Phần
hai
GIẢI THÍCH
KINH VĂN
Xét
trong các kinh đều có 3 phần: Biệt, tựa, Chánh tông và Lưu
thông. Phẩm Tâm địa này rút từ Kinh Phạm Võng.
Đại bổn Phạm Võng gồm có 62 phẩm, phẩm Tâm địa này
chính là phẩm thứ 10 trong đó, nên không có tựa chung của
toàn bộ kinh, không có Như Thị Ngã Văn như các kinh khác,
chỉ có bài tựa riêng mà thôi. Như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh
Pháp Hoa, v.v..., mỗi phẩm đều có 2 chữ Nhĩ Thời để trước.
Nay kinh này cũng vậy, phần Chánh tông và Lưu thông nói rõ
sự lý, tánh tướng của một phẩm này, chứ không phải phần
Chánh tông, Lưu thông của cả bộ kinh. Hoa Nghiêm Sớ
Sao ghi: “Thánh nhân lập giáo đều có thứ lớp, muốn diễn
bày những lời nhiệm mầu, trước nêu rõ, rồi nhờ đó mà
đạt lý, nhờ nghĩa lý rõ ràng nên kẻ đương cơ tiếp nhận
được Pháp.” Bởi vậy đem phần Chánh tông trao cho họ,
chẳng những đôn đốc họ ngay trong pháp hội mà còn khiến
cho truyền mãi về sau, hằng thắp sáng ngọn đèn chánh pháp
được sáng mãi không cùng, nên đặt đó là phần Lưu thông.
Chẳng những chỉ bộ kinh này, hợp xứng với đương hội,
hợp xứng với các phẩm mà còn dung chứa tất cả. Nay
giải thích chỉ nêu đại khoa, không chia riêng từng khoa, e
rằng người sơ cơ học hỏi cho là khó, lại càng thêm mù
mờ. Tất cả một mảy may đều là lý huyền diệu, giai
vị Bồ Tát đủ chuyên chở nghĩa sớ và khai nghĩa ẩn mật.
Tự mình phải kiểm duyệt lấy.
(Giải
thích: Kinh chia làm 3 phần: Phần tựa, Chánh tông và Lưu thông.
Thể lệ này bắt đầu từ Pháp sư Đạo An thời nhà Tấn.
Về sau, các vị Bồ Tát chú sớ, phiên dịch từ Tây Vức
(Ấn Độ) sang đều phân làm 3 phần, mới biết lệ thường
xưa nay không thay đổi.)
A. BÀI TỰA
RIÊNG
I.
BA PHẬT TRUYỀN GIÁO
1.
Phó chúc chung
Ba
Phật là:
-
Phật Lô Xá Na.
-
Phật trên ngàn hoa.
-
Ngàn trăm ức Thích Ca.
Đức
Phật Thích Ca được truyền từ ngàn Phật, ngàn Phật được
truyền từ Xá Na Phật, Xá Na Phật được truyền từ Phật
trước. Song tất cả Chư Phật đều đủ ba thân, đó
là Tỳ Lô Biến diệu, lấy chánh pháp làm thân.
- Xá-na
hạnh viên mãn, lấy báo quả làm thân.
-
Thích Ca hóa tích, lấy phó cảm (quần cơ) làm thân.
-
Pháp thân vô tướng, chiếu sáng khắp hết mười phương.
-
Xá Na muôn đức đủ 84,000 tướng hảo nghiêm thân.
-
Kim thân của Thích Ca cao một trượng sáu, đủ 32 tướng tốt,
80 vẻ đẹp. Tiếng Phạn là Tỳ Lô Giá Na, Trung Hoa dịch
là Biến Nhứt Thiết Xứ, vì quang minh biến khắp:
*
Quang minh của thân chiếu khắp hết thảy hư không pháp giới.
*
Quang minh của trí chiếu khắp lớp lớp pháp giới, cũng gọi
là Đại nhựt. Như mặt trời ở thế gian chỉ chiếu
một bên, không soi khắp được, hoặc chỉ chiếu soi được
ban ngày, ban đêm thì không, chiếu soi một thế giới còn các
thế giới khác không chiếu soi được, thì không gọi là Đại
nhựt. Nay sắc thân pháp thân của Tỳ Lô Giá Na, chiếu
khắp pháp giới và thế giới của mười phương, thảy đều
chiếu khắp.
