I I. BỐN
MƯƠI TÁM GIỚI KHINH
1.
Nêu chung
Phật
bảo các Bồ Tát: “Ta đã nói xong 10 giới trọng, nay nói
đến 48 giới khinh.”
Giải
thích:
Khinh
cấu, nghĩa là tội này tuy nhẹ hơn mười giới trọng trước,
nhưng năng lực nhiễm ô Bổn nguyên tâm địa cũng không phải
nhỏ. Nếu không gấp cầu sám hối sẽ làm chướng ngại
cho tâm địa, khó thành chánh quả. Nhưng trước khi sám
hối cần phải biết tướng tội kia thuộc về căn bản, tùng
sanh, hay độc đầu.
Nếu
y vào mười giới trọng trước, muốn làm mà chưa thực hiện
nên chưa kết tội nặng. Nếu có tác tiền phương tiện
khinh cấu, ấy gọi là tùng sanh. Nếu lỗi đã gây không
từ mười giới trọng mà sanh, tự riêng khởi, gọi đó là
độc đầu khinh cấu. Nay trong khinh cấu căn bản, lại
có tùng sanh nên lầm lẫn các tội. Nếu trong 48 giới
căn bản khinh cấu cố ý sai phạm, phải sám khinh cấu tội,
phải tác pháp sám tội Đột-kiết-la. Ngoài ra, phạm
lỗi tác tiền phương tiện phi oai nghi, ác tác (thân nghiệp).
Nếu vô tình gây tội, chỉ phạm tội Ác tác, tự trách tâm.
Nên kinh Giới Bổn chép: “Sai phạm đây do tâm nhiễm ô khởi
tội, nên sám hối ác tác, nếu không sám hối thì chướng
ngại giới Bồ Tát.” Khi sám hối cần phải biết đưa
ra phương pháp sám hối thì tội mới tiêu diệt. Bởi
vậy kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Oai Nghi chép: “Nếu có sai phạm,
phải hỏi người biết rõ pháp sám tội ác tác theo Tiểu
thừa hay Đại thừa, để đúng như pháp sám hối.”
Như Tỳ kheo phạm tội Đột-kiết-la (Trung Hoa dịch là Ác
tác), luận về cách sám tội, cần phải tự biết rõ, ở
đây không nêu ra nhiều.
2.
Nêu riêng
Giới
thứ 1
KHÔNG
KÍNH THẦY, BẠN
Nếu
Phât tử lúc sắp lãnh ngôi Quốc vương, ngôi Chuyển luân
vương hay chức quan, trước nên thọ giới Bồ Tát, như thế
tất cả quỷ thần cứu hộ thân vua, thân các quan, chư Phật
đều hoan hỷ. Khi đắc giới rồi, Phật tử nên có lòng
hiếu thuận và cung kính. Nếu thấy có bậc Thượng tọa,
A Xà Lê, những bậc Đại đức, đồng học, đồng hạnh,
đồng kiến đến nhà, phải đứng dậy tiếp rước, lễ lạy,
vấn tấn, mỗi sự đều như pháp mà cúng dường, hoặc tự
bán thân cho đến quốc thành con cái, cùng bảy báu, trăm vật
để cung cấp cho vị ấy.
Nếu
Phật tử sanh lòng kiêu mạn, sân hận ngu si, không chịu tiếp
rước lạy chào, cho đến không chịu y theo pháp mà cúng dường,
Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Sư
trưởng chính là bậc mô phạm của trời người, bậc lương
y mô phạm của thế gian. Giới thân của ta được sanh
ra, trí tuệ của ta được nuôi lớn đều nhờ vào đạo lực
của Sư trưởng, do đó phải biết kính thuận, không trái
bỏ. Nếu ta sanh tâm ngạo mạn sẽ mắc tội lớn như
biển cả.
Bạn
là người có khả năng giúp cho ta vun bồi đức để tiến
tu, các điều thiện do đây mà thành, muôn hạnh nhờ đây
mà tiến. Như người muốn qua biển cả phải nhờ thuyền
buồm, nếu bỏ buồm thì thuyền sẽ bị trôi hoặc chìm.
Thế nên Như Lai dạy phải kính thầy và bạn như Phật.
Đoạn
này nói các vị trước nên lãnh thọ giới Bồ Tát rồi mới
thọ nhận ngôi vị, mục đích để giúp cho người đó trước
nên lập đức để cảm hóa trời rồng, được quỷ thần
ủng hộ, sau vua tôi mới an ổn, đất nước bình an.
Phước của vua tôi, tức là phước của người dân một nước.
Phần
khuyến thọ mười giới, trước để Quốc vương đứng đầu,
sau tổng kết cũng để Quốc vương đứng đầu.
Nay
phần giới khinh này cũng nói đến Quốc vương trước, bởi
vì nếu vua chánh thì thiên hạ chánh, vua tốt thời sĩ thứ
tốt, nên vua phải có sức giáo hóa, có lòng khuyến thiện.
Nếu vua không thọ giới này thì tự mất lợi ích cứu hộ,
lại tự thị mình là cao quý, có khi còn phá hoại Phật pháp,
ngăn cấm các vị đệ tử Phật không cho xuất gia tu đạo.
Giả sử đã thọ giới này rồi, còn sợ rằng tâm kiêu ngạo
kia chưa dứt, không kính người có đức, nên Như Lai đặc
biệt khuyên thọ. Năm chúng xuất gia đều tuân theo giới
luật hành trì, tự mình biết kính thuận, nên đây chỉ nói
sơ lược.
Do
vua và bề tôi quần thần sùng kính Tam bảo mà thọ giới,
được quỷ thần ủng hộ, thân thì khang kiện, cõi nước
an ninh, các tai họa lần lần tiêu dứt, gió thuận mưa hòa,
nhân dân được lợi ích, nên kinh Tâm Địa Quán chép: “Nếu
có bậc nhơn vương thành tựu chánh kiến, đúng như pháp trị
đời, gọi là Thiên chủ, dùng thiện pháp của trời để
hóa độ thế gian. Thiện thần các trời và Tứ thiên
vương thường đến gia hộ, giữ gìn cung vua. Tuy ở nhân
gian mà tu nghiệp lành, tâm thưởng phạt công minh, bậc Thánh
vương như thế gọi là Chánh Pháp vương.”
Trong
kinh Đại Kim Quang Minh có bài kệ rằng:
Do chư Thiên hộ trì
Cũng gọi là Thiên tử
Chủ ba mươi ba trời
Chia sức giúp nhơn vương
Ngàn sao nương ngôi xoay
Trời trăng không trái mùa
Gió
thuận đúng thời tiết
Mưa
tốt thuận thời hành
Tất
cả các thiên chúng
Đầy
khắp nơi cung vua
Nên
nhơn vương các ông
Quên
mình truyền chánh pháp
Đem
pháp dạy chúng sanh
Khiến
cho họ an ổn
Khiến
tất cả thứ dân
Tu
hành mười nghiệp lành
Cõi
nước thường an lạc
Quốc
giới được an ninh.
Chư
Phật hoan hỷ vì tâm địa giới này là ngàn Phật lưu truyền,
vốn trông mong Phật pháp truyền thọ không dứt, nay vua, tôi,
thứ dân kính thuận phụng trì, mọi người làm lành, mỗi
mỗi Phật tử đâu không hỷ lạc ư?
Bậc
Thượng tọa có hai:
1.
Thượng tọa trong chúng Tăng, là người trên, không có ai cao
hơn, nên ở vào trên ngôi vị Hòa thượng A Xà Lê của ta.
2.
Thọ giới trước ta, cho đến trước một giờ, một khắc,
một bóng nắng, ấy là Thượng tọa. Vua Bình Sa xưng Phật
tử là bậc Thượng nhơn, nghĩa là Thượng nhơn này lớn hơn
vua, tôi, thứ dân.
Trong
Kinh Bát Nhã, Phật nói: “Bồ Tát nhất tâm hành đạo vô
thượng Bồ đề, tâm không tán loạn, ấy gọi là Thượng
nhơn.”
A Xà
Lê, Trung Hoa dịch là Quỹ phạm. Quỹ phạm có nghĩa là
Sư, vì người có khả năng, có khuôn phép dạy đệ tử trong
năm chúng xuất gia.
Có
năm bậc A Xà Lê:
1.
A Xà Lê trao mười giới
2.
Yết ma A Xà Lê trao cụ túc giới
3.
Giáo thọ A Xà Lê
4.
Y chỉ A Xà Lê
5.
Dạy kinh giáo A Xà Lê.
Đại
đức là tiếng tôn xưng cho người tu hành có đức hạnh thanh
tịnh.
Đồng
học là đồng do một thầy dạy pháp Đại thừa. Đồng
kiến là tâm cùng chánh giải Đại thừa giáo. Đồng hạnh
là thân đồng tu hạnh Đại thừa, tất cả những vị đến
phải nghinh tiếp và lễ bái, cung kính khiêm tốn, tiến thối
có chừng độ.
Lễ
là lạy. Theo phép lễ thế gian có hai cách lạy: Hai lạy
là tượng trưng cho Lưỡng nghi, bốn lạy là tượng trưng
cho Tứ tượng. Riêng cách lạy ba lạy tiêu biểu cho chí kính
Tam thừa rồi quy y Tam bảo, lìa được Tam độc.
Vấn
tấn là thưa hỏi, trình bày lên. Lễ rồi sắc diện
hân hoan vui mừng, tâm chánh niệm nhìn thẳng, hỏi thăm Ngài
ít bệnh, ít não chăng? Đi đứng an lạc không? Như
Kinh Trì Địa chép: “Đi đứng thong thả, tứ đại điều
nhu, thức ngủ an ổn không?” Như thế, tùy thời thưa
hỏi, việc này không nhứt định. Đây là điều tiêu
biểu tôn kính giới pháp, phụng hành đạo hiếu thuận.
Kiêu
là thân tâm phóng túng. Mạn là ỷ thị khinh người khác.
Si là không phân biệt tôn ti phải quấy. Sân là trong
bốn thứ phiền não trên đây, nếu trong lòng chỉ ôm một
trong bốn tâm, liền đồng thời biểu hiện tướng bất kính,
nên không đứng dậy nghinh tiếp, lễ bái, cúng dường.
Tấn
tu hạnh nghi gọi là cúng, có tâm nhiếp trì giúp đỡ gọi
là dường. Lại nữa, đối với người dưới mến tặng
người trên, gọi là cúng, kẻ dưới giúp đỡ bậc tôn trưởng
gọi là dường.
Tự
bán thân là biểu hiện tâm chí kính, tôn trọng pháp và người
nói pháp, hết lòng thành kính cúng dường. Xưa ngài Thường
Đề Bồ Tát được nghe kinh Bát Nhã, tự phát nguyện bán
tim, gan, tủy, não để cúng dường Đại sĩ Đàm Vô Kiệt.
Trong nhân địa tu hành, Thích Ca Như Lai, khi ấy là một người
nghèo, được nghe kinh Đại Niết Bàn, mỗi ngày cắt thịt
thân mình ba lượng, bán cho một người bệnh ghẻ lác để
họ trị bệnh. Suốt một tháng như thế, Ngài lấy tiền
ấy cúng Phật. Người đời nay, tuy nghèo, nhưng lẽ đâu
không có chút vật, cũng chưa ai chịu bán thân con trai, con
gái. Vì tâm coi trọng tiền tài hơn chánh pháp, nên mắc
tội.
Bảy
báu là vàng bạc, lưu ly, xa cừ, pha lê, mã não, trân châu,
hổ phách, v.v... Trăm vật là số lượng lớn chỉ cho
vật cúng dường. Nếu không cung kính cúng dường như
trên thì phạm tội khinh cấu.
Kinh
Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Dù có nói bao
nhiêu lời mà không nghe, dù có gì hỏi han cũng không thật
đáp, thì phạm trọng cấu tội. Nếu người không có
ý mạn, sân, nhuế, si, mà chỉ do biếng nhác không ghi nhớ,
tán tâm thì phạm tội khinh cấu. Nếu người bệnh khi
nghe pháp, thuyết pháp hoặc trước cùng người khác nói, cho
đến cố ý ủng hộ nhiều người nói pháp thì không phạm
tội.”
Giới
thứ 2
UỐNG
RƯỢU
Là
Phật tử không được cố uống rượu, vì rượu sanh ra vô
lượng tội lỗi. Tự tay trao chén rượu cho người, bị
quả báo năm trăm đời không tay, huống gì tự mình uống
ư? Cũng không được bảo tất cả mọi người và chúng
sanh uống rượu, huống gì tự mình uống?
Tất
cả các thứ rượu, Phật tử không được uống và bảo người
uống, nếu uống hoặc dạy người uống, Phật tử phạm
tội khinh cấu.
