III.
MỘT PHẬT THUYẾT PHÁP
1.
Mười nơi thuyết pháp
Lúc
bấy giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ lúc mới hiện thân
thế giới Liên hoa Đài tạng, từ Đông phương đến Vương
cung cõi trời này nói kinh, giáo hóa chúng trời, rồi Ngài
giáng sanh cõi Diêm Phù Đề, nước Ca Tỳ La.
Mẹ
Ngài là Hoàng hậu Ma Da, Cha tên Bạch Tịnh, Ngài tên Tất
Đạt, 7 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo, hiệu là Thích
Ca Mâu Ni Phật, ở nơi Tịch diệt đạo tràng, ngồi tòa Hoa
Quang Vương, cho đến Vương cung cõi trời Ma Hê Thủ La, trong
thời gian đó, lần lượt nói pháp, cả thảy mười nơi.
Giải
thích:
Trước
nói về ngàn Phật, ngàn trăm ức Thích Ca nói pháp trong trăm
ngàn ức thế giới, nay nói về một thế giới, một đức
Phật Thích Ca giáng sanh, nói rõ quốc độ, tên họ cha mẹ,
xuất gia tu đạo thành Phật, tóm tắt đại lược về việc
lợi sanh.
Đông
phương, nghĩa là thế giới có một mặt trời, một mặt trăng
này ở phía Đông trong thế giới Hoa tạng, nên kinh Anh Lạc
chép: “Trong một pháp giới, có quả báo của một cõi.
“Đối với tất cả pháp hữu vi, hoặc phàm hoặc thánh,
nếu thấy mà chấp đắm, hoặc pháp nhơn pháp quả, cũng không
ngoài pháp giới. Chỉ có riêng Phật là người sống
ngoài pháp giới, sau lại trở vào pháp giới tạng, chỉ rõ
thiện, ác, tốt, xấu, vô lượng quả báo sai khác cho những
chúng sanh vô minh sâu dày.
Cung
Thiên Vương, là nơi tất cả Phật xuất thế. Đầu tiên Phật
ở cõi trời Đâu Suất Thiên cung để giáo hóa các Thiên tử
ở cõi này, xong Ngài giáng sanh xuống cõi Nam Diêm Phù Đề.
Ma
Thọ hóa, nghĩa là theo các kinh điển Phật nói trời Đâu
xuất không có ma, các Thiên tử cõi trời thường tu pháp môn
Hỷ túc định nên không có ma ở cõi này. Vương cung
cõi trời Ma Hê Thủ La ở Tứ Thiền thiên là chót đỉnh cõi
sắc giới. Tứ Thiền có 9 cõi trời, 5 cõi trời trên
gọi là “Ngũ bất hoàn thiên” - thuộc cõi sắc giới, đây
đều là chỗ ở của các vị Thánh nhơn đã chứng A Na Hàm,
là quả thứ ba trong tứ quả Thanh văn Nhị thừa. Trên
đỉnh cõi sắc giới có cung điện Tỳ Lô Giá Na, các vị
đại Bồ Tát thường tập hợp trên đó nên không có ma.
Phật ở trong cung điện Ma vương, nơi cõi trời Tha Hóa nói
pháp, khiến cho ma được thọ hóa rồi, mới đến cõi trời
Đâu Suất, hoặc ma tự đến cõi trời Đâu Suất thọ hóa.
Trong
Tập Chú ghi: “Đâu Suất thiên còn ở trong dục giới, trong
bảy cõi trời Phạm Thế, vì Phật thường ở trong đạo pháp,
nên cung Ma thường bao hàm hết trong đó. Lúc Thế Tôn
ở cung trời Đâu Suất, Ngài có tên là Bồ Tát Hộ Minh.