Trong
kinh Tâm Địa Quán có bài kệ rằng:
Thể
pháp thân biến khắp chúng sanh
Muôn
đức tự nhiên tánh thường trụ
Không
sanh, không diệt, không đến đi
Chẳng
phải, chẳng khác, không đoạn thường
Pháp
giới biến khắp như hư không
Tất
cả Như Lai cùng tu chứng
Mọi
công đức hữu vi, vô vi
Đều
nương pháp thân thường thanh tịnh
Pháp
thân bổn tánh như hư không
Xa
lìa lục trần không đắm nhiễm
Pháp
thân vô hình, lìa các tướng
Tướng
năng, tướng sở thảy đều không
Như
vậy pháp thân mầu Chư Phật
Vắng
bặt tướng hý luận, ngôn từ
Xa
lìa tất cả mọi phân biệt
Tâm
hành xứ diệt thể đều như
Vì
muốn tu chứng thân Như Lai
Bồ
Tát khéo tu cả muôn hạnh.
(Dựa
vào Báo thân, Hóa thân, nên Tâm Luận chép: “Thân trước
và thân thứ hai là y chỉ thân.”)
Lúc
bấy giờ Phật Lô Xá Na vì đại chúng này, khai mở sơ lược
trăm ngàn hằng hà sa bất khả Pháp môn tâm địa, như chừng
đầu sợi lông.
Giải
thích:
Lúc
bấy giờ, là lúc Phật Lô Xá Na nói Pháp, Trung Hoa dịch là
Quang minh biến chiếu.
- Trong
thì dùng Trí quang biến chiếu chơn pháp giới. Đây đứng
về Tự thọ dụng thân.
-
Ngoài thì dùng Thân quang biến chiếu ứng Đại cơ. Đây
đứng về Tha thọ dụng thân; Đại cơ tức Đại thừa Bồ
Tát.
Tịnh
Mãn, nghĩa là dứt hết tâm niệm xấu ác, nên nói là Tịnh,
dứt hết mọi quả báo ác, các đức thảy đều đủ nên
nói là Mãn. Đây là thực hành quả báo thiện. Phần
nhiều dựa trên Tự thọ dụng mà đặt tên. Còn Quang
minh Biến chiếu, phần nhiều dựa trên Tha thọ dụng đặt
tên. Xét trong kinh Tâm Địa Quán, Pháp thân cũng gọi
là tự tánh thân, vô thỉ, vô chung, lìa tất cả tướng, dứt
hết các hý luận, châu viên biến khắp vắng lặng thường
trụ, đây gọi là Pháp thân. Thọ dụng thân có hai :
1.
Tự thọ dụng
2.
Tha thọ dụng.
Tự
thọ dụng thân phải trải qua ba A Tăng Kỳ kiếp tu muôn hạnh,
khiến chúng sanh được an lạc lợi ích rồi, tâm Thập địa
viên mãn, ra khỏi ba cõi, trụ nơi Tịnh diệu Quốc độ, ngồi
trên bảo tòa liên hoa, có vô lượng Bồ Tát hải hội vây
quanh cung kính cúng dường, tôn trọng tán thán ngợi khen, như
thế gọi là Hậu báo lợi ích.
Lúc
bấy giờ, Bồ Tát vào Định kim cang, đoạn trừ hết tất
cả phiền não chướng và sở tri chướng vi tế, chứng đắc
Vô thượng Bồ Đề. Diệu quả đó gọi Hiện tại lợi
ích, đây là chơn báo thân, hữu thỉ vô chung, thọ lượng
kiếp số, không có hạn lượng, suốt cho đến đời vị lai
các căn tướng hảo, biến khắp pháp giới, bốn trí đầy
đủ, thọ dụng pháp lạc, đầy đủ 84,000 trí môn, đủ tất
cả các công đức, gọi là Như Lai Tự thọ dụng thân.
Còn Như Lai Tha Thọ dụng thân đầy đủ 84,000 tướng hảo,
ở cõi Chơn Tịnh độ, thuyết pháp Nhứt thừa, khiến cho
các Bồ Tát thọ dụng pháp lạc vi diệu của Đại thừa.
