài Ca Diếp làm thượng
thủ chúng La Hán, hơn nữa lại là Sa môn lâu năm. Ngài
Ca Diếp lại nhường cho ngài Văn Thù vì tôn xưng Văn Thù
là bậc thần trí biện tài vô ngại, nên Văn Thù đi trước.
Do Vua A Xà Thế tin ngài Văn Thù một cách không căn cứ cho
nên chỉ thỉnh Văn Thù, để tâm đến Văn Thù mà không để
tâm đến Ca Diếp, nên Văn Thù mới nhường cho Ca Diếp, không
dám trái phép thường của Phật xưa. Ca Diếp cứ nhường
cho Văn Thù, vì thuận theo bổn ý của trai chủ, như thần
Nam Sơn thỉnh pháp sư Hoa Nghiêm và đặt tòa trên 500 A La Hán,
thì giống như việc trước, chuẩn theo đây thấy rõ căn cơ
và tòa ngồi thích hợp. Trái lẽ thường thì hợp với
đạo, nên ứng biến tùy nghi, đó mới là diệu dụng quyền
biến của bậc Đại sĩ, nên biết thọ giới trước ngồi
trước, đây là tôn sùng giới lạp.
Thần
trí biện tài vô ngại, thuận theo ý của người thỉnh, là
trọng pháp trọng người, thấy căn cơ để tùy thuận thích
nghi, chỉ e rằng đời mạt pháp thì không biết, có kẻ ỷ
cậy tài cao mà xem thường bậc kỳ đức, hoặc ỷ tuổi hạ
cao mà khinh bậc đạt ngộ, tâm đầy ngã mạn, vọng cho mình
là bậc thấy cơ, chuốc tội tổn phước mất đức, ai là
người chịu tội ấy cho, xin tự suy nghĩ lấy.
Giới
thứ 39
KHÔNG TU PHƯỚC
HUỆ
Là
Phật tử, thường phải khuyến hóa tất cả mọi người dựng
lập Tăng phường, nơi núi rừng vườn ruộng dựng tháp Phật,
chỗ an cư, tọa thiền. Trong mùa đông, mùa hạ, tất
cả những cơ sở hành đạo đều nên dựng lập.
Người
Phật tử phải giảng thuyết kinh luật Đại thừa cho tất
cả chúng sanh. Lúc bệnh tật, nước có nạn, có giặc,
ngày cha mẹ, anh em, A Xà Lê mất, từ tuần thất thứ nhất
cho đến tuần thất thứ bảy, cũng nên giảng thuyết kinh
luật Đại thừa. Tất cả những trai hội cầu nguyện,
những lúc đi làm ăn, những khi có tai nạn, lụt bão, hỏa
hoạn, lúc gió dữ quay cuồng, nạn quỷ La-sát nơi sông to
biển lớn, v.v... đều cũng thuyết giảng kinh luật Đại thừa,
cho đến khi gặp tất cả người bị tội báo, tam ác, bát
nạn, thất nghịch, gông cùm, xiềng xích trói buộc tay chân,
hoặc người nhiều dâm, nhiều sân, nhiều ngu si, nhiều tật
bệnh, đều nên giảng kinh luật Đại thừa này.
Nếu
hàng Bồ Tát tân học không thực hành như trên, thì phạm
tội khinh cấu.
Giải
thích:
Phước
huệ song tu chính là bổn hạnh lợi sanh của bậc Đại sĩ.
Phước trí nhị nghiêm cả hai đều đủ, đây là cực quả
thành Phật của Bồ Tát. Nếu thiếu một trong hai, cũng
như chim một cánh, làm sao bay liệng được! Đoạn này
nói rõ vấn đề giáo hóa chúng sanh tu phước, nêu sơ lược
gồm bảy việc:
1.
Tăng phường là nơi chúng Tăng tụ hội an cư.
2.
Núi rừng là nơi có cây che mát cho chúng Tăng ngồi tu hành.
3.
Vườn là nơi cung cấp hoa trái cho chúng Tăng
4.
Ruộng là nơi cung cấp lúa gạo cho chúng Tăng
5.
Dựng tháp Phật để mọi người chiêm ngưỡng, để Trời
người tạo phước thù thắng.
6.
Dựng lập chỗ an cư, tọa thiền giúp cho mọi người ngày
đêm tấn tu.
7.
Tất cả nơi hành đạo là tất cả chỗ tu hành đạo nghiệp.
Bảy
nơi nêu trên phải được xây cất hoặc giáo hóa cho chúng
sanh khiến họ tự dựng lập. Nếu khuyến hóa cho họ
tức là đã tạo phước trời người cho họ, tạo nhơn lành
xuất thế gian cho họ. Xây cất những nơi như vậy, cần
phải cách xa những gò mả, quỷ thần, dâm phường, quán rượu,
nhà đồ tể, cho đến nhà đầu đảng hội họp. Như
thế mới không bị khuấy động, không bị kẻ khác cười
chê, ghen ghét, đại chúng mới được yên tĩnh tu hành.
