V. KẾT
GIỚI
Bấy
giờ đức Thích Ca Mâu Ni mới thành đạo Vô thượng Chánh
giác dưới cội Bồ đề, Ngài bắt đầu kết Bồ Tát
giới dạy rằng: “Hiếu thuận Cha Mẹ, Sư Tăng, Tam Bảo,
hiếu thuận là pháp chí đạo, hiếu cũng gọi là giới, cũng
gọi là cấm ngăn.”
Giải
thích:
Khi
đức Thích Ca Mâu Ni mới thành đạo Vô thượng Chánh
giác dưới cội Bồ đề, Ngài bắt đầu kết “Bồ
Tát giới ” :Đây là các nhà kết tập , nói rõ khi Phật
mới thành đạo, Ngài kết giới Bồ Tát trước hết, vì giới
là thuyền bè vượt qua biển khổ, là bè báu để trở về
cội nguồn.
Vô
thượng Chánh giác , nghĩa là không có cái giác nào ở trên
quả vị Phật nữa nên gọi là vô thượng. Thanh văn,
Bích chi Phật thì cái biết của họ chưa phải chân chánh,
vì chỉ mới ngộ được ngã không, chứ chưa biết được
pháp không nên gọi là Thiên giác, chứ không phải là Chánh
giác.
Còn
hàng Tam Hiền (Trụ, Hạnh, Hướng), Thập Thánh cho đến Đẳng
giác Bồ Tát tuy chánh giác nhưng vẫn còn tiến tu nên không
được gọi là Vô thượng, mà chỉ gọi là tùy phần giác
mà thôi. Phật thành tựu quả Diệu giác viên minh, độc tôn,
nên gọi là Vô thượng Chánh giác. Nói giới của Bồ
Tát chính là vượt xa giới của Thanh văn.
Tuy
Phật đã kết giới Bồ Tát mà chưa chỉ rõ vấn đề trọng
yếu của giới, nên nay lấy hiếu thuận làm giềng mối của
giới, khéo phụng sự dưỡng nuôi gọi là “hiếu”.
Theo ý muốn không sanh trái nghịch gọi là “thuận”.
Cha mẹ sanh thành nuôi dưỡng sắc thân, ân đó không gì sánh
bằng.
Sư
Tăng, chính là Hòa thượng A Xà Lê truyền trao giới pháp,
là cha mẹ xuất thế, dạy bảo để ta thành tựu hạnh đức.
Nên kinh ghi: “Thành tựu pháp thân, nuôi dưỡng trí tuệ mạng,
là nhờ công đức của Sư trưởng, công ấy lớn lao không
gì bằng.” Đây là nói luôn về Tam sư Thất chứng của
Tiểu thừa, nên nói “Sư Tăng”. Tăng là người truyền trao
giới và tôn chứng giới cho ta, tuy không phải địa vị là
thầy, mà có ân thành tựu giới pháp.
Tam
bảo, nghĩa là ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng, sơ cơ phát
tâm học đạo đã nương theo ba ngôi báu này. Phật là
bậc cha lành cho chúng sanh trong ba cõi, Pháp là quy tắc xuất
thế, Tăng là đệ tử của Phật. Ba ngôi Phật, Pháp,
Tăng là ruộng phước của chúng sanh, là bậc đạo Sư của
chúng trời người, Nếu hành giả hay cúng dường tôn
kính, không trái khuôn phép, ấy gọi là hiếu thuận.
Hiếu
thuận là pháp chí đạo, chí đạo nghĩa là đạo lý cùng
tột, đó là chánh pháp vô lượng. Vì tâm hiếu thuận
hợp với Đại đạo của pháp vô thượng chánh giác.