Tất cả Như Lai vì hóa độ chúng Thập địa Bồ Tát nên
hiện ra mười thứ Tha thọ dụng thân:
- Phật
thân ngồi trên hoa sen trăm cánh, vì hàng Sơ địa Bồ Tát
nói trăm pháp minh môn. Bồ Tát ngộ rồi, khởi đại
thần thông biến hoá, đầy khắp trong thế giới của trăm
Phật, làm an lạc lợi ích vô số chúng sanh.
-
Phật thân ngồi trên hoa sen ngàn cánh, vì hàng Nhị địa Bồ
Tát, nói ngàn pháp minh môn. Bồ tát ngộ rồi, khởi đại
thần thông biến hoá khắp hết thế giới của ngàn Phật,
làm an lạc lợi ích vô lượng vô số chúng sanh.
-
Phật thân ngồi trên hoa sen muôn cánh, vì hàng Tam địa Bồ
Tát thuyết muôn pháp minh môn. Bồ Tát ngộ rồi, khởi
đại thần thông biến hóa đầy khắp cõi nước của muôn
Phật, làm an lạc lợi ích vô lượng chúng sanh.
Như
thế, Như Lai lần lần tăng trưởng, cho đến Thập địa Bồ
Tát. Tha thọ dụng thân, ngồi trên bất khả thuyết hoa
sen báu vi diệu, vì hàng Thập địa Bồ Tát thuyết bất khả
thuyết các pháp minh môn. Bồ Tát ngộ rồi, khởi đại
thần thông biến hóa, đầy khắp bất khả thuyết các cõi
nước vi diệu của Phật và lợi ích an lạc cho các loại
chúng sanh vô lượng vô biên không thể tính kể được.
Mười thân như thế, đều ngồi tòa thất bảo dưới cây
Thọ vương, chứng đắc Vô thượng Bồ đề. Đây gọi
là Ứng thân Phật.
Trong
mỗi một cánh sen là một Tam thiên thế giới, có trăm ức
núi Tu Di và Tứ Đại Châu. Mỗi một Thiệm bộ châu
đều có tòa kim cang, cội Bồ đề Thọ vương. Các hóa
Phật đều ở dưới gốc cây, sau khi phá sạch ma quân rồi,
nhứt thời chứng đắc Vô thượng Bồ đề. Các hóa
Phật ấy, mỗi vị đều đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ
đẹp, vì các hàng Bồ tát, Nhị thừa, phàm phu mà tùy nghi
thuyết Tam thừa Diệu pháp. Các hóa Phật này, đều gọi
là Phật Biến hóa thân, nối tiếp nhau thường trú. Có
bài kệ:
Vì
giáo hóa Địa thượng Bồ tát
Một
Phật hóa hiện mười thứ thân
Tùy
cơ ứng hiện thảy không đồng
Lần
lần nhiều cho đến vô cực
Như
thế mười Phật thành chánh giác
Đều
ngồi tòa Bồ đề thất bảo
Phật
trước nhập diệt Phật sau thành
Hóa
Phật khác nhau hiện cả kiếp.
Ứng
thân, là Tha thọ dụng thân, hóa thân tức trăm ngàn ức hóa
thân, nghĩa là càng tăng đến chỗ vô cực, chứ đâu phải
chỉ ngàn trăm ức mà thôi. Nên chánh văn ghi: “Trăm
ngàn vạn đến bất khả thuyết.” Đại Tiểu hóa Phật
đều ngồi Bồ đề thọ, chính là phần lưu thông của kinh
này nói: “Vi trần thế giới là Phật.” Còn “Đại
chúng” tức là chỉ cho Phật trên ngàn hoa và ngàn trăm ức
Thích Ca.
Xét
trong phẩm Thượng, khi ấy đức Phật Thích Ca đưa đại chúng
ở thế giới này trở về Liên Hoa Đài tạng, gặp Phật Lô
Xá Na, Phật rộng khai và chỉ rõ pháp môn tu của hàng Tam
Hiền và Thập Thánh để khiến cho họ trở về cội nguồn
Phật quả. Như vậy phải biết, chẳng phải chỉ có
ngàn Phật, ngàn trăm ức Phật mà thôi.