Nước
Ca Di La, Trung Hoa dịch là Xích Trạch; hay Ca Tỳ La, Trung Hoa
dịch là Huỳnh Sắc, nghĩa là từ xa xưa có vị tiên tóc vàng
tu đạo ở đây, nên lấy đó đặt tên. Đây thuộc địa
phận Thiên Trúc. Thiên Trúc gồm có 12 nước, Ca Di La
chính là trong địa phận Nam Thiệm Bộ Châu. TIếng Phạn
Ma Ha Ma Da, Trung Hoa dịch là Đại Huyền, cũng gọi là Đại
Trí Mẫu, nghĩa là Bồ Tát thành tựu Đại nguyện Trí huyễn
giải thoát môn, dùng Đại Huyễn Thuật, thường làm mẹ chư
Phật. Ngày 8 tháng 7 âm lịch, Hộ Minh Bồ Tát từ cung
trời Đâu Suất cỡi Đại bạch tượng vương vào hông phải
bà mẹ mà thụ thai. Căn trí Đại thừa thấy Bồ Tát
nương lầu các chiên đàn, trụ trong thai mẹ. Phụ vương
tên Duyệt Đàn Đầu, Trung Hoa dịch là Tịnh Phạn, nay gọi
là Bạch Phạn – tuy hai nghĩa nhưng ý chỉ là một.
Tất
Đạt, Trung Hoa dịch là Đốn Kiết, nghĩa là Phật đản sanh,
ngày mồng 8 tháng 4, các điềm lành kiết tường, liền thời
xuất hiện. Còn dịch là Nhứt Thiết Nghĩa Thành, đây
là tên chữ của Phật khi còn tuổi nhỏ. Bảy tuổi,
Ngài xuất gia. Các kinh đều nói 19 tuổi hoặc 24 tuổi,
nay nói 7 tuổi hoặc 24 tuổi xuất gia. Đầu tiên Ngài
đến tham vấn các vị tiên nhơn, biết chỗ sở đắc của
họ là chẳng phải chánh đạo. Thật ra, ngay từ khi Bồ
Tát mới 7 tuổi, ở nơi vườn ngự uyển, ngồi dưới gốc
cây Diêm phù, Ngài tu đạo ly dục tịch tĩnh rồi, một năm
trôi qua, vì muốn hàng phục các hàng ngoại đạo, thị hiện
tu tập 6 năm khổ hạnh cộng thành 7 năm, thế nên nói 7 tuổi
xuất gia, 30 tuổi thành đạo. Có kinh nói 19 tuổi, nửa
đêm ngày 15 tháng 2, Ngài cưỡi ngựa Kiền trắc vượt thành
xuất gia, 6 năm tu hành khổ hạnh, 5 năm đi du hóa, 30 tuổi
thành đạo.
Đây
tất cả đều do Như Lai tùy cơ ứng hóa, chẳng phải trí
hiểu biết của phàm phu, Nhị thừa có thể lường được,
hoặc là đương thời các nhà phiên dịch tạm ước định
thế thôi. Người xưa thận trọng, họ không dám sửa
đổi.
Thích
Ca, Trung Hoa dịch là Năng Nhơn – là họ. Mâu Ni, Trung Hoa dịch
là Tịch Mặc – là tên. Từ Phật xa xưa đã thọ ký cho Ngài
được Thánh hiệu này, cũng nói thuở xa xưa Như Lai làm người
thợ gốm cúng dường Cổ Phật Thích Ca, tự phát thệ nguyện,
nguyện đồng danh hiệu như đức Phật kia.
Tịch
diệt Đạo tràng, chính là dưới cội cây này thành đạo
giác ngộ, tòa này là chỗ chứng Đại Tịch diệt đạo Niết
Bàn, hoặc nói Tịch ngũ trụ phiền não, dứt hai thứ sanh
tử (phần đoạn và biến dịch) là nơi đắc đạo.
Kinh
Hoa Nghiêm chép: “Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ngồi nơi tòa
này, rõ suốt tất cả pháp rồi thành bậc tối chánh giác.”
Nhưng pháp thân thì vốn không thành, vượt ra ngoài chướng
ngại gọi là thành, báo thân tứ trí tròn sáng là thành, hóa
thân tám tướng ngồi dưới gốc cây Bồ đề là thành.
Nên nói: “Thích ứng với vật nên gọi là thành thân, tùy
nghi đặt tên.”
2.
Nhơn duyên khởi giáo
Khi
ấy Phật quán xem mành lưới báu của các trời Đại Phạm
Thiên Vương, nhân đó nói vô lượng thế giới cũng như lỗ
lưới, mỗi mỗi thế giới, đều khác nhau không đồng, có
vô lượng sai khác, pháp môn của Phật cũng lại như thế.
Giải
thích:
Đại
phạm Thiên Vương, nghĩa là ba ngàn Đại Thiên thế giới,
có muôn ức Đại Phạm Thiên Vương. Đại ở đây, chẳng
phải Đại Phạm Thiên Vương trong cõi trời sơ thiền, mà
là Đại Tự Tại Phạm vương ở cõi trời Tứ Thiền.