Hiếu gọi là Giới, nghĩa là người hay thực hành tâm hiếu,
thì các giới đều đầy đủ. Bởi vậy, 58 giới trong
đoạn sau, phần nhiều nói về tâm hiếu thuận, không trái
với 10 giới trọng và 48 giới khinh, nên thuận với Tâm địa
bổn nguyên. Bởi vậy, hiếu gọi là giới, hay cấm chỉ.
Đức
Như Lai nói 58 giới này dùng để ngăn dứt những nghiệp bất
thiện của thân, khẩu, ý, lại hay ngăn ngừa khiến cho vọng
niệm không khởi, nên gọi là ngăn dứt. Hiếu là thể
của giới, ngăn dứt là dụng của giới. Đó chính là
đại dụng của 10 giới trọng và 48 giới khinh.
Từ
nơi miệng Phật phóng ra vô lượng ánh sáng.
Giải
thích:
Khi
Như Lai muốn nói Đại pháp, trước hết phóng quang biểu hiện
điềm lành, khiến cho thính chúng trong pháp hội sanh lòng kính
tin sâu xa. Đồng thời muốn nói rõ giới này là tối
thắng, có công năng phát huy và phá trừ bóng tối, đủ năng
lực diệt ác sanh thiện. Xưa đức Xá Na dùng hào quang,
diễn thuyết Giới Phẩm Tâm địa, nay Phật Thích Ca cũng phóng
quang để truyền trao lại. Bồ Tát đến nghe và lãnh
thọ, chính là từ kim khẩu Phật sanh ra, nên họ được gọi
là Phật tử chơn chánh.
Bấy
giờ có trăm vạn ức đại chúng, các Bồ Tát, mười tám
cõi trời Phạm, sáu cõi trời dục, mười sáu đại Quốc
vương, chắp tay chí tâm lắng nghe đức Phật tụng giới pháp
Đại thừa của tất cả Chư Phật.
Giải
thích:
Đức
Như Lai xuất hiện nơi đời đều là có nhân duyên cơ cảm,
nên người, trời, phàm, thánh vân tập, gọi là đại chúng.
Trăm vạn ức là nêu đại số tiêu biểu mà không ngoài hai
chúng đồng sanh và dị sanh.
Hỏi:
Thế nào là đồng sanh, dị sanh?
Đáp:
Có hai nghĩa:
1.
Tạp loại dị sanh, có muôn hình vạn trạng chẳng hạn như
bát bộ v.v...Bồ Tát, chúng sanh, trời, rồng, quỷ thần được
thân pháp Tánh đồng thân hình với con người, cho nên gọi
là đồng sanh.
2.
Bồ Tát đồng với nhân loại, thì gồm nhiều giai vị Bồ
Tát, còn các loại khác là dị sanh, vì Pháp giới sai biệt.
Mười
tám cõi trời Phạm gồm có 4 cõi thiền:
1.
Sơ thiền 3 cõi trời
2.
Nhị thiền 3 cõi trời
3.
Tam thiền 3 cõi trời
4.
Tứ thiền 9 cõi trời.
Phạm
là tịnh, nghĩa là tâm trần tục của họ đã thanh tịnh chỉ
còn sắc thân, nên gọi là sắc giới.
Sáu
cõi trời dục, nghĩa là chúng thiên ở cõi trời dục, tham
đắm ngũ trần dục lạc không có tâm nhàm chán nên gọi là
Dục giới thiên, gồm có 6 cõi trời:
1.
Tứ thiên vương, cõi này ở lưng chừng núi Tu Di.
2.
Đao Lợi thiên, cõi trời này ở đỉnh núi Tu Di.
Hai
cõi trời này gọi là Địa Cư thiên.
3.
Diệm Ma thiên.
4.
Đâu Xuất thiên.
5.
Hóa Lạc thiên.
6.
Tha Hóa Tự Tại thiên.
Bốn
cõi trời này gọi là Không Cư Thiên, như trước đã giải
thích.
Mười
sáu đại Quốc vương là:
1.
Ương Già
2.
Ma Kiệt Đà
3.