Giải
thích:
Rượu
sanh ra các tội lỗi, chẳng những phạm 36 việc mà thôi, nên
nói là vô lượng. Nếu bưng bình rượu trao cho người
uống, còn mắc quả báo năm trăm đời không tay huống gì
tự mình uống, không chịu báo nặng nề ư?
Người
uống rượu si mê điên đảo, sau khi chết phải đọa vào
loài súc sanh, phải làm con ruồi ngu si, đói khổ, cho đến
con giun, con đỉa, cá thu, các loại không tay v.v...
Kinh
Quỷ Vấn Mục Liên chép: “Có một con quỷ hỏi: Tôi một
đời nay không biết đã gây tội gì mà phải chịu quả báo
ngu si?, Ngài Mục Liên trả lời: Khi ngươi làm người,
đem rượu dâng cho người ta, lại còn khuyên ép họ uống,
khiến cho họ điên đảo, nay phải chịu họa báo và quả
báo ở địa ngục.”
Kinh
Chánh Pháp Niệm chép: “Nếu đem rượu tặng Tăng chúng, người
thọ giới, người tu hành tịch tĩnh, người tâm đã tịch
diệt, chứng thiền định, làm tâm đã tịch diệt, chứng
thiền định, làm tán loạn tâm họ, phải đọa địa ngục
kêu gào.”
Hỏi:
Bồ Tát khi hành Đàn Ba-la-mật, có người đến xin rượu
cũng thí cho, vậy là sao?
Đáp:
Bậc Đại sĩ tu Lục độ Vạn hạnh, bố thí khắp cả, hễ
có người đến xin, không trái với ý họ, để họ được
đầy đủ, như Đàn Ba-la-mật tối thượng mà trao.
Kinh
Sở Vấn chép: “Khi Bồ Tát hành Bố thí Ba-la-mật, nếu có
người đến cầu xin vật cần dùng, phải nói: Hãy làm theo
ta thì ta cấp cho. Nếu có người ưa thích rượu, liền
sanh chánh niệm mà cùng họ uống. Sau đó phải khuyên
họ bỏ hẳn. Bồ Tát thanh tịnh như thế, phương tiện
nhiếp thọ chúng sanh. Nếu họ trong lòng ưa thích, không
muốn dứt, thì Bồ Tát liền dùng những lời quở trách và
nói những tai họa do rượu gây nên, nguy hiểm như lưỡi dao
bén, quyết định phải xa lìa, không để cho nuối tiếc tương
tục. Bố thí như thế thì không có lỗi. Đây là
Bồ Tát quán sát căn cơ mà làm, khác hẳn hàng Thanh văn.”
Kinh
Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Bồ Tát vì người mà làm, từ việc
nhận y đến trăm ngàn thứ khác đều theo người cư sĩ không
phải bà con mà xin. Xin y thế nào thì xin bát cũng vậy.
Vì người khác nên xin chỉ và dạy người thợ dệt dệt
y, chứa y Kiêu-sa-gia, thu nhận vàng bạc, cho đến trăm ngàn
việc như thế đều khác với hàng Thanh văn.” Bởi vậy
Kinh Tỳ Ni Quyết Định chép: “Trì giới Thanh văn là phá
giới Bồ Tát, trì giới Bồ tát lá phá giới Thanh văn.”
Hoặc
có người vì lòng riêng, bắt chước Bồ Tát thực hành bố
thí nhưng lại tiếc của, chẳng chịu ban cho, cũng muốn học
hạnh Bố thí viên mãn, chẳng trái ý người xin, nhưng thực
ra là làm bừa, chẳng khác nào khỉ vượn đeo chuỗi ngọc
Anh lạc, rõ ràng chuốc lấy thất bại, lẽ đâu tránh khỏi
được khổ báo ngu si ở địa ngục kêu gào chăng!
Tất
cả mọi người là chỉ cho nam, nữ, già, trẻ, tại gia, xuất
gia, người ở xứ khác, nước khác. Chúng sanh là chỉ
cho phi nhơn và dị loại như quỷ thần, súc sanh, v.v... .
Dạy người, chẳng phải người hay tự mình uống, cả ba
đều phạm tội khinh cấu.
Tất
cả các thứ rượu: như trong giới trọng đã giải thích.
Kinh Luật ghi: “Ăn bã và hèm rượu có thể say, tùy theo mỗi
miếng nuốt vào mà mắc tội, như có bệnh nặng, các thứ
thuốc không thể chữa lành bệnh nên đức Như Lai vì bệnh
khai cho, như trong luật Tỳ kheo và kinh Xá Lợi Phất Vấn nói
rõ.
Hỏi:
Đã sanh vô lượng lỗi, tại sao Nghĩa Sớ ghi: “Không vì
họa hoạn, thảy đều hứa cho?”
Đáp:
Như có thể tránh khỏi lỗi này thì nên hứa. Xưa phu
nhơn của vua Ba Tư Nặc là bà Mạt Lợi theo Phật thọ giới,
lúc vua sắp giết quan đầu bếp, bà liền dùng rượu dâng
cho vua. Vua và phu nhân cùng nhau chung vui hoan hỷ, tâm vui
nên quên việc giết vị quan ấy, hình phạt kia coi như không
có. Sau đó Mạt Lợi phu nhơn đến chỗ Phật cầu xin
sám hối, Phật dạy: “Uống rượu như thế được đại
lợi ích nên không phạm giới.” Giả sử người mới được
nghe lời nói này, mà không biết Mạt Lợi phu nhơn khéo dụng
Quyền hạnh Bồ Tát, bắt chước học đòi làm, thời hậu
quả khó tránh khỏi. Lại nữa, đời nhà Tề có vị
Tăng tên Đàm Hiển, trong lúc say rượu đã tranh biện Phật
pháp với bọn Hoàng Quan, khiến vô lượng Đạo sĩ trở về
quy y Phật, Phật pháp nhờ đây được phát triển mạnh.
Nếu không phải là Quyền hiện Bồ Tát chớ giả dạng thói
ngông, chuốc họa không phải nhỏ.
Giới
thứ 3
ĂN
THỊT
Là
Phật tử, tất cả thịt của mọi loài chúng sanh đều không
được ăn. Luận về người ăn thịt mất lòng từ bi,
dứt giống Phật tánh, tất cả chúng sanh thấy đều tránh
xa, người ăn thịt mắc vô lượng tội lỗi. Vì thế
Phật tử không được ăn thịt mọi loài chúng sanh. Nếu
cố ăn, Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Tất
cả thịt đều do đoạn mạng chúng sanh mà có. Bồ Tát
dùng lòng từ bi làm gốc, lợi ích chúng sanh làm bổn hoài,
từ bi bạt khổ, ban vui, lợi ích độ sanh, hạnh lợi tha rộng
lớn làm lợi ích quần sanh, nếu ăn thịt thì hai hạnh đều
trái, làm sao gọi là bậc Đại sĩ độ sanh?
Cố
ăn, không phải là lầm lỡ mà ăn. Tất cả thịt của
mọi loài chúng sanh, không ngoài các loài cầm thú thủy lục,
không hành, như các loài sò, hến, trai, ốc, thằn lằn, v.v...
. Tất cả loài có mạng sống đều không được
ăn thịt chúng.
Lòng
từ bi là tâm Vô thượng Bồ đề, nếu đoạn dứt tâm này
chính là đoạn dứt hạt giống Phật tánh. Một khi hạt
giống đã dứt rồi thì cội gốc Bồ đề sao có thể thành?
Chúng sanh thấy người ăn thịt thảy đều tránh xa vì tập
khí sát hại chưa dứt. Như chim bồ câu lao mình vào đậu
vai ngài Xá Lợi Phất, nó hết sức run sợ vì tập khí sát
hại của Ngài vẫn chưa hết, huống gì ăn thịt chúng sanh.
Khi hình sắc và tập khí dứt hết thì nó thấy, nó nghe, có
thể không còn sợ hãi tránh xa nữa. Bởi vậy Kinh Lăng
Nghiêm chép: “Thợ săn, đồ tể giăng lưới bắt chim
cá, những người ác này, loài chó thấy cũng kinh sợ, sủa
cắn, các loài thú thấy đều chạy trốn. Người này
khi dứt hơi thở cũng như quỷ La-sát, đến đây ắt sẽ giết
ta. Vì để giữ gìn thân mạng, tất cả chúng đều chạy
trốn, nên nói thấy đều tránh xa.
Tất
cả Bồ Tát là chỉ cho tất cả người sơ phát tâm thọ giới,
dù chưa đăng địa cũng đã đăng vị Bồ Tát địa, tự biết
giữ giới, ăn thịt là vi phạm.
Kinh
Lăng Nghiêm chép: “Phật bảo ngài A Nan: Người ăn thịt ,
giả sử được khai mở tâm, như Tam ma địa, đều là đại
quỷ La-sát, rốt ráo quả báo quyết chắc phải sa vào biển
khổ sanh tử, làm sao có thể ra khỏi ba cõi được?”
Kinh
Lăng Già chép: “Phật bảo Ngài Đại Huệ: Tất cả
chúng sanh từ vô thủy đến nay thường là lục thân quyến
thuộc với nhau, xả báo thân rồi thọ các thân cầm thú.
Bồ Tát thấy chúng sanh đều là thân thuộc, cho đến khởi
từ niệm, tưởng họ như con mình. Tất cả thịt các
loài chúng sanh đều là tinh huyết ô uế tạo thành, người
cầu thanh tịnh làm sao nỡ ăn thịt. Người tu hành từ
bi tâm, trì chú thuật, cầu giải thoát, thú hướng Đại thừa,
nếu ăn thịt thì tất cả người trời cho đến các chúng
sanh cũng tránh xa người ấy.”
Phật
tử nếu ăn thịt, trong giấc mộng cũng không yên, bị ác
quỷ, La-sát đoạt mất tinh khí, bệnh tật ngày càng tăng,
sanh ra các tội lỗi, các công đức đều bại hoại tiêu tan
theo ác nghiệp.
Trong
Kinh có bài kệ:
Không giải thoát sanh tử
Vì giết hại chúng sanh
Lấy tiền mua đủ thịt
Cả hai là ác nghiệp
Chết đọa ngục kêu gào
Phải chịu vô lượng tội
Có
một con quỷ hỏi Tôn giả Mục Liên: “Tôi từ khi sanh ra
đến nay, có rất nhiều con, tất cả đều đoan chánh, đẹp
đẽ đáng ưa, nhưng lại chết yểu. Nghĩ đến sự chia
lìa đó, thống khổ không thể nói, xin hỏi Ngài, không biết
tôi đã gây nên tội gì mà nay phải chịu báo khổ này?”,
Ngài Mục Liên đáp: “Khi ngươi làm người, tâm ưa ăn
thịt, thấy trẻ nhỏ sát sanh thì vui theo và còn giúp cho trẻ
nhỏ cố đoạn mạng chúng sanh, vì ưa sát sanh nên chịu báo
đau khổ, nay thọ họa báo, còn quả báo phải vào địa ngục.”
Như
thế đủ biết, thấy người khác sát hại sanh tâm vui theo
còn mắc quả báo như thế, huống gì tự mình giết hại,
đâu thể tránh khỏi báo khổ.
Giới
thứ 4
ĂN
NGŨ VỊ TÂN
Là
Phật tử, không được ăn loại ngũ tân như: hành, hẹ, tỏi,
nén và hưng cừ. Loại ngũ tân này gia vào trong tất cả
các thực phẩm, đều không được ăn, nếu cố ăn, Phật
tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Ngũ
vị tân, kinh và luật đều gọi là không đồng, phần nhiều
gọi là hành hẹ, tỏi, nén và hưng cừ. Nay kinh này đem
hành chia thành năm thứ, cũng vì mỗi quốc độ có tên gọi
khác nhau.
Tỏi
(Đại toán) còn có tên là Hồ hành, do Trương Khiên đi sứ
ở nước Đại Uyển đem về. Nay vật mà người ta thường
ăn chính là hành của nước Hồ, được mang từ nước Hồ
về. Trong Bản Chương ghi: “Hành nước Hồ là loại
hành lá nhuyễn, đầu nhỏ như tim đèn, tợ cây tỏi lớn
mà hình nhỏ.” Có một loại gọi là Sơn thông, sinh
nơi nước đọng trong núi, cành nhỏ lá to, cũng gọi là Lạc
sơn thông. Ở Tây Vức, tất cả các loại ngũ vị tân
có nhiều thứ, nhiều hình loại chất vị khác nhau, đây không
thể nêu ra hết, chỉ nêu ít loại mà thôi.
Tóm
lại, tất cả các loại có chất vị cay nồng, đều không
được ăn. Nếu hành giả ăn những thứ kể trên, có
tác động kích thích tâm lý, sẽ sanh ý niệm không lành mạnh,
đó là một chướng ngại lớn cho việc tĩnh niệm và hành
thiền. Nếu tu hành tâm không chánh niệm thì con đường
giải thoát làm sao đạt được.