Tỳ
kheo làm tịnh thất, Phật còn chế phải lìa chỗ có nạn,
có ngại, huống gì Bồ Tát độ mình độ người ư !
Nơi
có nạn tức là nơi có các ác thú, cho đến các loài côn
trùng quấy nhiễu như ruồi, muỗi, v.v...
Nơi
trở ngại tức là bốn phía quanh tịnh thất, trong phạm vi
một tầm (8 thước), nơi có giếng nhiều người sử dụng
và đường đi, hoặc gần bờ có hầm sâu, hoặc gần tháp
của người khác, đất của quan, đất của ngoại đạo, đất
của Tỳ kheo, v.v... Những chỗ không nạn, không ngại này,
trước còn phải thuyết pháp cho họ, khiến họ tự sanh tâm
hỷ xả, không nên ép buộc, yêu sách đối với họ, làm cho
họ đánh mất tín tâm, nghe cúng thí như tránh nợ, thấy Tăng
như gặp kẻ thù. Xưa trong thành Khoáng Dã ở nước Thiên
Trúc, các thầy Tỳ kheo làm phòng nhà xin quá nhiều vật liệu,
khi ấy các cư sĩ thấy các Tỳ kheo, họ liền đóng cửa lánh
mặt. Nghe thế ngài Ca Diếp bạch Phật, Phật quở trách
các Tỳ kheo, rồi nhân đó nói tích xưa ở bên sông Hằng,
có vị Phạm Chí tu đạo thường bị con rồng phun nước quanh
mình, Phạm Chí buồn bực sanh bệnh, Phật dạy Phạm Chí theo
con rồng xin hạt châu trên cổ, từ đó về sau rồng không
đến nhiễu hại nữa. Lại có các Tỳ kheo ở trong rừng
bị nạn, ngày đêm nghe tiếng chim kêu làm náo động việc
thiền định, Phật dạy Tỳ kheo đến xin hai cánh của chim,
chim liền ra khỏi rừng, không trở lại chỗ này nữa.
Phật bảo các Tỳ kheo, các ông nên biết, chim thú còn không
ưa người ta yêu sách, huống gì con người bị người khác
yêu sách quá nhiều, lẽ đâu không ghét chăng! Thời nay
có người mượn việc công để làm lợi riêng, mượn công
việc để cầu lợi, khinh chê nhân, mê muội quả, ngàn kiếp
khó có thể đền trả được. Do tội lạm dụng của
tín thí, muôn đời không được trở lại làm người, hại
mình hại người, mượn tiếng giáo hóa để cầu phước.
Thật là bọn giặc nguy hiểm trong pháp môn.
Nên
vì tất cả chúng sanh mà giảng thuyết kinh luật Đại thừa,
nghĩa là nêu chung đại cương để tu huệ, phần sau nói rõ
duyên cảnh để tu phước.
Tật
bệnh tức là nhờ kinh luật này khai trị được tội báo
ác nghiệp, phiền não của chúng sanh.
Nước
có nạn, nghĩa là nhờ kinh luật này giữ gìn tâm của Quốc
vương, diệt trừ các oán địch và muôn thứ tai họa khác.
Nạn
giặc, nghĩa là nhờ kinh luật này xô dẹp lục tặc và các
thứ giặc cướp làm kinh hãi.
Cha
mẹ,...những người mất ấy, nhờ kinh luật này hay làm
lợi ích cho kẻ còn người mất, có thể giúp cho thần thức
của thân trung ấm vãng sanh Tịnh độ, hoặc thọ phước
báo an vui cõi người, cõi trời rồi hướng đến giác ngộ
giải thoát.
Trai
hội cầu nguyện, nghĩa là nhờ kinh luật này đầy đủ hạnh
nguyện, nên hay làm viên mãn sở cầu của tất cả chúng sanh.
Những
lúc đi làm ăn, nghĩa là nhờ kinh luật này hay phát tài, nên
thành tựu nghĩa lợi, trân bảo cho chúng sanh.
Lúc
hỏa hoạn, nhờ kinh luật này diệt trừ lửa phiền não sân
hận của chúng sanh , huống gì là ngọn lửa của cây cỏ.
Những
khi có tai nạn lụt bão, nghĩa là kinh luật có thể làm khô
cạn sông lớn sanh tử ái dục của chúng sanh, huống gì hoạn
nạn chìm đắm trôi dạt ư ?
Lúc
gió dữ quay cuồng, nghĩa là nhờ kinh luật làm thuyền đại
từ đưa chúng sanh vượt qua biển khổ sang bờ giác ngộ giải
thoát, huống gì các nạn quỷ La-Sát ở nơi sông to biển lớn
mà không vượt khỏi được ư ?