Ca Thi
4.
Kiều Tát La
5.
Bạt Kỳ
6.
Mạt La
7.
Chi Đề
8.
Bạt Sa
9.
Ni Lâu
10.
Bàn Xà La
11.
A Thấp Bà
12.
Bà Ta
13.
Tô La
14.
Càn Đà La
15.
Kiếm Phù Sa
16.
A Bàn Đề.
Các
nước này vốn là địa phận của 5 xứ Thiên Trúc, tất cả
có hơn 70 nước nhỏ, nay chỉ nêu số lớn là bao quát cả
số nhỏ.
Hỏi:
Dưới cội Bồ đề làm sao có thể vân tập cả trăm muôn
ức đại chúng được?
Đáp:
Như kinh Hoa Nghiêm chép: “Lầu các và cung điện dưới
cội Bồ đề đầy khắp mười phương, do thần lực của
Chư Phật gia bị, chỉ trong một niệm thảy đều bao gồm
cả pháp giới.” Nên trong hội Niết Bàn, cả rừng Ta La Song
Thọ, chừng bằng đầu mũi kim, mà dung chứa cả vô biên chúng
ngồi trong đó.
Thế
thì có thể dùng phàm tâm và tri giác của hàng Nhị thừa
mà suy lường được ư?
Chắp
tay là biểu thị thân nghiệp cung kính, tay vốn có hai bàn
hiệp lại làm một, ấy là thân tâm đều cung kính. Chí
tâm là tâm thành ý nghiệp cung kính tột độ.
Thính
giả là người nghe , tâm chuyên chú vào một cảnh nghe pháp.
Tự tịch, thân, khẩu , ý, ba nghiệp cung kính thanh tịnh tự
nhiên giới quang từ nguồn tâm thể sáng rỡ phát ra.
Đức
Phật nói với các vị Bồ Tát: “Nay Ta cứ mỗi nửa tháng,
tự tụng giới pháp của Chư Phật. Tất cả hàng Bồ
Tát mới phát tâm các ông, cho đến các Bồ Tát Thập Phát
thú, Thập Trưởng dưỡng, Thập Kim cang và Thập Địa cũng
tụng giới này. Vì thế nên giới quang từ miệng Ta phóng
ra, phóng quang là vì có duyên do, chứ chẳng phải là vô cớ.
Giới quang ấy chẳng phải màu xanh, vàng, đỏ, trắng và đen;
chẳng phải sắc pháp, chẳng phải tâm pháp, chẳng phải pháp
hữu, pháp vô, cũng chẳng phải pháp nhân, pháp quả, nó chính
là bổn nguyên của chúng Phật tử, vì thế nên chúng Phật
tử phải thọ trì, đọc tụng, phải học kỹ giới pháp này.”
Giải
thích:
Bồ
Tát là bậc tôn quý của trời, người, vì thế Bồ Tát gồm
đủ cả trời người, huống gì Đại sĩ là người thượng
thủ trong chúng đương cơ, nên đặc biệt nói với họ.
Mỗi
nửa tháng, nghĩa là nửa tháng trước hay nửa tháng sau, hoặc
nói là “Bạch ngoạt, Hắc ngoạt” (tức hai ngày 15 và 30)
. Bạch và Hắc là biểu trưng cho ác nghiệp và thiện
nghiệp. Hắc là biểu trưng ác nghiệp, muốn dứt trừ
ác nghiệp để thành tựu “Đoạn đức”. Bạch là
biểu trưng thiện nghiệp, muốn viên thành thiện nghiệp thành
tựu “Trí đức”, đây là khuôn phép của Chư Phật, nên
Phật cứ mỗi nửa tháng thường tụng để thành khuôn phép
quy củ cho Đại chúng, hiện tại cũng như vị lai, thọ trì
đọc tụng giới pháp này.