Như
trong Tây Vức Ký chép: “Các nhà Đạo sĩ ở Tây Vức,
nếu người nào dùng ngũ vị tân phải ở riêng một chỗ.
Giả sử có bệnh nặng, theo lời của thầy thuốc thì tạm
dùng. Luật khai cho phải ở riêng chúng, phòng cá nhân
biệt lập, sau bảy ngày xong rồi, phải tắm gội sạch sẽ,
thay đổi y phục, mới cho vào chung ở với chúng Tăng.”
Kinh
Lăng Nghiêm chép: “Ăn các thứ ngũ vị tân chất vị cay nồng
có năm lỗi:
1.
Ăn chín phát sanh tâm dâm, ăn sống phát sanh tâm sân.
2.
Dù có thể nói mười hai bộ kinh nhưng các vị Trời và Tiên
trong mười phương chê bai mùi xú uế kia, nên tất cả họ
tránh xa.
3.
Bị các ngạ quỷ liếm môi mép, thường cùng ở chung với
quỷ ác.
4.
Phước đức mỗi ngày mỗi tiêu dần, không lợi ích gì cho
cưộc sống.
5.
Bồ Tát và các thiện thần trong mười phương không đến
ủng hộ. Đại lực quỷ vương thừa cơ hội đó, hiện
làm Phật thân, ở trước mặt nói pháp, chẳng phải nói chê
người hủy cấm giới của Phật mà quỷ vương tán thán khen
ngợi tam độc “tham, sân, si”. Người ăn ngũ vị tân
này sau khi mạng chung luôn luôn làm quyến thuộc của chúng,
thọ báo quả kiếp ma hết rồi đọa vào Vô gián địa ngục.
Nay do tâm dâm kia làm tăng trưởng tâm sân nhiễm ô “tâm
địa giới”, các bậc Thánh, Hiền thảy đều xa lìa, nên
kết tội khinh cấu. Cuối cùng đọa Địa ngục A Tỳ.
Giới
thứ 5
KHÔNG
DẠY NGƯỜI CÓ TỘI SÁM HỐI
Là
Phật tử khi thấy người phạm những tội như: Ngũ giới,
Bát giới, Thập giới, phá giới, phạm Thất nghịch, Bát nạn,
v.v... phải khuyên bảo người ấy sám hối. Nếu
Phật tử chẳng khuyên bảo người phạm tội sám hối lại
đồng ở chung đồng sống chung, đồng bố tát, đồng thuyết
giới, không cử tội người ấy, không nhắc sám hối, Phật
tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Tất
cả chúng sanh là trời, rồng , bát bộ, nhơn, phi nhơn, v.v...,
người đã thọ giới Đại thừa, Tiểu thừa của Phật.
Giả sử người không thọ giới mà có hành vi làm ác, làm
việc phi pháp hay khuyến dụ người làm ác, phải liền dùng
phương tiện quở trách, can gián, khiến cho họ dứt ý niệm
hành vi xấu và hối lỗi kia.
Bát
giới chính là tám pháp trai giới và tám giới trọng.
Trong kinh Địa Trì gọi là sát, đạo, dâm, vọng, hủy, não,
sân, báng. Ngũ giới là năm giới của cận sự nam và
cận sự nữ. Thập giới là mười thiện giới của ba
nghiệp thân, khẩu, ý và mười giới của Sa-di.
Hủy
cấm giới là người đó sai phạm, hủy giới cấm của Phật
mà mình đã lãnh thọ. Cấm là ngăn cấm. Đức Như
Lai chế giới là để ngăn cấm tâm chúng sanh phóng túng theo
trần cảnh, răn nhắc câu thúc thân khẩu ý nghiệp, nên cấm
tức là giới. Giới phẩm tuy nhiều, nhưng không ngoài
Đại thừa, Tiểu thừa (Thanh văn giới và Bồ Tát giới).
Đại thừa, tam tụ chánh giới. Tiểu thừa, Bạch tứ
Yết ma giới. Thất nghịch sau sẽ nêu ra.
Bát
nạn tức là tám nạn:
1.
Địa ngục
2.
Súc sanh
3.
Ngạ quỷ
4.
Trường thọ thiên
5.
Bắc-câu-lô-châu
6.
Mù, điếc, câm, ngọng
7.
Thế trí biện thông
8.
Sanh trước Phật, sau Phật.
Tám
nạn này đều là chướng ngại đạo giải thoát. Vì
không được gặp Phật nghe pháp nên gọi là nạn. Nhưng
tám việc này đều do đời trước hành giả phạm giới mà
gây ra, Phật dạy cho họ sám hối để khỏi mắc quả báo
về sau. Nếu đời này phạm giới gây tội, đời sau
ắt phải chịu báo khổ. Tám nạn này nên dạy cho họ
phải sám hối. Như tạo các nghiệp sát sanh, trộm cắp,
dâm dục, v.v... tất nhiên phải chịu báo khổ ở tam đồ
(địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Tu theo ngoại đạo vô
tưởng định, thời chịu quả báo năm trăm đời ở cõi Trường
thọ thiên, không biết gì đến Tam bảo. Gây phước báo
ở thế gian, thời cảm nhận phước báo ở Bác-câu-lô-châu.
Tâm sanh tà kiến, không ưa nghe Phật pháp, thọ báo câm ngọng.
Không tin Tam bảo, hủy báng Pháp sư, phải chịu quả báo câm,
mù, điếc. Không tin pháp xuất thế gian, đắm trước
mùi vị thế giáo, nên cảm thọ báo Thế trí biện thông (không
tin chánh giáo và nhơn quả tội phước). Nghiệp nặng
phước mỏng, không gặp Phật nên sanh ra trước Phật hoặc
sau Phật.
Kinh
chép: “Hủy báng Tam bảo, khinh hủy Thánh đạo, luận bàn
hay dở, tốt xấu của người khác, tìm kiếm những điểm
kém dở của người, lấn hiếp, vu khống người lương thiện,
ghét ganh người hiền lương, thọ báo câm, ngọng, đui, điếc.”
Kinh
Vấn Địa Ngục chép: “Cha mẹ và Sư trưởng gọi mà không
trả lời, phải đọa trong loài ngạ quỷ điếc ở địa ngục,
thường bị bàn chải áp sát lưỡi tội nhơn, trải qua hai
trăm năm, sau được sanh làm người câm điếc.” Thế
nên phải dạy họ ăn năn, sám hối để khỏi khổ báo về
sau. Tất cả tội đã phạm dù khinh dù trọng, dù tánh
tội, giá tội, đều dạy cho họ biết hổ, biết thẹn, như
pháp sám hối, để không gây tội ác một ngày một thêm,
đời sau phải đọa vào tam đồ vì phỉ báng pháp môn, trái
với hoằng nguyện hộ pháp lợi sanh của Đại sĩ.
Đồng
trụ nghĩa là cùng ở trong một đại giới tu hành. Đồng
lợi dưỡng là cùng một tăng đoàn, cùng thụ hưởng thí
chủ lợi dưỡng, cúng dường.
Bố
tát nói đủ là Bố sái đà. Bố sái là trưởng dưỡng,
Đà là tịch trừ, nghĩa là mỗi nửa tháng nhóm chúng
thuyết giới, liền có thể nuôi lớn pháp lành, tự tâm thanh
tịnh, trừ các niệm bất thiện, cấu uế.
Một
chúng thuyết giới nghĩa là đồng trong một giới, tất cả
chúng Tăng, nửa tháng đồng bố tát thuyết giới, hoặc trong
một đại giới có hai trụ xứ, đồng một thuyết giới mà
riêng lợi dưỡng , vì nay không có trường hợp trên nên nói
đồng lợi dưỡng, một chúng thuyết giới.
Không
nêu tội họ mà chỉ có thấy, nghe, nghi ba căn, liền phải
chỉ chỗ sai phạm của họ, dạy bảo nhắc nhở, khiến cho
họ sám hối. Không cử tội, không nhắc nhở, không dạy,
cùng Tăng hưởng lợi dưỡng, lạm dụng thọ của tín thí,
thậm chí khiến cho họ mắc tội càng nhiều, lại trái với
từ tâm, bi tâm, hộ tâm của Bồ Tát, nên tự mình mắc tội.
Kinh
Niết Bàn chép: “Có Tỳ kheo trì giới, thấy người phá hoại
chánh giới liền đuổi đi, quở trách trị phạt nhẹ.
Phải biết người này được vô lượng phước, không thể
tính kể. Nếu không quở trách đuổi đi hoặc cứ tội,
phải biết người này là oán cừu trong Phật pháp. Nếu
hay quở trách và đuổi đi, là đệ tử của Ta.”
Kinh
Ưu Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép” Bồ Tát là gương mẫu cho
nhiều người, thấy quyến thuộc làm điều không đúng.
Pháp sư nên quở trách và đuổi đi. Nếu gặp người
sân tâm và ác tâm, không quở trách, trị phạt thì Bồ Tát
phạm tội khinh cấu.”
Kinh
Ưu Bà Tắc chép: “Thà thọ ác giới một ngày, đoạn mất
vô lượng mạng căn của chúng sanh, trọn không nuôi dưỡng
đệ tử ác. Đệ tử tệ ác không thể điều phục được,
vì cớ sao? Vì đây là ác luật nghi, tai ương tự chuốc
vào thân không thể giáo hóa răn dạy đệ tử lỗi lầm, mới
khiến cho vô lượng chúng sanh tạo tội lỗi, hay phỉ báng
chánh pháp.” Lại nữa, trong kinh Thiện Giới chép: “Bọn
người Chiên Đà La cho đến đồ tể, tuy làm nghiệp ác mà
không phá hoại chánh pháp của Như Lai, quyết không phải đọa
trong ba đường ác, còn làm thầy mà không răn dạy đệ tử
khi có lỗi sái quấy, thời phá Phật pháp, chắc chắn phải
đọa địa ngục.” Bởi vậy, khi nêu tội họ, không
được gấp rút vội vàng, cần phải hướng đến các bậc
hữu đức trì giới ở trước người đó mà cử tội.
Trong
Luật Tỳ Kheo, Phật dạy: “Muốn cử tội người khác, trước
hết phải theo họ cầu thỉnh. Đại sĩ phải dùng từ
tâm, nói lời nhu nhuyến, nhẹ nhàng răn dạy họ, khiến cho
người phạm sanh tâm biết hổ thẹn để quy phục. Nếu
không như thế mà hướng người khác nói thì đồng với bọn
người trước.”
Luật
Tăng Kỳ chép: “Khi cử tội, không được hướng người
khác cử, phải hướng đến vị Thiện Tỳ kheo cử tội.
Nếu vị Tỳ kheo phạm tội, tánh hung bạo hoặc ỷ vào thế
lực vua quan, thế lực hung ác của người ấy đều là nhơn
duyên sanh khởi tâm đoạt mạng người khác.” Tự thương
tổn phạm hạnh nên khởi niệm này, hành nghiệp tội ắt
phải tự thọ báo quả, họ tự phải biết, dụ như lửa
cháy, chỉ tự cứu lấy thân, đâu biết việc khác. Bấy
giờ chỉ cần giữ gìn căn bản tâm tướng vô tội.
Kinh
Địa Trì chép: “Nếu Phật tử, Bồ Tát, thấy các chúng
sanh đời này, đời sau tạo ác nghiệp, do tâm hiềm hận,
không vì chánh pháp nói, ấy là phạm. Nếu người không
trí hiểu biết, hoặc không có khả năng, hoặc sai người
có thế lực, có khả năng nói, hoặc phương tiện khiến họ
điều phục, nếu khi ta thật lòng cử tội họ, mà họ có
tâm hiềm trách ta, hận thù ta, như thốt ra lời ác bảo rằng,
thọ pháp điên đảo, hoặc không tâm ái kính; nếu họ tánh
hay lãng quên, bất định thì không phạm. Hoặc thấy
người phạm lỗi đáng quở trách, đáng trị phạt nên diệt
tẩn, mà không quở trách, không diệt tẩn, không trị phạt,
như thế là phạm tội khinh cấu. Nếu không trị phạt
người đó, thì không nên nói chuyện với họ, không nên răn
dạy nhắc nhở hay khởi tâm hiềm trách giận hờn. Nếu
sợ khởi việc tranh cãi hoặc thưa kiện nhau hoặc phá hoại
tăng chúng, phải quán sát, thì không phạm.”