Nhứt
thiết tội báo, nghĩa là tội báo chẳng phải một, nên dưới
đây chỉ nêu một số loại: Tam ác, bát nạn, thất nghịch,
nghĩa là kinh luật này là nền tảng đoạn ác sanh thiện,
nên hay làm cho chúng sanh ra khỏi ba đường ác, sanh vào ba
đường thiện. Hơn nữa, kinh luật này thù thắng, chuyển
họa thành phước, nên hay vượt qua bát nạn, được các phước
báo thù thắng. Lại nữa, kinh luật này là gốc của
hiếu thuận, nên hay trừ được tội báo thất nghịch.
Gông
cùm, xiềng xích, nhờ kinh luật này đủ diệu dụng giải
thoát, nên hay trừ được các khổ trói buộc bên trong bên
ngoài của chúng sanh.
Người
nhiều dâm, nhiều sân si, nhờ kinh luật này hay xuất sanh tâm
thanh tịnh, tâm từ bi, tâm trí tuệ, nên hay diệt được các
tội báo ác hại của chúng sanh trong tam đồ.
Người
nhiều tật bệnh, đoạn trước nói tật bệnh là một thứ
bệnh của khổ. Nay nói nhiều bệnh, thì có bốn đại
chống trái nhau. Các thứ thống khổ, rộng thì có đến
404 bệnh, 84000 trần lao phiền não bức bách. Nay kinh luật
này vốn đủ Tứ đức Niết bàn (thường, lạc, ngã, tịnh),
lưu xuất ra 84000 pháp môn thiện, nên hay trị lành ngàn thứ,
muôn thứ bệnh cho chúng sanh.
Không
như vậy, nghĩa là không tu phước huệ như đoạn trước đã
nêu thì phạm. Nếu sức mình không kham nỗi thì không
phạm.
Từ
giới 31 (Không mua chuộc) đến giới này là 9 giới không tu
phước huệ, cần phải siêng năng học tập, cung kính phụng
trì. Như muốn biết rộng thì hãy xem trong phẩm Phạm
Đàn của kinh này.
Giới
thứ 40
KHÔNG ĐƯỢC
LỰA CHỌN THỌ GIỚI
Là
Phật tử, khi trao giới cho người khác không được lựa chọn.
Tất cả Quốc vương, Vương tử, Đại thần, Bá quan, Tỳ
kheo, Tỳ kheo ni, tín nam, tín nữ, dâm nam dâm nữ, 18 Phạm
thiên, Thiên tử trong sáu cõi trời dục, người vô căn, nhị
căn, huỳnh môn, tôi tớ và tất cả quỷ thần đều được
thọ giới. Tất cả y phục, ngọa cụ đều phải nhuộm
hoại sắc để hợp với đạo, nghĩa là làm cho những màu
như xanh, vàng, đỏ, đen, tía trở thành màu hoại sắc.
Y phục của Tỳ kheo phải khác với y phục của người dân
trong các Quốc độ.
Khi
có người đến cầu thọ giới Bồ Tát, vị Sư phải hỏi
rằng: “Hiện đời này ông có phạm tội thất nghịch không?”.
Pháp sư Bồ Tát không được cho người phạm tội thất nghịch
thọ giới. Thất nghịch gồm: Ác tâm làm thân Phật chảy
máu; giết Thánh nhân; giết Cha; giết Mẹ; giết Hòa thượng;
giết A Xà Lê; phá Yết Ma Tăng, chuyển Pháp Luân Tăng.
Nếu phạm tội thất nghịch thì hiện đời không đắc giới.
Ngoài ra mọi người đều được thọ giới .
Theo
phép của người xuất gia, không lạy Quốc vương, Cha mẹ,
lục thân và quỷ thần. Chỉ cần hiểu lời nói của
Pháp sư đều được thọ giới. Có người từ trăm dặm
ngàn dặm đến cầu pháp, nếu Pháp sư Bồ Tát dùng sân tâm,
ác tâm, không truyền ngay giới Bồ Tát cho họ, thì phạm tội
khinh cấu.
Giải
thích:
Đại
sĩ lấy việc phổ độ làm trách nhiệm, lấy từ bi làm bổn
hoài, có người đến cầu thì không trái ý, không nơi nào
mà không cứu giúp, nên không có tâm lựa chọn. Vì bổn
nguyện bình đẳng, nên không khởi tâm phân biệt sang hèn,
trí ngu của trời người. Tâm địa vốn đầy đủ muôn
pháp nên thâu nhiếp hết thiện tâm, tịnh uế, tăng tục,
cao thấp, huống gì Đại sĩ đem tâm bình đẳng nhìn chúng
sanh, coi họ như con một, lẽ đâu có việc lựa chọn, phân
biệt ư?
Những
màu sắc ở thế gian ưa chuộng có năm màu chính. Người
xuất gia không giống như người thế tục, nên nói đều
phải làm cho hoại sắc để hợp với đạo. Màu xanh
không phải là xanh đậm, xanh lơ mà phải là xanh xẫm.
Màu vàng không phải là vàng rực, vàng lợt mà là màu vàng
pha với đỏ, tức là màu của mộc lan. Màu đen không
phải hoàn toàn như màu quạ đen, hay sắc phục của ngoại