Vì
đại chúng, tức là vì hằng hà sa người (người nhiều như
cát sông Hằng). Con sông này nằm ở trung Thiên Trúc, rộng
40 dặm, cát của sông này mịn như bột gạo. Cát của
một con sông đã nhiều vô cùng, huống chi số cát trăm ngàn
sông, lẽ đâu cùng tận. Nên nói bất khả thuyết, bất
khả thuyết. Cũng như nói: “Số thứ 9 trong 10 số lớn
là để dụ cho pháp môn rộng lớn vô cùng vô tận.”
Nay đối với pháp môn vô cùng vô tận mà chỉ nói Tâm địa
Pháp môn thôi, nên ví như chừng đầu sợi lông là vậy, còn
cát một sông trăm ngàn sông cũng thế.
Pháp
môn tuy nhiều cũng không ngoài tâm địa. Nói đến Tâm
địa chính là bao gồm hết muôn pháp. Đây cũng là dùng
ít nhiếp nhiều. Kinh Niết Bàn chép: “Phật ở trong
rừng, Ngài cầm trong tay ít lá cây bảo các Tỳ Kheo: Tất
cả các Pháp mà Ta chứng biết nhiều như lá cây trong Đại
địa, còn pháp diễn nói cho chúng sanh chỉ bằng lá cây trong
tay Ta mà thôi.” Thí dụ về pháp môn cũng giống như
thí dụ này vậy.
Đây
là tất cả Phật quá khứ đã nói, tất cả Phật vị lai
sẽ nói, Phật hiện tại đang nói. Ba đời Bồ Tát đã
học, đương học và sẽ học.
Giải
thích:
Phật,
tiếng Phạn nói đủ là Phật Đà, Trung Hoa dịch là Giác.
Giác có ba nghĩa:
1.
Tự giác: Như người tỉnh thức sau giấc mộng dài (đại
mộng). Đây là vượt hơn phàm phu.
2.
Giác tha: Đã vượt hơn Nhị thừa, vì Nhị thừa chú
trọng cho mình nhiều hơn, không có tâm lợi tha, chỉ mong tự
lợi, nên gấp ra khỏi sanh tử ba cõi. Còn Phật Như Lai
chứng đắc bình đẳng trí, được pháp tánh không, vận tâm
vô duyên từ vào cảnh giới ma, độ khắp chúng sanh, khiến
họ an vui, nên gọi là Giác tha.
3.
Giác hạnh viên mãn: Khác hơn Bồ Tát, vì hàng Bồ Tát tuy
khởi lòng từ độ khắp chúng sanh nhưng giác hạnh chưa được
viên mãn, chỉ có Phật, tâm cảnh đều lìa, Căn bản trí
được hiển lộ toàn vẹn, Ngũ trụ phiền não đã tận diệt,
hai thứ sanh tử không còn, ba giác đã trọn, muôn đức đã
đủ, đầy đủ mười hiệu, nay chỉ nên một hiệu là Như
Lai thì mười hiệu đồng bày.
Ba
đời chư Phật đã nói Pháp này; ba đời đó là quá khứ,
hiện tại và vị lai. Đức Xá Na tuy nói rằng: Chừng
đầu mảy lông nhưng thực ra ba đời chư Phật cùng thuyết,
ba đời Bồ Tát cùng học, vì sao vậy? Vì tâm là nguồn
gốc của muôn pháp. Nêu tâm thì muôn pháp đều đủ,
nên Chư Phật đồng thuyết, Đại sĩ đồng học.
Ta
đã trăm ngàn kiếp tu hành môn Tâm địa này, ta được hiệu
là Lô Xá Na, Chư Phật các ông truyền lời ta đã nói để
khai mở tâm địa cho tất cả chúng sanh.
Giải
thích:
Ngã,
nghĩa là chính Chơn ngã được Bát tự tại của Như Lai, chẳng
phải vọng ngã do phàm phu chấp ngũ uẩn thân tâm là ngã.