Giới
thứ 6
KHÔNG
CUNG CẤP, THỈNH PHÁP
Là
Phật tử, khi thấy Pháp sư Đại thừa hoặc những người
đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Đại thừa, từ trăm
dặm, ngàn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành ấp,
phải đứng dậy rước vào, lễ bái; ngày ngày ba thời cúng
dường các thứ cần dùng như đồ ăn uống, giường ghế,
thuốc men, tất cả đồ cần dùng dù đáng giá ba lượng vàng
đều phải cung cấp cho Pháp sư. Mỗi ngày sáng, trưa
và chiều thường thỉnh Pháp sư thuyết pháp và đảnh lễ,
không hề có lòng sân hận buồn rầu, luôn thưa thỉnh pháp
không mệt mỏi, vì Pháp quên thân. Nếu Phật tử không
như thế thì phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Trước
nêu Pháp sư Đại thừa, sau nêu đồng học, đồng kiến, đồng
hạnh Đại thừa, ba bậc bạn hữu để làm thầy bạn Đại
thừa. Pháp sư là người thông suốt tánh tướng kinh
luật Đại thừa, nhẫn đến có khả năng giáo hóa chúng sanh
khiến họ vào Phật địa.
Trăm
dặm, ngàn dặm là nói xa để nhiếp gần, nghĩa là xa mà còn
cung thỉnh, huống gì ở gần ư?
Ba
thời cúng dường nghĩa là từ lúc mặt trời mới mọc cho
đến cuối giờ thìn, đầu giờ tỵ là đúng ngọ.
Ba
lượng vàng và trăm vị là nói lên sự cung kính tột bậc
mà không có bỏn xẻn, biếng nhác, kiêu mạn. Người
thọ nhận của cúng dường sanh lòng hổ thẹn, mới tiêu của
tín thí.
Trong
Tông Cảnh ghi: “Nếu người học Đại thừa Phật pháp, thọ
nhận món ăn của thí chủ nặng như núi Tu di: thọ nhận y
phục của thí chủ có thể trải khắp trái đất, nếu người
không học, chưa vào hàng Tăng chúng, thì khắp mười phương
không có chỗ để nhổ nước miếng.”
Ngài
Vĩnh Gia nói: “Nếu người được sức giải thoát, không
thể nghĩ bàn, hằng Sa-diệu dụng, nhận tứ sự cúng dường,
tiêu vạn lượng vàng ròng, thân nát xương tan, cũng chưa đủ
để đền đáp, nhưng chỉ cần thấu tỏ một câu liền vượt
qua trăm ức. Tuy là như thế, nhưng biết thọ dụng vừa
đủ mới không mắc lỗi. Bởi vì, người cung cấp trước
là tự phát tâm cúng dường, còn sợ chưa đủ, nay theo sự
cần dùng của thầy và bạn không nên trái ý niệm của họ,
phải hết lòng cung cấp, tức là nói đến việc cúng dường
ân cần.
Thường
thỉnh là nói rõ chẳng phải một ngày hay một thời gian mà
thôi.
Ba
thời là trước giờ ngọ, sau giờ ngọ và tối. Ba thời
lễ bái là nói tinh thần ưa pháp không tâm giải đãi, không
nên thấy chút lỗi của Pháp sư mà sanh tâm sân, không nên
hiềm chán lo lắng, phí tài sản sanh tâm buồn rầu, thân còn
phải xả lìa, phải hoại diệt, đâu vì nản lòng lao nhọc
về việc cung cấp Pháp sư mà sanh tâm thối thất.
Nhơn
địa tu hành của Như Lai xả thí toàn thân để cầu nửa
bài kệ, khoét thân thể làm ngàn lỗ đốt đèn để thỉnh
Pháp sư nói pháp, thí vợ con cho quỷ Dạ xoa ăn thịt, vì
muốn nghe pháp yếu. Nên ngài Phổ Hiền Bồ Tát bảo
Thiện Tài đồng tử rằng:” Trong pháp hội của ta, không
có một câu văn, không phải xả thí ngôi vị Chuyển luân
vương và tất cả vật sở hữu mà cầu được pháp này,
huống gì vật ngoài thân ư?” Nếu tiếc thân, tiếc
của thì không phải hạnh nguyện của bậc Đại sĩ vì pháp
quên mình, lại trái với bổn tâm hiếu thuận cung kính giáo
pháp nên phạm.
Kinh
Viên Giác chép: “Chúng sanh ở đời mạt, muốn tu hành phải
nên hết lòng trọn đời cung kính cúng dường thiện hữu
tri thức. Phật tử muốn đến thân gần thiện hữu tri
thức ấy, phải dứt tâm kiêu mạn. Nếu thiện hữu tri
thức đi phải dứt tâm sân hận, quán cảnh thuận hay nghịch
cũng như hư không, rõ biết tự tâm rốt ráo bình đẳng, cùng
với chúng sanh đồng thể không khác, tu hành như thế mới
vào được cảnh giới Viên Giác.”
Sớ
ghi: “Phàm thiện hữu tri thức độ người dùng các thứ
phương tiện, tâm thầy trò khế hợp, mới truyền trao y pháp.”
Bởi vậy, ứng cơ tiếp vật, nên Đại sĩ rủ lòng thương
xót, thường gần gũi chúng sanh. Người ngu không biết,
thường sanh tâm kiêu mạn. Kiêu mạn che tâm thì không
thể nào vào đạo, nên nói cần phải đoạn kiêu mạn.
Nếu
gặp duyên khác, phải xa cách nhau liền sanh tâm sân hận, mới
nói thân sơ, ta người, yêu ghét, đã sanh một niệm sân thì
trăm ngàn muôn chướng đều sanh khởi, chẳng cần luận bàn
lỗi của đạo cũng đọa vào tam đồ, nên nói phải dứt
tâm sân hận. Xét trong kinh Thí Dụ và các kinh khác, Tôn
Giả A Nan trong thời quá khứ từng làm đứa trẻ bán hương,
thấy một Sa-di đi khất thực, miệng tụng kinh kệ, nhân đó
hỏi Sa-di, Sa-di đáp: “Thầy tôi ở trong núi học đạo và
tu đạo, dạy tôi mỗi ngày lo kiếm một thăng gạo và tụng
một bài kệ, nên tôi làm như vậy”, đứa trẻ lại hỏi:
“Nếu không kiếm được gạo, mỗi ngày tụng bao nhiêu kệ?”
Sa-di đáp: “Có thể tụng được mười kệ”, đứa trẻ
nói:”Từ nay về sau đừng đi khất thực nữa, tôi sẽ đi
xin thay cho” Sa-di vui mừng vì được yên tĩnh tọa thiền
và học đạo. Đến khi đứa trẻ xin được chín đấu gạo,
thử nghiệm kinh kệ của Sa-di, thấy Sa-di thảy đều thuộc
làu. Do phước báu này, đời sau đứa trẻ được gặp
Phật, làm đệ tử đệ nhứt Đa văn, đầy đủ tam minh, lục
thông, được Phật truyền tâm ấn. Phải biết cung cấp
cho Sa-di trì kinh, còn cảm được thắng báo như thế, huống
gì cúng dường bậc Sư trưởng, thiện hữu Đại thừa, thì
phước báo thù thắng mà người hay thuyết pháp có được,
ai có thể suy nghĩ luận bàn!
Giới
thứ 7
GIẢI
ĐÃI KHÔNG NGHE PHÁP
Là
Phật tử hàng tân học Bồ Tát, phàm chỗ nào có giảng kinh,
luật, phải mang kinh luật đến chỗ Pháp sư nghe giảng và
thưa hỏi, hoặc trong núi rừng, vườn cây, chùa, nhà, v.v...
tất cả chỗ thuyết pháp đều đến nghe giảng, học hỏi.
Nếu Phật tử không đến nơi ấy nghe pháp và thưa hỏi thì
phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Giới
trước nói Pháp sư đến, ta thưa thỉnh được lợi ích, giới
này Pháp sư ở chỗ khác, ta nên đến đó nghe giảng, học
hỏi. Giảng pháp là nói chung, thuyết pháp luận bàn nghĩa
lý. Luật, tiếng Phạn gọi là Tỳ Ni, Trung Hoa dịch là
Diệt, nghĩa là diệt trừ ba ác nghiệp (thân, khẩu, ý), còn
gọi là Thiện trị, nghĩa là khéo hay tự trị dâm, nộ, si,
cũng hay trị ác nghiệp cho chúng sanh. Đây đều từ công
năng đặt tên, chẳng phải chánh dịch. Chánh dịch là
luật, luật là pháp, đây từ Giáo đặt tên, nghĩa là xử
đoán, khinh, trọng, khai, giá, trì, phạm, phi pháp, bất định.
Tỳ,
Trung Hoa dịch là Khử. Ni, Trung Hoa dịch là Chơn, nghĩa
là bỏ những gì phi pháp, sái quấy mà còn lại chơn thật.
Chơn tức là bổn nguyên tâm địa. Kinh luật đều gọi
là Tỳ Ni, vì kinh tức là Phạm Võng giới kinh; luật là Tâm
địa pháp luật và các giới tạng của Bồ Tát.
Lại nữa, tất cả kinh điển Đại thừa, có nghĩa là diệt
ác sanh thiện, nên cũng đồng gọi là Tỳ Ni.
Tân
học nghĩa là hàng Đại sĩ mới thọ Tâm địa giới, việc
học chưa xong, không biết quý trọng pháp, tự sanh tâm kiêu
mạn, biếng nhác, đánh mất lợi ích lớn, hàng ngày không
tấn tu, vùi lấp tâm địa, nên đặc biệt khuyên nhắc cố
gắng, nếu không thì mỗi ngày đều phạm tội khinh cấu.
Xét
trong Kinh Trì Địa, không cần nói xa hay gần, còn trong Ưu
Bà Tắc Giới Kinh nói: “Cách nhau khoảng một do tuần, thì
không phạm.” Vì người tại gia, bao nhiêu công việc
câu thúc thân, không thể đi xa nghe pháp được. Người
xuất gia không bị hệ lụy, chuyên tâm huân tập Phật pháp
làm sự nghiệp, sợ xa không đến được chính là tự biếng
nhác, kiêu mạn, không có tâm trọng pháp nên phạm. Người
lãnh thọ giới pháp siêng năng đi nghe giảng và thưa hỏi.
Nghe là dùng nhĩ thức lắng nghe, thọ nhận. Thọ nhận
là dùng tâm lãnh nạp đây chính là văn huệ và tư huệ.
Hỏi tức là thưa hỏi, nghe rồi tư duy sâu sắc, tư duy mà
không thông đạt thì hỏi lại. Mối nghi được giải
thích liền nương đó tiến tu, thể nhập pháp môn tâm địa
của Đại thừa.
Trước
nói, tất cả chỗ là chỉ chung chỗ Tăng và tục ở; kế
nói nhà ở rộng lớn là chỉ cho vương cung, nhà quan, nhà
thế tục, nhà đàn việt, nơi thỉnh Pháp sư giảng kinh.
Nay nói, tất cả chỗ thuyết pháp nghĩa là người xuất
gia ở trong núi, dưới gốc cây, chốn lan nhã yên tĩnh, Tăng
già lam, v.v... các chỗ như vậy, nếu Phật tử không đến
đó nghe giảng thọ học, không phải coi thường người, coi
thường pháp mà chính là giải đãi nên mắc tội.
Kinh
Bồ Tát Giới Bổn chép: “Hoặc bệnh, hoặc không có sức
khoẻ, biết người ấy nói tráo trở lộn xộn; nếu biết
những điều người ấy nói là điều mình thường nghe, hoặc
đã nghe nhiều rồi ghi nhớ, hoặc tu thiền định không muốn
lãng phí thời gian, không đến thì không phạm.
Giới
thứ 8
TRÁI
VỚI ĐẠI THỪA HƯỚNG VỀ TIỂU THỪA
Nếu
Phật tử có quan niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường
trú, cho rằng không phải của Phật nói ra, mà đi thọ trì
kinh điển tà kiến và tất cả cấm giới của Thanh văn Nhị
thừa cùng ngoại đạo ác kiến, Phật tử này phạm tội khinh
cấu.
Giải
thích:
Quan
niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường trú, nghĩa là
cho rằng Đại thừa giáo không được siêu việt, nên trái
bỏ (bỏ Đại hướng Tiểu); giáo pháp của Tiểu thừa ngoại
đạo thù thắng thực tế hơn, nên hướng đến (bỏ Đại
hướng ngoại đạo).
Kinh
luật Đại thừa, từ Xá Na tâm địa lưu xuất, tánh vốn
thường trú, không sanh, không diệt, không biến đổi, đây
chính là nhứt thật giáo mà Như Lai diễn nói, chứ không phải
pháp phương thiện quyền xảo, tùy việc mà chế.
Hàng
phàm phu sơ học Bồ Tát, không rõ được Đại thừa, Tiểu
thừa, chánh tà ra sao, nên nghi kinh luật Đại thừa chẳng
phải Phật nói ra.