Bồ
Tát phát tâm, nghĩa là hàng Bồ Tát thập tín phát đại tâm,
Tín có nghĩa là thuận theo, tin chắc thực không còn nghi
ngờ gì nữa, là bước đầu của bậc Tam Hiền, là thềm
thang của bậc Thập trụ. Tín vị gồm 10 bậc:
1.
Tín tâm
2.
Niệm tâm
3.
Từ tâm
4.
Tịnh tâm
5.
Định tâm
6.
Bất thối tâm
7.
Hộ tâm
8.
Hồi hướng tâm
9.
Giới tâm
10.
Nguyện tâm.
Kinh
Anh Lạc chép: “Từ phàm phu địa không biết gì, nay được
gặp Phật và Bồ Tát, đối với giáo pháp Đại thừa, họ
khởi niềm tin, thì tâm Bồ đề nơi họ liền phát.” Những
người có tín tâm như thế gọi là Bồ Tát tưởng, hay Danh
tự Bồ Tát.
Người
này thực hành sơ lược 10 tâm, tức là từ Tín tâm cho đến
Nguyện tâm.
Thập
Phát thú: Các vị Bồ Tát này từ Sơ Thập tín mà phát tâm,
họ luôn hướng đến Phật quả nên gọi là Phát thú hay Thập
Trụ vị, vì ở sau tín vị, trí tuệ của họ luôn trụ nơi
lý, được ngôi vị bất thối, nên gọi là Trụ vị.
Thập
trưởng dưỡng: Các vị ở ngôi vị Bồ Tát này từ chơn
nhập tục, để làm việc lợi sanh, nuôi dưỡng thánh thai,
nên gọi là Trưởng dưỡng, tức là Thập hạnh. Từ
Thập trụ, họ phát chơn tỏ ngộ diệu lý, luôn tấn thú
hướng tới nên gọi là “hạnh”.
Thập
kim cang, chính là Thập Hồi hướng vị, hàng Bồ Tát này,
trên bước đường tu hành luôn luôn chú tâm vào việc hồi
nhân hướng quả, hồi hướng công đức của mình cho khắp
tất cả chúng sanh, hồi hướng công đức năng tu và sở tu
đến pháp giới. Tánh chắc như kim cang, không gì phá
hoại được, nên gọi là “kim cang”. Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi hướng, 30 loại tâm ấy chia thành sơ, trung, hậu,
đều là Bồ Tát ở giai vị “Tam Hiền”.
Thập
địa: Là các bậc Bồ Tát ở ngôi vị này có trách nhiệm
đưa người ra khỏi bể khổ sanh tử bằng phương pháp giáo
hóa họ, mà luôn luôn trụ nơi Phật trí và làm chỗ nương
tựa cho chúng sanh, cũng như đất liền sanh ra muôn vật.
Lại nữa, đất này cũng là nơi sanh ra vô lượng pháp môn
nên gọi là “Thập địa”. Đây là các Thánh vị trong
hàng Bồ Tát. Như trước đã nêu, Bồ Tát là chỉ cho
Đại sĩ từ sơ phát tâm Thập địa cho đến Đẳng giác Diệu
giác, đều từ giới phẩm này mà thành tựu, giới này chính
là Tâm địa pháp môn mọi người sẵn đủ.
Đây
là nói từ phàm cho đến Thánh, mỗi nửa tháng cũng tác pháp
bố tát, nên nói cũng tụng như vậy. Bởi vậy Phật
trước, từ miệng phóng ra vô lượng quang minh, rồi nói.
Nay cũng từ miệng phát ra ánh sáng là “duyên”, có duyên
ắt phải có nhơn, nên phóng quang, đặc biệt hiển bày tánh
thế giới này, là bổn nguyên tâm địa, không phải là vọng
cảnh, nên nói không phải xanh, vàng, đỏ, trắng và đen ,
v.v... vì không vướng vào vọng tình nên không là sắc, là
tâm. Không xa rớt vào hai bên Đoạn và Thường, nên nói
chẳng phải có, chẳng phải không. Thể của nó vốn
tự viên thành, không lạc vào pháp quyền thừa tu chứng mà
có, nên không phải nhơn và quả.