Kiếp, tiếng Phạn nói cho đủ là Kiếp-ba-cấp-đà, Trung Hoa
dịch là Thời phần, nghĩa là rất lâu xa, chẳng phải năm
tháng có thể tính biết được.
Kinh
Anh Lạc chép: “Thí như một dặm, hai dặm cho đến mười
dặm đá, bề rộng cũng chừng ấy. Dùng y trời nặng
3 thù, theo ngày tháng ở nhân gian, cứ 3 năm lau bụi một lần,
lau đến khi nào đá này mòn hết, thì gọi là một tiểu kiếp.
Từ một dặm, hai dặm, cho đến 40 dặm cũng gọi là 1 tiểu
kiếp. Lại nữa, đá dài 800 dặm, rộng cũng ngần ấy, dùng
y trời Phạm Thiên nặng 3 thù, lấy trăm thứ châu ngọc sáng
rỡ của trời Phạm Thiên làm ngày tháng, cứ 3 năm lau 1 lần,
lau đến khi nào đá này mòn hết, thì gọi là 1 trung kiếp.
Lại nữa, đá dài 800 dặm, rộng cũng ngần ấy, dùng y trời
Tịnh Cư nặng 3 thù, lấy ngàn thứ bảo quang minh cảnh làm
ngày tháng, cứ 3 năm lau 1 lần, lau đến khi nào đá này mòn
hết, thì gọi là 1 Đại A Tăng Kỳ Kiếp. Nếu 1 dặm,
2 dặm, cho đến 10 dặm đá hết, thì đó gọi là một dặm
kiếp, 2 dặm kiếp v.v...Nếu 50 dặm đá hết, thì gọi là
50 dặm kiếp. Trăm dặm đá hết thì gọi là trăm dặm
kiếp. Ngàn dặm đá hết thì gọi là ngàn dặm kiếp,
vạn dặm đá hết thì gọi là vạn dặm kiếp.” Tất
cả Hiền Thánh vào số lượng này, tu tất cả pháp môn, trải
qua thời gian lâu hoặc mau, mà được quả Phật. Thời
gian ấy có thể đến trăm kiếp mới chứng đắc Đẳng giác.
Nếu tất cả chúng sanh vào trong số này, không bao lâu sẽ
được thành Phật. Nếu không ở trong số này, thì không
được gọi là Bồ Tát.
Nay
nói trăm kiếp tu hành, như phẩm Thượng ghi: “Trăm A Tăng
kỳ kiếp.” ở đây có thể do lược bớt kinh văn. Xét
trong các kinh khác đều ghi: “Như Lai tu hành 3 Đại A Tăng
kỳ kiếp, hoặc hơn thế nữa.” Lại trong trăm trung
kiếp tu nhân tướng hảo, nên nói trăm kiếp là vậy.
Ngài Thiên Thai Trí Giả dẫn Trí Độ Luận, Câu Xá Luận,
Bà Sa Luận, v.v..., mà nói rằng: “Đức Như Lai từ cổ Phật
Thích Ca đến Phật Thi Khí, Ngài gặp 75,000 Phật, gọi đó
là A Tăng Kỳ đầu tiên (chẳng phải Phật Thi Khí trong thất
Phật). Từ Phật Thi Khí đến Phật Nhiên Đăng, gặp
76,000 Phật, gọi đó là A Tăng Kỳ thứ 2, được thọ ký
biệt hiệu là Thích Ca Văn. Từ Phật Nhiên Đăng đến
Phật Tỳ Bà Thi, gặp 77,000 Phật, gọi là viên mãn A Tăng
Kỳ thứ 3.” Từ kiếp đầu tiên đến đây, tu Lục
độ đã xong, lại trụ trăm kiếp, tu nhân của 32 tướng tốt,
80 vẻ đẹp, nên Kinh Hiền Ngu chép: “Phật nói: Ta trải qua
ba A Tăng Kỳ kiếp, tinh tấn siêng tu khổ hạnh, trăm kiếp
tu phước.”
- A
Tăng Kỳ đầu tiên, tu cúng dường 84,000 Phật.