Xét
trong phẩm trước, thì có vô lượng Đại Phạm Thiên Vương.
Đây tổng nêu các trời Phạm Vương trong thế giới đến
nhóm họp nhiều như vi trần.
Mành
lưới báu, nghĩa là nhiều muôn mặt lưới, lớp lớp trùng
trùng, vô lượng sai khác, mà ánh sáng hạt châu chiếu rọi
vào nhau, không ngăn ngại nhau. Chư Phật tùy cơ thuyết
giáo, cũng đều sai khác vô lượng, nhưng không hề bị ngăn
ngại.
3.
Giáng sanh không phải một
Nay
Ta đã đến thế giới Ta Bà này tám ngàn lần, ngồi trên
tòa Kim cang Hoa quang, cho đến Vương cung cõi trời Ma Hê Thủ
La, vì tất cả đại chúng trong đây nói sơ lược Tâm địa
pháp môn.
Giải
thích:
Pháp
thân Như Lai, nghĩa là thể của pháp thân vắng lặng như hư
không , vốn đã lìa tướng năng và sở, động tịnh, sanh
diệt, qua lại. Nên kinh Đại Bát Niết Bàn chép: “Như
Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ”, nghĩa là pháp
thân Như Lai không từ đâu đến và cũng không đi về đâu.
Nay nói tám ngàn lần, chính là đại dụng của Như Lai, dùng
Bi trí lợi sanh mà thôi.
Kinh
Hoa Nghiêm chép rằng: “Như Lai vốn không có thân, vì chúng
sanh nên Ngài thị hiện thân kia.” Pháp thân thì vô sanh
mà không chỗ nào là không có, có tất cả tướng. Pháp
thân và Hóa thân không có dị thể, do cơ cảm của chúng sanh,
thì thấy Phật cũng xuất thế , khi duyên hết thì thấy Phật
nhập diệt. Như áng mây che mặt trời, kẻ ngu muội
liền cho Phật diệt độ. Khi mây tan mặt trời hiện,
lại bảo rằng Phật xuất hiện. Chúng sanh cũng vậy,
nghiếp chướng nặng không thấy được mặt trời trí tuệ,
nghiệp nhẹ thấy được Phật xuất hiện nơi đời, chỉ
do cơ cảm của chúng sanh chứ Phật không hề có đến
đi. Xuất thế hay diệt độ đều vì lợi ích chúng sanh
mà thôi. Nên Kinh Niết Bàn chép: “Chư Phật Như
Lai vì muốn khiến cho chúng sanh sanh tâm ham mộ, nên xuất
hiện nơi đời, muốn khiến cho chúng sanh sanh tâm ngưỡng
mộ và luyến tiếc, nên thị hiện nhập Niết bàn.”
Theo các kinh khác, trăm ngàn chỉ là số lớn của tục ngữ
mà thôi. Như kinh Niết Bàn chép: “Ta tuy ở cõi Diêm Phù Đề,
thường thường thị hiện nhập Niết bàn, nhưng thật ra ta
đâu thực nhập Niết bàn.” Như Lai tánh thực ra không
diệt, thế nên phải biết đây là pháp thường trụ, pháp
không thay đổi. Đại Niết Bàn tức là pháp giới của
Phật Như Lai. Chúng sanh cho rằng Ta mới thành Phật, nhưng
thật ra trong vô lượng kiếp việc làm đã xong vì tùy thuận
pháp thế gian, nên Ta thị hiện ở cõi Diêm Phù Đề, xuất
gia cho đến thành đạo.”
Kinh
Pháp Hoa chép: “Thực ra Ta đã thành Phật từ vô lượng,
vô biên, vô số kiếp đến nay. Trăm ngàn muôn ức Na
Do Tha kiếp, Ta thường ở cõi Ta Bà này, thuyết pháp giáo
hóa chúng sanh khắp mọi nơi, cả trăm ngàn Na Do Tha A Tăng
Kỳ, cõi nước, dẫn dắt chúng sanh, thọ mạng của Ta cũng
vô lượng A Tăng Kỳ kiếp thường trụ bất diệt, chẳng
phải thực diệt độ, nhưng Ta nói: Sẽ diệt độ” đó là
Như Lai dùng phương tiện để giáo hóa chúng sanh.