Nói
là tâm, vì tâm muốn trái bỏ mà ý niệm chưa quyết định,
miệng muốn nói mà lời chưa mở, lòng còn hoài nghi, nên phạm
tội khinh cấu.
Nếu
tâm hướng đến sự trái bỏ đã thành tựu, thì liền mất
giới, hoặc lời hủy báng đã thốt ra, gây hại người khác
thì phạm tội khinh cấu.
Nhị
thừa tức là Thanh văn và Duyên giác. Thanh văn do nghe
pháp Tứ Thánh Đế, chứng quả vô sanh, nên gọi là quả Thanh
văn. Duyên giác do quán pháp mười hai nhân duyên (quán
hoa rơi lá rụng), không có thầy mà tự ngộ, gọi là Duyên
giác (tiếng Phạn là Bích Chi Phật).
Hỏi:
Đã từ Như Lai nghe giáo chứng đạo, tại sao gọi là Ác kiến?
Đáp:
Đức Như Lai quán sát biết họ căn cơ hạ liệt, trí cạn,
chưa kham lãnh thọ Đại pháp, nên phương tiện tạm chỉ bày
tiểu giáo. Họ nghe tiểu giáo liền sanh tâm nhàm chán
sanh tử, đoạn dứt nhân khổ, ham quả tịch diệt của Nhị
thừa, tu 37 phẩm trợ đạo, để cầu thủ chứng đắc.
Như không biết pháp Đại thừa thường trú, xả bỏ tâm địa
đại giới này, đi thọ trì đạo pháp cấm giới của Thanh
văn, cũng không chứng đắc viên mãn cụ túc, nên Kinh Niết
Bàn chép:”Hàng A La Hán không biết Tam bảo thường trú bất
biến, dù có cấm giới cũng không được cụ túc viên mãn,
không đắc đạo Thanh văn được, thế thì trái với thú hướng
và ý chí của hành giả, cả Tiểu thừa và Đại thừa đều
mất.”
Đại
Luận ghi:”Thà khởi tâm làm con giã can ghẻ lỡ, chứ không
sanh tâm thú hướng Nhị thừa.”
Tâm
hung dữ là xấu ác, thân bệnh hoạn ghẻ lác, cũng không sanh
niệm thú hướng Nhị thừa. Như kinh đã ghi: “Thà đọa
đường ác mà được nghe tên Phật chứ không mong trường
sanh bất tử ở cõi trời.”
Tất
cả cấm giới, nghĩa là các giới hàng ngoại đạo thọ trì
như: giới thờ bò, chó, ngựa, gà, v.v... Do kiến chấp của
hàng ngoại đạo, họ cho rằng nếu tu khổ hạnh, sau khi xả
báo thân sẽ được sanh vào cõi trời, hưởng phước lạc
an vui, nên bắt chước thực vật (như cây cỏ) cam nhận ăn
đồ phấn uế, tôn thờ thần lửa, thần gió, v.v... hoặc
hớp không khí, hoặc đi một chân, hoặc chích đốt năm lỗ
trên thân mình, hoặc tự đốt thân, hoặc bôi tro bụi lên
thân thể, nằm lõa hình, v.v... cho rằng định tĩnh tu hành
hết khổ được vui; đến như đời mạt, uống nước lã,
giữ chay tịnh, cho rằng đã tẩy trừ ngũ trược; hoặc nhịn
đói 7 ngày, cho rằng không tịch, tứ đại gặp mùa đông
lạnh, mùa hạ nóng, cho rằng lạnh nóng không còn xâm hại
được đến thân. Họ tự thọ cấm giới tà kiến như
thế, nếu chẳng phải ngu si thì cũng để mê hoặc người
khác. Lại khởi lên các thứ vọng chấp, tạo lập ra
các thứ sách vở, ấy là kinh luật tà kiến. Giới này
ý Phật chế để ngăn cấm, nhắc nhở các Đại sĩ nếu trái
chánh nhân tâm địa thì sẽ mất cực quả thành Phật, nếu
học giáo pháp Nhị thừa, đoạn dứt Kiến hoặc và Tư hoặc
để cầu chứng đắc Niết bàn, đốt thân diệt trí thì vĩnh
viễn không thể thực hiện đại dụng lợi tha, nên Phật
quở trách là ác kiến, ác nhân, chẳng phải nói giới Thanh
văn không thể thọ trì.
Luận
về tâm, thì Đại thừa và Tiểu thừa cần phải phân minh
rõ ràng, nên nói: “Nếu khởi tâm một niệm Nhị thừa giáo
thì phạm tội khinh cấu.”
Luận
về giới, thì Đại thừa và Tiểu thừa đồng hành trì, nên
kinh Niết Bàn chép: “Nghĩa của năm thiên bảy tụ, đều
là luật nghi của Bồ Tát xuất gia.”
Phụ
Hành Sự Sao chép: “Hàng Bồ Tát xuất gia có 6 phép hòa và
10 điều lợi ích giống hàng Thanh văn, còn sáu pháp Ba-la-mật
và bốn Hoằng thệ nguyện thì khác với hạnh của Tiểu thừa.”
Như
hàng Bồ Tát tại gia thì Tam quy, Ngũ giới đều thú hướng
đến Bồ đề tâm, huống gì kinh Phạm Võng nói 84000 oai nghi,
bảy chúng đệ tử Phật đều nương tựa, chúng sanh trong
năm đường đều lợi ích, thì đâu thể chứa kẻ phá giới,
mà xưng là Phật thừa.
Kinh
Bồ Tát Giới Bổn chép: “Nếu khởi lên lời nói như thế
thì Bồ Tát không nên nghe pháp Thanh văn, cũng không nên thọ
học.” Bồ Tát nếu không ứng dụng pháp Thanh văn làm phương
tiện quyền xảo thì phạm tội, vì sao? Vì Bồ Tát còn
học dị luận của ngoại đạo, huống gì pháp Thanh văn là
lời Phật dạy. Nếu Bồ Tát có chuyên chú học Bồ Tát
tạng, nhưng chưa được hoàn mãn thì không phạm.
Kinh
Địa Tạng Thập Luận chép: “Phật nói: Nên tu học tất
cả Tam thừa giáo, không nên sanh tâm kiêu mạn, dối gọi là
Đại thừa, hủy báng pháp của Thanh văn, Duyên giác thừa.
Ta trước vì hàng căn cơ Đại pháp khí mà tâm kiên cố tu
hành nên nói lời như thế, còn nếu chỉ tu pháp Đại thừa,
thì có thể được cứu cánh, bởi vì xưa và nay không trái
nhau.”
Như
Khế Kinh chép: “Vì muốn sách tấn họ tu hành kiên cố, khi
họ đã tập pháp Tiểu thừa rồi thì nên khiến họ thú hướng
đến Đại thừa giáo, không nên trách họ bỏ Đại hướng
Tiểu, nhưng cũng không nên nói rằng pháp Thanh văn là tầm
thường phải bỏ.” Nếu người có tâm hổ thẹn, chỉ
e rằng hành trì còn không kịp huống gì lại chê bai.
Do thế, người xuất gia trong 5 nước Thiên Trúc, trước hết
đều học Tiểu thừa, sau mới học Đại thừa, để giúp
họ biết nhơn quả tội phước thì mới tránh khỏi lỗi,
bỏ có chấp không, biết rõ nguồn gốc thứ lớp giáo điển
mới không lầm tu và vọng chứng. Đây sợ rằng bậc
sơ cơ mới học đạo, trí hiểu biết còn cạn hẹp, chưa
hiểu thấu mật ý của Như Lai, mới nghe Phật nói các
pháp như huyễn, không thật, liền sanh tâm nhàm chán, cầu
chứng đắc Niết Bàn. Tâm thủ xả sanh khởi, trái với
phương hướng tu tập Phật đã dạy, dối vọng cho là phù
hợp ý chỉ kinh điển là tự mình trói buộc mình trong nhiều
kiếp. Nếu người nào chê giới Thanh văn không thọ thì
đừng cạo tóc, mặc y hoại sắc, tác tướng Sa môn, mà nên
để râu, để tóc dài, làm người thế tục, hành Bồ Tát
đạo. Nếu ham mộ tướng kia mà bỏ giới luật, giả
mạo vào trong pháp môn, cùng với Tăng chúng đồng sự để
yết ma bố tát, thì gọi là Tặc trụ (tội này cùng với
ngũ nghịch tội ngang nhau, sau không được thọ cụ túc giới,
vì tổn hại Phật pháp chẳng phải ít, nên cần phải suy
nghĩ).
Ngài
Ma Ha Ca Diếp, đệ tử lớn trong hàng Thanh văn của Phật,
thọ trì 250 đại giới và hành 12 hạnh đầu đà, nguyện
trọn đời không xả, vì sao đức Như Lai khi sắp nhập Niết
bàn, đem chánh pháp nhãn tạng phó chúc cho Ngài mà không phó
chúc cho ngài Di Lặc và Văn Thù Bồ Tát? Vì Bồ Tát đã
có tâm tùy loại hóa sanh, hóa hiện không nhứt định, còn
hàng Thanh văn là hàng trụ trì Tam bảo ở thế gian, nhờ đó
mà Phật bảo và Pháp bảo hoằng dương, làm chỗ nương tựa
cho trời, người.
Nên
biết giới đức, trọng trách gánh vác chẳng phải thường,
nếu coi thường giới Thanh văn, không hành trì thì mất ngôi
Tăng bảo. Khi Tăng bảo mất thì Phật bảo và Pháp bảo
cũng mất luôn (kinh nói nhơn năng hoằng đạo là vậy), huống
gì giới có công năng dứt ác sanh thiện. Hành trì một
giới ngăn dứt được một ác nghiệp, sanh vô lượng thiện
pháp, thế nên, hai vạn năm ngàn sông phước thường chảy
vào. Hơn nữa, phải biết tâm rộng lớn thì giới lớn,
tâm hẹp thì giới nhỏ, nên kinh Niết Bàn và Thập Bà Sa Luận
khi nói về Thiên và Tụ chép rằng: “Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát
hành trì cấm giới, phải biết giới không có lớn nhỏ, tất
cả đều do tâm kỳ vọng của người thọ trì.” Trừ
ngoại đạo tà kiến ở thế gian, không một pháp nào không
phải là Phật pháp, như nói tất cả cây cối, hoa lá trong
đại địa đều là vị thuốc, huống chi là kinh pháp giới
luật do chính kim khẩu đức Như Lai nói ra.
Kinh
Viên Giác chép: “Tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác
nếu gặp được bậc thiện hữu tri thức, nên nương vào
họ mà thiết lập nhơn địa pháp hành. Như vậy, tu tập
liền có Đốn hoặc Tiệm; nếu gặp Như Lai Vô thượng Bồ
đề, con đường chánh tu hành, căn cơ không có lớn nhỏ,
đều sẽ thành Phật quả.” Như kinh đã nói, mọi điều
nghi hoặc liền tiêu tan, ngoài ra như giới thứ 24 nói rõ.
Giới
thứ 9
KHÔNG
SĂN SÓC BỆNH
Là
Phật tử, thấy người tật bệnh phải tận tâm cúng dường
như cúng dường Phật. Trong tám phước điền, cúng dường
là phước điền thứ nhất. Nếu như Cha mẹ, Sư trưởng,
Sư tăng cùng đệ tử có bệnh, có tật, trăm thứ bệnh tật
đau khổ, đều phải săn sóc cho lành mạnh. Nếu Phật
tử vì tâm sân hận, không chăm nuôi, nhẫn đến thấy trong
tăng phường, thành ấp, nơi núi rừng, đồng nội, đường
xá, có người bệnh mà không lo cứu tế, Phật tử này phạm
tội khinh cấu.
Chú
thích:
Do
mê mất tâm từ bi lợi tế của Bồ Tát nên không săn sóc
bệnh, mất hạnh cung kính hiếu thuận nên không cung cấp cúng
dường.
Tất
cả người tật bệnh, gồm trên là Hiền, Thánh Tam thừa,
Sư tăng, Cha mẹ, giữa là huynh đệ, bạn bè thân thuộc, dưới
là đệ tử chúng tại gia, già trẻ, sang hèn, người tha phương
khác nước, v.v... nhẫn đến các loài hạ đẳng cầm thú,
súc sanh, thảy đều phải cung cấp thuốc men để điều trị
như đối với Phật không khác. Bổn hoài của Như Lai
vốn là cứu độ sanh lão bệnh tử của muôn loài, nên Phật
xuất hiện nơi đời, nay cúng dường người bệnh khiến cho
họ được an ổn, đó chính là bổn hoài của Phật, huống
gì tất cả chúng sanh đồng một nguồn tâm, sẽ thành chánh
giác, nên nói như Phật không khác.