Chư
Phật dùng Tâm địa giới này làm cội gốc tu hành. Bồ
Tát tu pháp lục độ vạn hạnh tự lợi và lợi tha, cũng
y vào Tâm địa giới này làm nền tảng tấn tu.
Tất
cả chúng sanh thành Phật ở tương lai cũng y Tâm địa này
làm căn bản tấn thú tu tập, thế nên Phật ba lần khuyên
nhắc tất cả nên thọ trì , đọc tụng và học kỹ.
Hành
giả khi lãnh thọ giới pháp, qua lối truyền dạy của giới,
đưa vào tâm tư gọi là “thọ giới”, giữ gìn cẩn mật,
không sai phạm gọi là “trì giới”. Miệng đọc tụng giới
kinh gọi là “đọc tụng”, làu thông luật văn, thấu triệt
nghĩa luật gọi là “thiện học” (học kỹ).
Phật
tử lắng nghe: “Nếu là người thọ Bồ Tát giới rồi, không
luận là Quốc vương, Vương tử, Bá quan, Tể tướng, Tỳ
kheo, Tỳ kheo Ni, mười tám cõi trời phạm, sáu cõi trời dục,
thứ dân, huỳnh môn, dâm nam, dâm nữ, nô tỳ, tám bộ quỷ
thần, thần Kim cang, súc sanh, cho đến kẻ biến hóa, chỉ
cần hiểu được lời nói của Pháp sư, tất cả đều được
thọ giới, đều được gọi là Thanh tịnh thứ nhất.”
Giải
thích:
Phần
này nêu bày bổn nguyên Tâm địa giới, mà tất cả chúng
sanh sẵn đủ. Tâm địa ấy vốn xưa nay thanh tịnh thể
tự làu làu sáng rỡ, không nhiễm, không tịnh, không tất
cả nên không lựa chọn sang hèn, trí ngu, cao thấp,v.v...
Người,
chẳng phải người, cho đến phi nhơn , nếu ai có thể lãnh
hội được lời truyền dạy của Pháp sư thì tất cả đều
được thọ giới. Đó là điều đặc biệt nhứt của
giới pháp Đại thừa. Từ Tâm địa giới này mà được,
vì giới này thuộc về tâm giới, nên vấn đề lãnh thọ
không như giới Thanh văn (Tỳ kheo ni giới). Khi hành giả
lãnh thọ, cần phải đủ năm duyên mới thành tựu giới pháp,
năm duyên ấy nếu thiếu, tác pháp không thành. Hơn nữa,
giới sư lại phải kiểm tra xác định lại, nếu giới tử
nào vướng vào 13 giá nạn hoặc lục căn bất cụ không được
thọ giới, còn Đại thừa Bồ Tát không như vậy, chỉ lựa
bảy giá nạn, ngoài ra đều gọi là Pháp khí thanh tịnh.
Tỳ
kheo bẩm thọ giáo pháp của Phật, thế phát mặc áo hoại
sắc là ngôi Tam bảo trụ trì ở thế gian, làm ruộng phước
cho đời và khuôn phép cho người, trời. Nếu không phải
là Pháp khí thì giới thể không phát sanh, do đó cần phải
lựa chọn.
Còn
Bồ Tát thành Phật quả là do tâm thành hoặc tại gia hay xuất
gia ẩn hiện không nhứt định, nên chẳng phải là trụ trì
thế gian. Vì thế, chỉ cần hành giả phát tâm Bồ đề
liền được thọ giới.
Quốc
vương là bậc nhơn chủ, Bá quan là văn võ triều thần, Tể
tướng là bậc lớn giúp vua về Quốc sự.