Hỏi:
Như Lai đã thành Phật từ lâu xa, sao không tự hiện thân
thuyết pháp mà lại giáng sanh vào Vương cung Tịnh Phạn và
Hoàng Hậu Ma Da để xuất gia tu đạo?
Đáp:
Nếu không làm vậy, kẻ phàm phu vô trí sẽ nghi Phật là hóa
nhơn, hoặc cho rằng người không có cha mẹ, vợ con, tông
tộc, mới có thể đắc đạo; còn phàm phu làm sao đắc đạo,
nên không chịu tu tập noi theo, đây chính là diệu dụng mà
Như Lai thị hiện, phương tiện độ sanh.
Ta
Bà, Trung Hoa dịch là Năng Nhẫn, cũng gọi là Kham Nhẫn,
nghĩa là chúng sanh ở thế giới này hay kham nhẫn, chấp nhận
chịu khổ tam độc (tham, sân, si) và các khổ phiền não mà
không sanh tâm nhàm lìa để cầu giải thoát.
Cho
đến, nghĩa là mười nơi thuyết pháp này, trước là tòa
kim cang, sau cùng là cung Thiên vương, ngoài ra còn 8 nơi khác
ở hết trong đó.
Trước
nói Thiên Quang Vương tòa, nay nói Hoa Quang Vương tòa,
vì từ ngàn Phật cũng đều xuất phát từ Hoa Quang tam muội
mà ngồi tòa này. Đại địa chấn động, mà tòa này
nghiễm nhiên bất biến, chính là tiêu biểu thực tướng Tâm
địa giới thể, cũng như chất kim cang, hay phá trừ được
tất cả phiền não mà không bị phiền não làm dao động.
Vì
tất cả đại chúng trong đây, nghĩa là đại chúng thập trụ
xứ, lược nói trăm ngàn hằng hà sa pháp môn trong tâm địa,
như chừng đầu sợi lông rồi sau mới vì hàng địa thượng
phàm phu mà nói, văn sau sẽ nêu rõ.
4.
Nói giới cho phàm phu
Phật
từ cung Thiên Vương, cho đến Nam Diêm Phù Đề, dưới cội
Bồ Đề, vì tất cả chúng sanh , kẻ phàm phu si ám, nói Tâm
địa Phật Lô Xá Na. Người sơ phát tâm nên đọc tụng
Kim cang Quang minh Bảo giới này, là bổn nguyên của tất cả
Phật, tất cả Bồ Tát, là Phật tánh chủng tử của tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả ý thức, sắc tâm
là tình, là tâm đều ở trong Phật tánh giới, thường có
chánh nhân, thường có pháp thân thường trú.
Giải
thích:
Trước
vì Đại chúng Bồ Tát mà nói, nay vì hàng phàm phu trước
quả vị Thập địa mà nói. Si là không biết chánh pháp,
vọng sanh tà kiến, Ám là vô minh phiền não, che lấp tâm địa.
Như
Lai vì lòng từ bi thương xót hạng người này nên tám ngàn
lần qua lại cõi Ta Bà để truyền nói chánh giới của Phật
Lô Xá Na. Ba đời Chư Phật đều thọ chánh giới này
trước để làm chánh nhơn thành Phật, nên nói trong khi mới
phát tâm thường nên đọc tụng giới này.
Giới
chính là Kim cang Quang Minh Bảo Giới, là 10 giới trọng, 48
giới khinh. Quang minh nghĩa là ánh sáng của giới này
hay phá trừ nhà si ám, vô thỉ vô minh.
Báu
của Kim cang, nghĩa là thể chất của giới này chắc như kim
cang
hay phá hoại tất cả mọi vật mà không bị các vật phá
hoại nó, dụ đây là chánh giới, hay xô dẹp được tất
cả phiền não, núi kiêu mãn tà kiến, lại hay phát sanh vô
lượng pháp tài công đức, nên gọi là báu. Tất
cả chư Phật Bồ Tát đều lấy giới này làm hột giống
Phật tánh bổn nguyên.
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, nghĩa là ở Thánh, tánh
này không thêm và ở phàm, tánh này cũng không giảm.
Nên Kinh chép: “Tất cả chúng sanh xưa nay đã thành Phật,
chỉ vì một niệm bất giác ban đầu rồi khởi lên vô minh
vọng động, thành ra tối tăm si ám, tự mình làm chướng,
nên Phật khiến cho thọ chánh giới này để khai thông.