Xưa
đức Như Lai tự săn sóc Tỳ kheo bệnh, trước rửa sạch
cấu uế, sau nói pháp yếu cho họ nghe, vị Tỳ kheo liền chứng
đạo quả, nhơn đó khiến cho trong tất cả tự viện, nhà
bệnh đều vẽ hình tượng Như Lai tự đích thân khám bệnh,
săn sóc. Người thọ giới Bồ Tát mà không cúng dường,
không săn sóc bệnh thì thật trái với tâm thương xót chúng
sanh của Bồ Tát.
Trong
8 phước điền, săn sóc bệnh là thứ nhứt. Tám phước
điền ấy là:
1.
Chư Phật phước điền
2.
Thánh nhơn phước điền (Tam thừa thánh)
3.
Chúng Tăng phước điền
4.
Hòa thượng phước điền
5.
A Xà Lê phước điền
6.
Cha phước điền
7.
Mẹ phước điền
8.
Người bệnh phước điền
Chư
Phật, Thánh nhơn, chư Tăng, ba bậc này gọi là Kỉnh điền.
Hoà thượng, A Xà Lê, Cha, Mẹ, bốn bậc này gọi là Ân điền.
Cúng dường người bệnh, gọi là Bi điền. Đối với
8 thứ phước điền này, cúng dường, bố thí thì sanh ra các
phước lành như gieo trồng hạt giống được nảy mầm tươi
tốt thì chắc chắn thu hoạch được kết quả, nên gọi là
điền.
Trong
8 thứ ruộng phước, ruộng phước Phật là tối thắng.
Cúng dường Phật được quả lành xuất thế gian, diệt trừ
được vô lượng các nghiệp ác, cấu uế. Nay lấy việc
săn sóc bệnh làm đệ nhứt, nghĩa là Bồ Tát lấy việc lợi
sanh làm chủ yếu, cứu khổ ban vui cho chúng sanh là việc cần
thiết, nên không lựa chọn thân sơ, sang hèn, chỉ dùng tâm
cứu tế, nên nói rằng: “Địa ngục vị không, thệ bất
thành Phật” (Nghĩa là còn có chúng sanh nào ở địa ngục
thì Bồ Tát chưa thành Phật). Lại nói, nếu có một
chúng sanh nào chưa thành Phật thì Bồ Tát quyết chưa nhập
Niết bàn, vì thế mà Bồ Tát đã thừa sự Chư Phật để
cầu học tu tất cả pháp môn, cũng đều vì lợi ích tất
cả chúng sanh, thế nên Bồ Tát dùng Bi điền làm đệ nhứt.
Có
tật, nghĩa là lục căn không đầy đủ, trong 6 căn, tùy theo
thiếu một căn thì chúng sanh ấy khổ não vô cùng, huống
gì tứ đại chống trái nhau, trăm bệnh khổ não ép ngặt
thân thể.
Trăm
bệnh, là thân tứ đại gồm có 440 thứ bệnh, nay chỉ nói
trăm bệnh là lược nêu một đại trong tứ đại mà thôi.
Như các bệnh khổ làm loạn tinh thần, không thể tạm yên,
nên nói khổ não.
Cúng
dường khiến cho lành bệnh, là chỉ người nuôi bệnh, tùy
sức mình, cung cấp cho bệnh nhân cơm áo, thuốc men, giường
nằm, v.v..., nếu mình không đủ sức, nên đi khuyến hóa xin
người khác giúp.
Trong
Luật Tứ Phần ghi: “Săn sóc bệnh được công đức khi:
1.
Biết người bệnh món ăn nào nên ăn, món nào không nên ăn,
nên thì cho ăn, ngược lại thì không cho ăn.
2.
Không nhờm gớm nước dãi, phân và nước tiểu của người
bệnh.
3.
Có tâm từ mẫn, không vì cơm áo mà săn sóc bệnh.
4.
Hay chế biến thuốc men cho người bệnh đến lúc lành hoặc
mạng chung.
5.
Hay nói pháp hoan hỷ cho người bệnh nghe, giúp thân họ được
tăng trưởng pháp lành.
Tâm
sân hận, là do ngày trước đối với người bệnh có hiềm
khích, hoặc người bệnh hiềm trách sự cung cấp không vừa
ý, từ đó sanh tâm sân hận, không vui, không thăm bệnh, trái
với tâm bình đẳng của Bồ Tát là không phân biệt oán thân,
không niệm nào xả bỏ chúng sanh cả. Nếu Phật tử
có tâm trái bỏ như thế thì mắc tội, chẳng những đối
với cha mẹ, sư tăng, người thân, mà ngay cả với người
bệnh gặp nơi thành ấp, khi đi đường, nếu không săn sóc,
chăm nuôi cũng mắc tội.
Nếu
tự thân mình có bệnh, hoặc không có sức để giúp người
bệnh vượt qua bệnh khổ, thì phải khởi tâm từ bi chú nguyện
khiến họ được an vui, hoặc nhờ người khác hoặc khuyên
người khác săn sóc bệnh nhân, hay nếu họ đã có người
thân săn sóc, thì đều không mắc tội phạm.
Khế
Kinh nêu rõ: “Người nhiều bệnh hoạn phải chết yểu, đều
do đời trước gây nghiệp sát, duyên báo chưa đến, hay còn
do những duyên khác hay chiêu cảm đến bệnh hoạn, như trong
hàng đệ tử Phật, có Tôn giả Xá Lợi Phất, không vượt
qua nổi khổ nhiều bệnh. Phật bảo: Vì ông nhiều
đời khinh mạn Sư trưởng, Cha mẹ, không biết tôn kính cúng
dường, nên phải chiêu cảm quả báo này.”
Luận
Tỳ Ni Mẫu ghi: “Nếu cha mẹ nghèo khổ bần cùng, nên khuyên
họ thọ Tam quy, Ngũ giới và mười điều lành, sau mới cung
cấp tài vật cho. Nếu không nghèo, tuy có thọ Tam qui,
Ngũ giới, mà đem cung cấp tài vật thì không hợp pháp.
Nếu thí cho người bệnh, người bị giam cầm, người mang
thai, trẻ nhỏ, phải dùng từ tâm tùy nghi mà thí, nếu thí
một cách lầm lẫn thì bị đọa.” Đây nói tất cả
tài vật của người xuất gia, đều là do tín tâm đàn việt
hỷ cúng cho Tăng, chẳng phải bậc phước điền thì không
kham thọ, còn Bồ Tát tại gia thì tùy ý mà thí.
Luận
Tỳ Bà Sa ghi: “Nếu người có hiếu, có thể khiến cho cha
mẹ phát lòng tin kính ngôi Tam bảo, thọ Tam quy, Ngũ giới,
tập tu thiền định để phát sanh trí tuệ, ấy gọi là báo
ân Cha mẹ một cách chân thật.
Giới
thứ 10
CHỨA
KHÍ CỤ SÁT SANH
Là
Phật tử, dù cho cha mẹ bị người khác giết cũng không được
báo thù, huống gì lại đi giết hại tất cả chúng sanh.
Phật tử không được cất chứa các loại khí cụ sát sanh
như : dao, gậy, cung tên, búa, giáo, cùng những đồ sát sanh
như: chài, lưới, sập, bẫy, v.v... Nếu cố cất chứa Phật
tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Sát
hại sanh vật thương tổn lòng từ bi, trái với tâm địa
giới thể, trái với hạnh nguyện lợi sanh của Bồ Tát.
Mâu,
như cái đảnh có 3 góc; tu mâu dài hai trượng; di mâu dài
hai trượng bốn thước, dao trượng, v.v... đều là binh khí
nên gọi là khí cụ chiến đấu. Võng la, tức là lưới,
được làm bằng dây chì hoặc chỉ gai, dùng để bắt cá
hoặc giăng bắt các loài cầm thú gọi là khí cụ sát sanh.
Khi cụ chiến đấu thì hại người, khí cụ sát sanh thì hại
vật, tất cả đều không nên cất chứa, nên nói “không
được cất chứa” là vậy.
Thề
không đội trời chung với kẻ giết hại cha mẹ mình là trái
với hạnh từ bi bình đẳng của bậc Đại sĩ xuất gia, coi
tất cả chúng sanh như cha mẹ mình, không nên để tâm báo
thù.
Cất
chứa đồ sát sanh là tiêm nhiễm nghiệp sát, trái với tâm
hiếu thuận của Bồ Tát. Các thứ lưới chài, bẩy sập,
đều làm tổn thương sanh vật, cầm thú, giới của Phật
tử xuất gia hay tại gia, Phật đều cấm. Đao, gậy,
cung tên, búa giáo là binh khí bảo vệ đất nước, xưa cho
phép Quốc vương, Vương tử, Tướng sĩ, dùng không hạn chế,
còn người chưa có trách nhiệm giữ nước, không cho tự do
cất chứa, nếu cất chứa là phạm tội.
Giới
thứ 11
ĐI
SỨ
Là
Phật tử, không được vì quyền lợi và ác tâm mà đi thông
sứ mạng cho hai nước hiệp hội, quân trận, đem binh đánh
nhau làm cho vô lượng chúng sanh bị giết hại. Phật
tử còn không được ra vào, qua lại trong quân trận, huống
gì lại làm môi giới cho chiến tranh, nếu cố làm, Phật tử
phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Bậc
Đại sĩ phải làm sứ giả của Như Lai, lấy việc an vui khắp
quần sanh làm sở nguyện, không nên làm sứ giả của địch
quốc, khởi tâm rình tìm tốt xấu, hay dở để tính kế mưu
mô, yêu sách chiến trận. Nếu giết hại chúng sanh là
trái với thiện tâm, tâm từ bi, tâm an ủi chúng sanh của
Bồ Tát.
Bồ
Tát quên mình vì lợi tha, nhớ nghĩ tất cả chúng sanh, không
nên vì lợi dưỡng sanh ác tâm làm thông sứ hai nước, theo
mệnh lệnh của hai vua, giết hại chúng sanh không phải ít.
Nếu thuyết phục cho hai nước chấm dứt giao chiến, làm cho
cõi nước an vui, cứu giúp dân chúng, đó mới là quyền nghi
của Bồ Tát, sanh ra vô lượng công đức.
Kẻ
gây tai ách cho nhân dân, gây tổn hại cho cõi nước gọi là
“giặc”. Trong quân trận chỉ luận bàn phương pháp
chinh phạt, sát hại địch thủ, hàng Bồ Tát nỡ nào nghe
lời huyên náo ô uế, giày xéo tàn sát chúng sanh! Thanh
văn lo tư lợi, Phật còn không cho, huống gì Bồ tát từ bi
tâm lợi vật ư?
Nếu
dạy người khác chinh phạt hoặc muốn họ đánh nhau, đều
thuộc về tội trọng, tùy theo mức độ sát sanh nhiều hay
ít mà kết tội.
Giới
thứ 12
BUÔN
BÁN PHI PHÁP
Là
Phật tử, không được buôn bán người lành, tôi trai, tớ
gái, lục súc, quan tài ván cây, đồ đựng thây chết, nếu
Phật tử cố ý tự buôn bán, hay dạy người khác buôn bán
các thứ ấy, Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Tham
tiền của, làm tổn hại sanh vật, mất bản tâm từ bi của
Bồ Tát, tổn thương pháp môn, chẳng phải hạnh lợi tha của
Bồ Tát. Phật cấm Phật tử không được mua bán người
lành, tôi trai, tớ gái, lục súc, thậm chí cả đồ đựng
thây chết, hòm, quan tài cũng không được mua bán, vì các
hình thức mua bán có dụng tâm tham cầu lợi, đều trái với
hạnh từ bi lợi tha của Bồ Tát.
Nếu
mua bán người tất nhiên gây nên khổ não biệt ly trong quyến
thuộc họ, đẩy họ phải chịu cảnh tôi đòi hạ tiện,
bị nguời hại, làm nô dịch cho người, còn bị đánh mắng
khổ sở. Nếu mua bán súc vật, tất nhiên có sự chết
chóc, nấu rang, nước sôi lửa bỏng, thiêu đốt thảm khóc.
Nếu mua bán quan tài, tâm mong nhiều lợi tức, đó là ác tâm,
vô tình muốn cho nhiều sinh linh phải chết. Phật cấm
tất cả Tăng và tục đều không được mua bán như vậy,
nếu cố ý làm là phạm, còn mua bán việc tầm thường, không
tổn hại sinh vật, thì Phật không cấm.
Kinh
Ưu Bà Tắc chép: “Việc mua bán được tiền của, nếu chia
làm 3 phần để:
1.
Cúng Tam bảo
2.
Cung cấp cho cha mẹ
3.
Lo cho thân mình, vợ con, quyến thuộc.