Tỳ
Kheo, Trung Hoa dịch là Trừ cẩn nam. Tỳ kheo ni là Trừ
cẩn nữ. Khi Như Lai mới thành đạo, chưa có hai chúng
xuất gia, nên trước cho phép hai chúng đều được thọ chánh
giới này.
Thứ
dân là trăm họ trong nước. Huỳnh môn là Hoạn quan nội
giám, huỳnh là trung, vua sai người này giữ gìn trong nội
cung, để giúp việc giao thông, sứ mạng của nội cung nhà
vua. Nay chẳng luận nội quan hay phi nội quan, chỉ không
có nam căn là Huỳnh môn.
Tám
bộ Quỷ Thần gồm:
1.
Chư Thiên các trời dục giới, sắc giới, đây nói Bát bộ
hoặc là Tứ Thiên vương trở xuống ba cõi trời và các Thiên
thần.
2.
Các Rồng.
3.
Chúng Dạ xoa, Trung Hoa dịch là Dõng kiện quỷ.
4.
Chúng Tu la, Trung Hoa dịch là Phi nhơn.
5.
Chúng Càn thát bà, Trung Hoa dịch là Hương âm, Thiên đế Dược
thần.
6.
Chúng Ca lầu la, Trung Hoa dịch là Kim sí điểu.
7.
Chúng Khẩn na la, Trung Hoa dịch là Nghi thần, Kỳ thần của
trời Đế Thích.
8.
Ma hầu La già, Trung Hoa dịch là Phúc hành Địa long (đi bằng
bụng, bò sát đất).
Kim
cang thần, tay cầm chày kim cang, xô dẹp tà ma, ủng hộ chánh
pháp.
Súc
sanh là chỉ chung cho các loài lục súc (trâu, bò, chó, lợn,
dê, v.v...) hình dáng chúng sanh này đi ngang bằng bốn chân
hoặc hai chân gồm chung tất cả cầm thú.
Hóa
nhơn là trời rồng quỷ thần, tự biến thân làm hình người
để cầu thọ giới, như xưa có một con rồng hóa thành người
đến xin thọ giới Tỳ kheo, Phật biết nên không chấp nhận.
Nay
Tâm địa đại giới này thuộc về Đại thừa giới, cho tất
cả chúng sanh đều được thọ giới, ví như Phật Thích Ca
theo lời dạy của Phật Lô Xá Na khuyến hóa nhắc nhở cho
tất cả loài hữu tình đều được thọ giới pháp này.
Như nước trăm sông chảy về biển cả, đều không còn tên
riêng của nó mà chỉ còn một vị nước biển mặn mà thôi.
Vì khiến cho tất cả chúng sanh trở về bản nguyên tự tánh
thì không còn phân chia giai cấp sang hèn, giàu nghèo, trí ngu,
cao thấp nữa, chỉ đồng một tên Đại sĩ giới Nhứt Tâm
địa mà thôi.
Kinh
Anh Lạc chép: “Hành Bồ Tát đạo, nếu có trang thiện nam
tử và thiện nữ nhơn nào, nhẫn đến kẻ nô tỳ, người
biến hóa, tất cả đều được thọ giới, đều có tâm hướng
đến Phật quả, vì sơ phát tâm xuất gia là muốn nối ngôi
vị Bồ Tát rồi, trước nên thọ chánh giới vì chánh giới
này là cội gốc Công đức tạng. Tất cả các hạnh
chánh đồng với Phật quả đều từ giới này phát sanh.”
Công
năng của giới này, hay trừ diệt tất cả tâm niệm xấu,
giới này là gương sáng chánh pháp.
Hỏi:
Sao không nói cõi Vô sắc giới và địa ngục súc sanh?
Đáp:
Cõi Vô sắc không có thân, địa ngục khổ có đủ, cả hai
đều chẳng phải pháp khí (không kham lãnh nổi).
MỤC
LỤC