-
A Tăng Kỳ thứ 2, cúng dường 99,000 Đức Phật
-
A Tăng Kỳ sau cùng , cúng dường 100,000 Phật Thế Tôn, xuất
gia tu hành trì giới nghiêm mật, đầy đủ giới Ba-La-Mật,
nương xe lục độ, mặc giáp nhẫn nhục, ngồi tòa kim cang,
dưới cội Bồ đề, hàng phục Ma vương chứng thành Phật
đạo.
Xét
trong kinh Anh Lạc: “Khi Phật mới phát tâm tu hành chí cầu
quả vị Duyên Giác, ở chỗ vắng vẻ nhàn tĩnh, trải qua
44 ức kiếp, không có Phật pháp thánh chúng. Thời gian
đó là 70 kiếp sau cùng, gặp Phật Đại Thông Huệ diễn nói
pháp Đại Thừa, mới phát khởi chút lòng tin hiểu, kiến
tạo công đức. Trải qua 19 kiếp nữa, làm bậc Đại
Quốc vương, cúng dường chúng Thanh tịnh, chu cấp cho những
người nghèo thiếu, rời bỏ ngôi vua, xuất gia tu hành, an
ngồi tĩnh niệm, tâm lần lần bị mệt mỏi, qua lại trong
đường sanh tử, thọ báo vô số, do ý không phát Đại Thệ
nguyện, chỉ muốn thoát khỏi hoạn khổ tự thân. Lại
trải qua 60 kiếp, gặp được Phật Bảo Anh, nói đạo nhứt
thừa
không hai, không nghe tên tiểu tiết, ngay đó phát tâm, thệ
tâm rộng lớn không trở ngại, từ đó đến nay, trải qua
bảy ức A Tăng Kỳ, luôn luôn thuận theo chánh pháp, nay mới
tự giác ngộ. Phải biết bảy kiếp về trước, tuy là
cần khổ tu đạo, nhưng không có thệ nguyện vững chắc,
nên trọn không thể thành bậc Đẳng Chánh Giác.”
Căn
cứ vào đây thì trăm A Tăng Kỳ kiếp vẫn còn ít, đây cũng
chỉ tùy cơ mà nói. Hóa nghi của Quyền thật, Đại tiểu
không đồng. Nay đức Xá Na diễn nói pháp mà mình tu
chứng ấy, khiến người khác sanh lòng tin. Nương pháp
môn Tâm địa này để đạt đến kết quả tu chứng.
Chư
Phật các ông truyền lời Ta đã nói, nghĩa là trước nói
pháp, là khắp vì đại chúng , nay trao tâm ấn cho người chẳng
phải người khác có thể kham được, nên đặc biệt phó
chúc cho ngàn Phật Thích Ca, truyền lại lời của đức Phật
Xá Na, chỉ lại cho các chúng sanh, khiến cho trên thừa dưới
tiếp, vâng giữ giới pháp sẵn có.
Khai
mở con đường tâm địa cho chúng sanh, nghĩa là tâm của tất
cả chúng sanh vốn rỗng rang, nhưng vì từ vô thỉ kiếp đến
nay, bị vọng tình hoặc nghiệp ngăn che, nên đức Xá Na phó
chúc cho Thích Ca, truyền pháp môn khai mở tâm địa, khiến
cho tất cả chúng sanh hoát nhiên khai thông tự tâm sẵn có
của mình xưa nay. Nay chỉ nêu sơ lược, phần sau sẽ
giải thích rõ hơn.
2.
Phó chúc riêng
Lúc
bấy giờ, đức Phật Lô Xá Na ngồi trên tòa sư tử có ánh
sáng cõi trời rạng rỡ trong thế giới Liên hoa Đài tạng.
Đức Phật phóng hào quang, trong hào quang có tiếng nói bảo
Phật trên ngàn hoa, thọ trì pháp môn Tâm địa của Ta, mà
đi truyền lại cho ngàn trăm ức Thích Ca, cho đến tất cả
chúng sanh, theo thứ lớp nói phẩm Pháp môn Tâm địa này.
Các ông nên thọ trì đọc tụng vâng làm.
Giải
thích:
Thế
giới Liên hoa Đài tạng, chính là thế giới Hoa Nghiêm Hải
Tạng. Tạng, nghĩa là bao hàm, vì mười phương pháp giới,
đều trụ trong đó. Phần còn lại là văn trùng tụng,
sau sẽ giải thích.