Thì
đó là mua bán đúng pháp.”
Luận
Tát Bà Đa ghi: “Thà làm đồ tể không làm nghề buôn bán.”,
vì sao? Vì đồ tể tuy sát hại chúng sanh nhưng không
dối gạt. Không luận là đạo hay tục, hiền hay ngu,
trì giới hay phá giới, không có tâm dối gạt, nếu buôn bán
thường ôm lòng dối gạt. Như mua bán gạo thóc, tâm
thường tính toán mong được lợi tức cao, tất nhiên gây
ra sự tốn kém cho người khác, đó là ác tâm. Tuy luật
Phật không chế định điều này cho Phật tử tại gia, nhưng
là Phật tử thì không được dối gạt người khác.
Phật
đã dạy Phật tử phải nói lời chân thật. Nếu Phật
tử không nói lời chân thật, đong đếm, cân đo không đủ
số lượng, dối trá gạt người, đều mắc tội vọng ngữ,
dối gạt người khác, khi được vật đem về mình rồi, mắc
tội lường gạt, đồng như tội trộm.
Dạy
người có 2 cách: Dạy người thay mình làm, hoặc dạy
người tự làm, đều phạm.
Mua
bán súc sanh, khiến cho chúng bị giết chết, hoặc khiến cho
người ta bị khổ ép ngặt chết, đều phạm tội trọng.
Nếu thay người mua bán súc sanh, lén giấu tiền của trị
giá 5 tiền, thì phạm cả 2 tội là sát sanh và trộm cắp.
Nếu thay người mua bán quan tài và dụ dỗ mua bán nô tỳ,
lén giấu 5 tiền, đều mắc tội trộm. Nếu dùng tiền
bán quan tài và gỗ ván đựng thây chết, đem thí cho người
nghèo khó thì được phước vô lượng. Do lòng từ bi
cứu giúp, tâm không cầu lợi, nên không phạm.
Giới
thứ 13
HỦY
BÁNG
Nếu
Phật tử vì ác tâm, đối với người tốt, người hiền
lương, Pháp sư, Sư tăng hoặc Quốc vương và quí nhân, vốn
vô sự mà hủy báng thì phạm tội thất nghịch, mười giới
trọng. Với cha mẹ, anh em, lục thân phải có lòng từ
bi, lòng hiếu thuận, nếu khởi tâm trái nghịch, hại họ,
làm cho họ gặp tai ương, Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Khởi
ác niệm hủy nhục người khác, không có tâm hiếu thuận,
mất hạnh từ bi chẳng phải bổn hoài hoằng nguyện lợi
sanh, đại nguyện hộ trì chánh pháp của Bồ Tát. Hiểu
rõ ác tâm, chẳng phải thiện, nên làm lợi ích cho người
khác, do tham sân muốn phá hoại công đức danh lợi của người
khác.
Vô
sự, nghĩa là thực sự người ấy không có sai phạm, cũng
không căn cứ thấy, nghe, nghi mà lại vọng sanh phỉ báng chê
bai.
Người
hiền lương, là người hiền có đức hạnh, thuần thiện,
từ ái muôn vật. Pháp sư là thầy dạy tuyên dương Tam
tạng Thánh giáo của Như Lai. Sư tăng tức Hòa thượng
A Xà Lê, cho đến vị (mà) mình y chỉ một đêm ở, hoặc
thọ học một câu chú, một bài kệ, nghe một lời nói pháp,
đều gọi là A Xà Lê. Tăng là chúng Tăng. Quí nhân
là Tam công, trăm quan. Những vị trên, trước đã thọ
giới của Phật, nếu phỉ báng người thọ giới pháp, thì
phạm tội khinh cấu. Nếu chỉ lỗi và phỉ báng người
chưa thọ đại giới, không luận là có căn cứ hay vô căn
cứ, thì phạm trọng tội.
Kinh
chép: “Các bậc thiện hữu tri thức trong thiên hạ, không
ai bằng Sư trưởng. Nếu có thể trọn đời hành đạo,
thì chỉ là tự lợi, chưa thể báo đáp được ân Sư trưởng.
Cha mẹ tuy có công sanh thành dưỡng dục, dạy bảo nhưng không
thể đưa ta ra khỏi ba đường ác, Sư trưởng mới là người
dạy dỗ chỉ bảo tấn tu, giúp ta xa lìa khổ sanh tử, được
an vui Niết Bàn.”
Những
người được Sư trưởng dạy bảo mà không chịu tin thọ,
cho đến khởi lời nói ác, thốt lời phỉ báng, sanh ra phải
quấy khiến Phật pháp suy vi, hủy báng Sư trưởng, ghét bỏ
và tật đố với Sư trưởng, gọi là Đại ma trong Phật
pháp, là hột giống của địa ngục.
Kinh
Thiện Cung Kính chép: “Nếu đối với Pháp sư khởi tâm không
cung kính, nói ra những gì tốt xấu của Sư tăng, đó là kẻ
ngu si, nên đúng như pháp mà trị tội. Sư thật sự có lỗi
còn không được nói, huống gì không có lỗi. Nếu người
ở bên thầy mà không có tâm cung kính, sẽ bị đọa vào địa
ngục tên là Thôi Phốc, một thân có bốn cái đầu, thân
thể đều cháy hừng hực như lửa lớn bừng cháy rất mạnh,
không lúc nào dứt. Hơn thế nữa, lại có móc câu, độc
trùng kéo lưỡi người tội. Khi ra khỏi địa ngục,
người này phải sanh vào loài súc sanh, thường ăn nuốt phẩn
tiểu. Sau khi xả thân kia rồi, tuy được sanh làm người,
phải ở nơi biên địa hạ tiện, da chẳng giống người,
bị người khác khinh rẻ, phỉ báng, lăng nhục, lìa xa Phật
pháp, nếu là Tăng thì không có trí tuệ. Từ nơi đó,
sau khi xả thân rồi, trở lại đọa vào địa ngục chịu
vô biên khổ não.”
Kinh
Thần Biến chép: “Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Giả
sử có người đối với hằng hà sa tháp miếu của Chư
Phật, họ đều thiêu đốt phá hủy thì tội cũng không nặng
bằng như đối với Bồ Tát tin hiểu Đại thừa mà khởi
một niệm sân giận, lại thêm đánh mắng sỉ nhục, hoặc
hủy báng, Bồ Tát này phải trải qua vô lượng A Tăng
kỳ số kiếp ở địa ngục.”
Trong
Luận Bồ Tát ghi: “Phật dạy nếu Bồ Tát khởi tâm lấn
hiếp người khác, ta nói người này đọa địa ngục không
có hạn lượng, vì sao? Vì nếu Bồ Tát đối với vị
Pháp sư, khởi tâm hủy báng chê bai, chính là xa lìa Chư Phật,
hủy báng chánh pháp và Tỳ kheo, Tăng. Hơn nữa, nếu
khinh các vị Pháp sư nói pháp, không khởi tâm tôn trọng,
chính đối với Chư Phật Như Lai cũng không sanh tâm tôn trọng.”
Lại nữa, trong kinh Phát Giác Tịnh Tâm ghi: “Có 60 bậc sơ
phát tâm Bồ Tát, đến dưới chân đức Thế Tôn khóc lóc
thảm thiết, bạch Phật rằng: Chúng con nghiệp chướng sâu
dày, xin đức Thế Tôn thương xót, vì chúng con phân biệt
nói rõ, để chúng con biết rõ nguồn gốc tội lỗi không
có tạo ác nữa. Phật dạy: Vào thời quá khứ trong pháp
hội của đức Phật Câu Lưu Tôn, các ông là người xuất
gia học đạo, thọ trì cấm giới, học rộng nghe nhiều, công
đức tu hạnh đầu đà đầy đủ, nhưng các ông lại buông
lung tâm ý, lần lần suy giảm công đức tu hành. Khi ấy
có hai vị Tỳ kheo Pháp sư, bị các ông vu khống dâm dục
để hủy báng, nhẫn đến các vị đàn việt thân hữu Pháp
sư, các ông cũng phá hoại và ly gián, bằng cách nói hai lưỡi
để hủy nhục, khiến cho người khác sanh nghi hoặc, không
sanh tín tâm. Khi có người kính tin tùy thuận Pháp sư,
các ông làm cho họ đoạn mất căn lành. Do nghiệp
chướng đã tạo, nên suốt thời gian 62000 năm, các ông bị
đọa trong địa ngục A Tỳ, rồi 40000 năm trong địa ngục
Đẳng Hoạt, 30000 năm trong địa ngục Hắc Thằng, 800000 năm
trong địa ngục nóng. Sau khi làm người, trong 500 đời,
sanh ra bị mù không thấy đường, ám độn tối dốt, quên
mất bản tâm, đóng kín cửa lành, thường bị người khinh
khi, ghét bỏ, hủy nhục chỉ trích chê bai, thường sanh vào
chốn biên địa nghèo nàn khổ sở. Từ đây, khi các
ông xả mạng rồi, khoảng 100 năm sau thời kỳ chánh pháp
đã diệt hết, các ông lại sanh làm người ở nơi cõi nước
nhiều hung dữ, con người ở đó bần cùng hạ tiện, bị
người khác phỉ báng, quên mất bản tâm. Sau 500 năm
nữa, tất cả nghiệp chướng mới hết. Bấy giờ 60
vị Bồ Tát nghe Phật nói lời này rồi, tự xét lòng mình,
lo sợ rợn tóc gáy, hướng về Phật cầu xin sám hối, lập
đại thệ nguyện, ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu
cũng không còn dám khởi ra các lỗi. Khi ấy đức Thế
Tôn nói kệ rằng:
Chớ ở bên người thấy lỗi người
Chớ nói phải quấy của người ta
Đừng đắm việc người, lo mình tịnh
Phải xả bỏ ngay những lời ác
Xả bỏ, rời xa nơi ồn náo
Tỳ kheo phi pháp chớ thân gần
Tu hạnh đầu đà, Phật từng ngợi
Chẳng đắm lợi nên được Niết bàn.
Lục
thân có hai dạng:
1.
Cha mẹ ruột của mình, lục thân trong anh em chú bác.
2.
Bậc Đại sĩ thường niệm tất cả chúng sanh là lục thân
của mình, do tâm hiếu thuận nên không có việc nghịch báng,
do lòng từ bi nên không bị đọa vào nơi khổ não, không như
ý.
Chỗ
không như ý, nghĩa là do lỗi rao bày cái xấu của người,
nên thấy xấu hổ, ngày đêm không vui, thậm chí họ còn tự
hại, vùi lấp thanh danh của người kia, do việc không vừa
lòng, luôn luôn buồn rầu, nên nói rằng đọa vào chỗ không
như ý.
Giới
trước nói tự khen mình, hủy nhục người khác và hủy
báng Tam bảo, từ chỗ hủy báng người khác trong đó gồm
cả ý tự khen mình, nên phạm tội nặng. Giới này chỉ
riêng hủy báng người khác, thuộc về phạm tội khinh cấu.
Trước gồm chung cả hủy báng Phật pháp, nay chỉ hủy báng
Tăng đã mắc khổ báo vô cùng, huống gì hủy báng người
có ân đức. Thí như xưa có một bé gái 7 tuổi, chê
cười một vị Tỳ kheo tiếng nói như chim, mà phải 500 đời
làm thân chim mù mắt. Người mẹ của bé gái ấy nghe
Phật nói, bèn đem đứa con đến chỗ Phật cầu xin sám hối,
vẫn không khỏi tội. Do tâm hủy báng là tánh tội, bất
luận là thọ giới hay không thọ giới, đem tâm hủy báng
đều chiêu cảm lấy ác báo. Nên Kinh chép: “Giữ miệng
như giữ bình, giữ ý như giữ thành.”
Kinh
Báo Ân chép: “Người đời ở thế gian, họa từ miệng sanh
ra, mạnh hơn lửa dữ. Lửa cháy chỉ thiêu đốt tài
sản mà thôi, còn lời nói ác thiêu đốt công đức nhiều
đời. Lửa dữ ở thế gian chỉ thiêu đốt tiền của
tài vật, còn ác khẩu thiêu đốt Thất thánh tài. Vì
thế, tất cả chúng sanh thường phải dè dặt giữ miệng,
lưỡi trong miệng như búa bén chặt dứt cái họa diệt thân.
Vì thế, người xưa bảo rằng, môi như cung nỏ, tâm như dây
cung, lời nói như mũi tên, bắn mãi trong đêm tối, đâu thể
làm tổn thương người, chỉ tự bôi tro trát bụi vào mình.