Chướng kia đã trừ thì Phật tánh tự hiện.”
Ý
thức sắc tâm, nghĩa là một thể nhứt chơn pháp giới, do
không giữ được thể chơn như, nên mới có tên là Tâm, Ý,
Thức. Tên gọi tuy có ba, mà thể của nó vốn không hai
Ý
thức, chính là tên khác của tâm, nghĩa là phàm phu vọng động
bỗng nhiên tập khởi gọi là Tâm, tiếp theo tâm suy lường
gọi là Ý, sau sanh niệm phân biệt gọi là Thức.
Sắc
là sắc chất, chính là sắc thân tứ đại.
Tình
và tâm này đều thể nhập trong Phật tánh giới, nghĩa là
Tình, là tên khác của ý thức, chính là phát minh thấy rõ
tất cả sắc tâm của chúng sanh đều có Phật tánh, ngoài
tâm này ra không có Phật tánh nào nữa cả. Các pháp
cũng như thế, chỉ có một thể, nên nói A Lại Da Thức, chính
là Như Lai tàng là thế.
Đương
đương, nghĩa là hành giả lãnh thọ giới này, tu hành như
pháp, đó là chánh nhân quyết định thành Phật, có chánh
nhơn này rồi, quyết định hằng trụ cực quả thanh tịnh
pháp thân.
Ví
như vàng đã ra khỏi quặng không bao giờ trở lại quặng
nữa, nên nói là Thường.
Trong
Kinh Tâm Địa Quán có bài kệ rằng:
Chúng
sanh vốn có Bồ Đề chủng
Đều
nằm trong thức A Lại Da
Nếu
gặp bạn tốt phát đại tâm
Dùi
mài ba chủng tu diệu hạnh
Dứt
sạch phiền não sở tri chướng
Chứng
đắc Như Lai thường trụ thân.
Mười
Ba-la-đề-mộc-xoa này xuất hiện nơi đời. Giới pháp
này tất cả chúng sanh trong ba đời đều lãnh thọ phụng
trì.
Giải
thích:
Ba-la-đề-mộc-xoa
,Trung Hoa dịch là Bảo giải thoát, nghĩa là hay giữ gìn chúng
sanh khiến cho họ chắc chắn được giải thoát khỏi vô minh
phiền não, mà chứng đắc pháp thân thanh tịnh.
Mười
giới, tức là 10 giới trọng, ở nhơn năng trì gọi là Ba-la-di,
ở quả sở đắc gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa. Nay trước
nêu giới trọng, là tổng nhiếp cả giới khinh.
Xuất
hiện ở đời, nghĩa là tâm địa giới pháp này ở đời
khó gặp, Như Lai xuất thế nay mới nêu ra. Giới pháp
này chẳng phải giới pháp của Nhị thừa mà chính là đại
giới tâm địa của chánh nhân thành Phật, nên phải đê đầu
lãnh thọ, tôn trọng giữ gìn, không được quên lãng dù trong
phút chốc.
Nay
ta vì đại chúng này, nói lại phẩm Vô tận Tạng giới, là
tất cả giới của chúng sanh, là bổn nguyên tự tánh thanh
tịnh.
Giải
thích:
Nói
lại, nghĩa là trước nói rồi, sau nói lại, hoặc vì chúng
trời, người, Bồ Tát, nay vì hàng phàm phu, nên nói là Trùng
thuyết.
Phẩm
Vô Tận Tạng giới, nghĩa là giới phẩm này, tuy nói rằng
mười giới mà thực ra đã bao la không cùng tận. Giới
pháp của Bồ Tát, đầy đủ vô lượng pháp môn. Giới
là bổn nguyên tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sanh,
nghĩa là giới pháp này, trước ngàn Phật đã truyền nói,
sau là giúp khắp cho tất cả căn cơ, tăng tục, trời người,
đều vâng lãnh thọ trì, tất cả quỷ thần súc sanh đều
lãnh thọ được, vì chúng sanh và Phật cùng bản tánh thanh
tịnh. Chư Phật đã trở về nguồn tánh này, còn ở
chúng sanh thì cần phải có giới mới có thể trở về cội
nguồn. Tánh của cội nguồn vốn thanh tịnh, chẳng phải
ngoài cội nguồn mà có tánh nào khác, mà cũng chẳng có thanh
tịnh nào khác.
MỤC
LỤC