Trên
tòa sư tử có ánh sáng cõi Trời, nghĩa là tòa phát ra quang
minh cao sáng hiển lộ rực rỡ, cũng như thiên quang chiếu
khắp. Như Lai thuyết pháp vô úy, ma vương và ngoại đạo
thảy đều quy phục, cũng như sư tử rống lên, các loài cầm
thú khi nghe tiếng, thảy đều chạy trốn. Bởi vậy,
tòa Phật ngồi gọi là tòa Sư tử, còn gọi là tòa Pháp không,
cũng biểu thị cho sự vô úy, vì Như Lai chứng pháp Không,
nên không sợ hãi.
Phẩm
Thượng ghi: “Đức Xá Na ở trong cung Kim cang Quang Minh, ngồi
trên trăm ngàn muôn ức hoa sen, ánh quang của tòa này sáng
rỡ” là vậy. Trong ánh hào quang có tiếng nói bảo các
Phật trên hoa sen, nghĩa là tâm địa của Như Lai, vốn bặt
dứt danh ngôn sắc tướng. Nay muốn hiển tâm địa chánh
pháp này, trở lại dùng ánh sáng của tâm làm Phật sự, nên
không dùng lời nói mà dùng ánh quang bảo. Đây là Phật
Xá Na phóng quang bảo ngàn Phật. Ngàn Phật lại chuyển
cho ngàn Phật Thích Ca hóa Phật, Thích Ca lại vì các chúng
sanh mà nói.
Theo
thứ lớp nói phẩm Tâm địa pháp môn, nghĩa là như phẩm
trước nói về giai vị tu chứng của Bồ Tát, gồm các pháp
môn như Thập Phát thú, Tâm địa pháp môn, v.v... nên đây
bao gồm hết tâm địa giới phẩm sau, ở tâm thọ trì, ở
miệng thì đọc tụng, tâm và khẩu tấn tu không hai, nên nói
“Nhất tâm vâng làm.”
3.
Cúng dường Bổn tôn
Lúc
bấy giờ, Phật trên ngàn hoa, ngàn trăm ức Thích Ca từ tòa
Sư tử sáng rỡ trong thế giới Liên hoa Đài tạng đứng dậy,
tất cả đều thối lui, toàn thân các Ngài phóng ra hào quang
không thể nghĩ bàn, trong hào quang đó hóa ra vô lượng Phật,
đồng thời đem vô lượng hoa xanh, vàng, đỏ, trắng dâng
lên cúng dường Phật Lô Xá Na, rồi thọ trì phẩm Tâm địa
pháp môn như trước đã nói.
Giải
thích:
Đức
Xá Na đem Pháp phó chúc cho Phật ngồi trên ngàn hoa, Phật
trên ngàn hoa lại đem pháp phó chúc cho ngàn trăm ức Thích
Ca, tất cả đều lãnh thọ vâng theo, nên cáo từ thối lui.
Toàn
thân các Ngài phóng ra ánh sáng không thể nghĩ bàn, nghĩa là
ánh quang của Chư Phật có Thường quang và Phóng quang.
Thường quang chính là bản giác viên minh, ánh sáng ấy chiếu
khắp pháp giới. Phóng quang tức là khởi thần thông,
biến hiện chẳng phải một, nhưng không lìa bổn nguyên tâm
địa giới thể mà lưu xuất. Đã là giới thể cội
nguồn, chính là bặt dứt ngôn từ suy nghĩ, nên nói: “Không
thể nghĩ bàn.”
Trong
ánh quang đó, hóa ra vô lượng Chư Phật, mà vô lượng Chư
Phật cũng không lìa tâm địa, như vậy tâm địa Xá Na cũng
hóa ra ngàn Phật, ngàn Phật hóa ra ngàn trăm ức, ngàn trăm
ức hóa ra vô lượng, lại hóa vô lượng hoa vi diệu rồi
trở về cúng dường Phật tâm địa bổn nguyên.
Đây
cũng là biểu trưng Bồ Tát dựa vào Tâm địa giới thể,
đồng tu phước huệ, để thành muôn đức trang nghiêm
tự tâm.
MỤC
LỤC