Nên Địch Ba Ly, thân sống phải vùi lấp nơi địa ngục,
đều do thốt ra những lời ác mà phải chịu ương báo ở
địa ngục. Mọi người phải biết, dù Tăng hay tục,
phải sớm phản tỉnh, thận trọng tâm mình, giữ kỹ miệng,
đừng để phải mang họa tai ương nhiều kiếp, có ăn năn
hối lỗi cũng không kịp.
Giới
thứ 14
PHÓNG
HỎA THIÊU ĐỐT
Nếu
Phật tử vì ác tâm phóng hỏa thiêu đốt núi rừng, đồng
nội, từ tháng 4 đến tháng 9, phóng hỏa cháy lan đến thành
ấp, nhà cửa, tăng phường, ruộng vườn của dân và cung
điện của quỉ thần, tài vật của quan chức. Tất cả
chỗ có sanh vật, không được thiêu đốt, nếu cố ý thiêu
đốt, Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Kinh
Lăng Nghiêm chép: “Tỳ kheo và các Bồ Tát thanh tịnh đi trên
đường tắt còn không dẫm lên cỏ tươi, huống gì lại dùng
lửa thiêu đốt, sát hại sanh vật hữu tình và vô tình, lỗi
ấy chẳng phải nhỏ.”
Ác
tâm là tâm bất thiện, tâm sân hận đối với người khác,
cho đến các loài cầm thú ở trong rừng còn phóng hỏa để
thiêu đốt.
Từ
tháng 4 đến tháng 9, căn cứ vào địa danh phương Bắc thì
đây là thời gian sinh sản của các loài côn trùng, cầm thú.
Nếu ở phương Nam, khí hậu ấm áp hơn, mùa sinh sản của
các loài côn trùng bắt đầu vào Đông – Xuân, và chỉ bị
hạn chế vào tháng 12, khi thời tiết quá lạnh.
Núi
rừng, đồng nội, là nói chung, nhà cửa, thành ấp, tăng phường,
v.v... là nói riêng, nghĩa là tuy họ không có ác tâm thiêu
đốt nhà cửa, nhưng do thiêu đốt núi rừng, tai họa lan đến
nhà cửa của dân. Ruộng vườn là chỗ gieo trồng
sanh ra các thứ lúa gạo ngũ cốc. Tài vật của quỉ
thần, quan chức vốn là quan vật (luận về quan vật, lẽ
ra có tài vật của vua, nhưng nói đến thành ấp là đã nói
đến tài vật của vua quan rồi). Trong Luận nói: “Tất
cả cỏ cây là chỗ ở của quỉ thần, vì các quỉ thần
đều nương nơi đây để làm cung điện, nhà cửa, nên Phật
cấm Tỳ kheo không được phá hoại.” Hoặc nơi đồng
trống, núi rừng, đồng nội, miếu thờ quỉ thần, cho đến
cây cối. Các thứ đồ cúng đều là vật thuộc quỉ
thần, như cung đình, hồ, miếu, trúc, cây, v.v... Nếu
xin mà chưa cho liền chặt phá, liền bị chìm thuyền.
Tất
cả vật như tường, vách, hàng rào, đất, củi mục, đều
có côn trùng nương ở, nếu vì muốn trừ việc hổ lang rắn
độc làm hại, thì Phật khai cho hàng tại gia. Cần phải
quán sát thời gian, cân nhắc cẩn thận, nếu không thiêu,
không gây thương tổn cho sanh vật thì không phạm.
Giới
này nói về việc thiêu đốt núi rừng, nhưng không có tâm
làm tổn thương sanh mạng nên phạm tội khinh cấu. Nếu
do sân tâm, ác tâm mà thiêu đốt, gây tổn hại sanh vật,
tùy theo số lượng sanh vật bị chết, mà kết tội.
Có một con quỉ hỏi ngài Mục Kiền Liên rằng: “Tôi suốt
một đời đến nay, thường bị hoạn nạn, thiêu đốt, đói
khát, khi thấy sông Hằng, muốn vào trong đó để trừ nóng
bức và sự đói khát, nhưng chạm vào nước thì thân thể
bị tiêu hoại, da thịt lìa xương, uống vào một giọt nước
thì ngũ tạng tiêu hoại, đau đớn không thể nói, không biết
do tội gì mà gây nên báo này?”
Ngài
Mục Kiền Liên đáp: “Khi ông làm người, ưa thiêu đốt
núi rừng, sông ngòi, tàn hại chúng sanh, nên nay phải chịu
họa báo.”
Xưa
có một vị tiều phu, thấy lửa đốt núi rừng, bèn
dập tắt khiến cho dứt, thân sau được phước báo làm Phạm
Thiên vương, thọ mạng trụ hơn một kiếp. Cứu
lửa mà còn được thắng báo như thế, huống gì tâm ác thiêu
đốt núi rừng, tội đâu tránh khỏi!
Giới
thứ 15
DẠY
GIÁO LÝ NGOÀI ĐẠI THỪA
Là
Phật tử, khi gặp đệ tử Phật, tất cả thiện tri thức,
ngoại đạo, ác nhân, đều phải khuyên bảo họ thọ trì
kinh luật Đại thừa, nên giảng cho hiểu nghĩa lý, khiến
họ phát Bồ Đề Tâm, Thập Phát thú tâm, Thập Trưởng dưỡng
tâm, Thập Kim cang tâm, trong ba mươi tâm ấy, giảng cho họ
hiểu pháp dụng tuần tự thứ lớp của mỗi pháp. Nếu
Phật tử sanh ác tâm, sân tâm, đem kinh luật của Thanh văn
Nhị thừa, cùng các bộ luận của ngoại đạo tà kiến dạy
cho họ, Phật tử này phạm tội khinh cấu.
Giải
thích:
Ngoài
giáo lý Đại thừa tức là tà giáo hoặc Nhị thừa.
Ngoại đạo là tà kiến. Bồ Tát học Đại thừa Tâm
địa pháp môn, mà không tự mình đem giáo pháp đã thọ để
dạy người, ngược lại đem ngoại đạo tà nhơn, Nhị thừa
tự lợi thiên kiến dạy người thì đọa vào đường tà,
bỏ cái hạnh lợi tha, thì chẳng phải tâm từ thiện, tâm
Đại thừa của Đại sĩ. Đệ tử Phật là nội chúng,
do học nội giáo của Phật. Ngoại đạo là ngoại chúng,
do học tập ngoại giáo. Lục thân tri thức bao gồm cả
nội và ngoại chúng, vì họ có học nội giáo và ngoại giáo.
Ác
nhơn là ngoại đạo tu pháp bất thiện, đem giáo pháp
không nhơn quả để dạy chúng sanh, khiến cho họ lầm lẫn
đọa vào ba đường ác và Nhứt-xiển-đề, thường không
bao giờ ra khỏi.
Khế
kinh chép: “Chúng sanh không có tà kiến, nhưng do không may
gặp tà sư ác hữu mà thành tà kiến, nên phải lầm đọa
vào ác đạo.” Thiện tri thức, là người bạn tốt
hiểu biết một cách tinh tường, chẳng phải ông thầy mô
phạm của pháp môn.
Dù
là hàng chánh đạo hay ngoại đạo, đều phải dạy cho họ
hiểu nghĩa lý, sau dạy cho họ phát Bồ đề tâm. Nếu
không thọ trì thì đâu biết diệu lý ý vị Đại thừa, nghĩa
lý không thông đạt thì sự phát tâm chẳng phải chánh pháp,
tâm Bồ đề đã không phát thì chỗ hiểu biết chỉ là dối
luống. Khi nào hành giả đạt được hạnh giải tương
ứng, mới hy vọng chứng ngộ.
Ba
mươi tâm này là hạnh ban đầu vào thánh vị, nên trước
cần phải khai thị, rồi từ sự phát tâm đến kim cang tâm,
mỗi mỗi vì họ mà giảng nói, khiến cho họ biết để tấn
tu công dụng, nối dòng quả vị Tam bảo.
Ác
tâm là tự khởi niệm bất thiện khiến người vào đường
tà.
Sân
tâm là do có sự xúc não mà sanh tâm sân nộ, dạy bảo khiến
họ vào đường tà, không chánh trực, nghĩa là pháp đáng
dạy thì không dạy, pháp không đáng dạy thì dạy, họ muốn
học giáo pháp Đại thừa mà trái lại dạy cho họ Tiểu thừa.
Do
sân giận sanh tâm ác, không dùng chánh lý khai đạo, mà lại
dạy giáo lý Nhị thừa Tứ A Hàm, Ngũ Thiên Thất Tụ, Tăng
Khư Luận là những thứ ngoại đạo tà kiến, (trong Luận
Đại Trí Độ ghi: “Ở Tây Vức, kinh và luật của ngoại
đạo, có 18 thứ, đó là Tệ Ca Lan Na, Tăng Khư, Vi Đà, v.v...”)
Kim
Cang Bồ Đề Tâm Luận ghi: “Hành giả biết tất cả hữu
tình, đều ở trong tánh Như Lai Tạng, đều kham nhận an trú
Vô thượng Bồ đề, vì thế không đem pháp của Nhị thừa
độ thoát cho họ.” Hàng Thanh văn chấp pháp Tứ đế,
Duyên giác chấp pháp 12 nhơn duyên. Do biết Tứ đại,
Ngũ ấm rốt ráo phải hoại diệt, nên khởi tâm nhàm chán.
Vì muốn phá tâm chấp của chúng sanh, siêng năng cần mẫn
tu pháp này, mong chứng quả vị Vô thượng. Nhị
thừa thú hướng đến Niết bàn tịch tịnh, cho là rốt ráo,
tuy đã phá được pháp nhơn không, nhưng còn chấp có pháp
tu chứng, chỉ tĩnh ý thức, không biết gì khác, lâu ngày
thành tựu quả vị, để rồi đốt thân diệt trí, thú hướng
đến Niết bàn, như hư không vắng lặng thường tịch.
Nơi đây có định tánh, khó có thể phát sanh, cần phải đợi
số kiếp mãn rồi, mới có thể phát sanh tâm tiến hơn lên.
Còn không định tánh, không hạn luận kiếp số, gặp duyên
là hồi tâm hướng Đại, ra khỏi Hóa thành, vượt khỏi tam
giới, đó là nhờ nhiều đời tin sâu Phật pháp, liền được
Chư Phật Bồ Tát, dùng phương tiện, nương đó phát Đại
tâm. Trước hết từ Thập tín trải qua các cấp vị
thứ lớp, qua vô số kiếp làm hạnh khổ khó làm, mới được
thành Phật. Đã biết hàng Thanh văn, Duyên giác trí tuệ
còn cạn hẹp, cũng không nên ham ưa. Hơn nữa, các ngoại
đạo, v.v.. luyến tiếc thân mạng kia, hoặc trợ giúp thuốc
men, nhằm tạo cảnh giới thiên cung, trụ nơi thiền định
hoặc sanh trở lại cõi trời cho là cứu cánh. Hành giả
nên quán sát những việc kia, nếu nghiệp lực đã hết, chưa
lìa 3 cõi, phiền não vẫn còn, tai ương nhiều đời chưa dứt,
ác niệm lại khởi, liền chìm đắm trong biển khổ, khó có
thể ra khỏi. Phải biết pháp của ngoại đạo cũng đồng
với huyễn mộng, ánh lửa. Vì thế, nếu chẳng phải
là ác tâm thì không nên dùng tà giáo dạy học.
Nếu
đem tâm lành đáp ứng đến sự mong muốn khiến cho họ đạt
kết quả tốt, dùng phương tiện quyền xảo dẫn dắt họ
qua pháp Tiểu thừa, sau khiến họ hướng tới Đại thừa,
hoặc đem ngoại giáo dẫn họ vào nội giáo, đó gọi là trước
dùng sự ham muốn để dẫn dắt, sau dùng trí để dứt các
khổ thì không phạm. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Ngũ địa
Bồ Tát học trăm công kỹ nghệ để dẫn dụ vào Phật đạo.”
Đây là Đại sĩ khéo léo dùng pháp Tứ nhiếp, để nhiếp
thọ chúng sanh, chẳng phải ác tâm sân hận mà dạy trái kinh
luật Đại thừa.
Kinh
Anh Lạc chép: “Bồ Tát khéo dùng sức phương tiện vào trong
dị học của ngoại đạo, để tùy thuận pháp của họ, thuận
việc cầu cúng, quán sát chí thú của họ, mục đích để
độ thoát họ, khiến cho họ gieo trồng vô lượng phước
đức. Nếu Bồ Tát vào đó mà sanh tâm ưa đắm pháp
dị học, thì thuộc về Tiểu giới trái với Đại thừa,
hướng đến Tiểu thừa, không đúng với hạnh nguyện lợi
tha của Đại sĩ.
Giới
thứ 16
VÌ
LỢI NÓI PHÁP LỘN XỘN
Là
Phật tử, phải tận tâm học kinh luật Oai Nghi Đại thừa,