MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu
Lời
nói đầu
Phần
một: Giải Thích Đề Mục
A.
Giải thích đề kinh
B.
Giải thích tên người dịch
Phần
hai: Giải thích Kinh văn
A.
Bài tựa riêng
I.
Ba Phật truyền giáo
1.
Phó chúc chung
2.
Phó chúc riêng
3.
Cúng dường Bổn Tôn
II.
Hai Phật thuyết pháp
1.
Phật trên ngàn hoa thuyết pháp
2.
Ngàn trăm ức Thích Ca nói pháp
III.
Một Phật thuyết pháp
1.
Mười nơi thuyết pháp
2.
Nhân duyên khởi giáo
3.
Giáng sanh không phải một
4.
Nói giới cho phàm phu
IV.
Trùng tụng
V.
Kết giới
B.
Chánh tông
I.
Mười giới trọng
1.
Nêu chung
2.
Nêu riêng
Giới
thứ 1: Sát sanh
Giới
thứ 2: Trộm cướp
Giới
thử 3: Dâm dục
Giới
thứ 4: Vọng ngữ
Giới
thứ 5: Bán rượu
Giới
thứ 6: Rao nói lỗi của bốn chúng
Giới
thứ 7: Tự khen mình chê người
Giới
thứ 8: Bỏn xẻn thêm mắng đuổi
Giới
thứ 9: Giận hờn không chịu sám hối
Giới
thứ 10: Hủy báng Tam bảo
3.Tổng
kết
II.
Bốn mươi tám giới khinh
1.
Nêu chung
2.
Nêu riêng
Giới
thứ 1: Không kính Thầy, bạn
Giới
thứ 2: Uống rượu
Giới
thứ 3: Ăn thịt
Giới
thứ 4: Ăn ngũ vị tân
Giới
thứ 5: Không dạy người có tội sám hối
Giới
thứ 6: Không cung cấp thỉnh pháp
Giới
thứ 7: Giải đãi không nghe pháp
Giới
thứ 8: Trái với Đại thừa, hướng về Tiểu thừa.
Giới
thứ 9: Không chăm sóc người bệnh
Giới
thứ 10: Chứa khí cụ sát sanh
Giới
thứ 11: Đi sứ
Giới
thứ 12: Buôn bán phi pháp
Giới
thứ 13: Hủy báng
Giới
thứ 14: Phóng hỏa thiêu đốt
Giới
thứ 15: Dạy giáo lý ngoài Đại thừa
Giới
thứ 16: Vì lợi nói pháp lộn xộn
Giới
thứ 17: Cậy thế lực khuyên góp
Giới
thứ 18: Không hiểu mà làm thầy truyền giới
Giới
thứ 19: Nói lưỡi hai chiều
Giới
thứ 20: Không phóng sanh cứu vật
Giới
thứ 21: Đem sân hận báo thù sân hận, đem đánh trả đánh
Giới
thứ 22: Tâm kiêu mạn không thỉnh pháp
Giới
thứ 23: Khinh ngạo không tận tâm dạy
Giới
thứ 24: Không tu học Đại thừa
Giới
thứ 25: Tri chúng vụng về
Giới
thứ 26: Riêng thọ lợi dưỡng
Giới
thứ 27: Thọ biệt thỉnh
Giới
thứ 28: Biệt thỉnh Tăng
Giới
thứ 29: Tà mạng nuôi sống
Giới
thứ 30: Bất kính trong những ngày trai giới
Giới
thứ 31: Không mua chuộc
Giới
thứ 32: Tổn hại chúng sanh
Giới
thứ 33: Tà mạng giác quán
Giới
thứ 34: Tạm bỏ Bồ đề tâm
Giới
thứ 35: Không phát nguyện
Giới
thứ 36: Không phát thệ
Giới
thứ 37: Không được du hành nơi mạo hiểm, có nạn
Giới
thứ 38: Trái thứ lớp tôn ti
Giới
thứ 39: Không tu phước huệ
Giới
thứ 40: Không được lựa chọn thọ giới
Giới
thứ 41: Vì lợi làm thầy
Giới
thứ 42: Giảng thuyết giới cho kẻ ác
Giới
thứ 43: Không tâm hổ thẹn, thọ nhận của cúng dường
Giới
thứ 44: Không cúng dường kinh điển
Giới
thứ 45: Không giáo hóa chúng sanh
Giới
thứ 46: Thuyết pháp không đúng như pháp
Giới
thứ 47: Cấm chế không đúng pháp
Giới
thứ 48: Phá pháp
3.
Tổng kết
C.
Lưu thông
I.
Phó chúc lưu thông
II.
Kết tụng hồi hướng lưu thông
Lời
giới thiệu
Qua
một số sách chú giải Kinh Phạm Võng, Tôi thấy rằng
phần nhiều chỉ đề cập đến 10 giới trọng, 48 giới khinh.
Nhưng trong quyển “Phật nói Kinh Phạm Võng Bồ Tát Tâm Địa
Phẩm lược Sớ” thì lại khác. Trong tác phẩm nầy,
Ngài Hoằng Tán chú giải một cách chi tiết và rõ ràng, giúp
người đọc hiểu rõ hơn về ý nghĩa và sự thực hành của
Bồ Tát giới.
Tác
phẩm này có thể là hành trang cần thiết cho những ai muốn
thực hành Bồ Tát giới theo đúng lời Phật dạy. Vì
vậy, tôi trân trọng giới thiệu đến Tăng, Ni, Phật tử.
Cầu nguyện cho quí vị sau khi đọc được những gì Ni Sư
Như Hải đã dày công phiên dịch đều được thâm nhập vào
thế giới Bồ Tát để thăng hoa trên bước đường thượng
cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.
Mùa
An Cư Phật lịch 2545 – 2001
Hòa
Thượng Thích Trí Quảng.
Có
thể nói rằng Bồ Tát được sanh ra từ đại bi và cũng nhờ
đó mà lớn mạnh, đủ sức vượt qua lộ trình lợi tha để
tiến lên quả vị Phật. Cho nên Bồ Tát bảo trì năng
lực từ bi rất kỹ, không để cho phiền não sân hận tác
động, đó cũng chính là lý do tại sao giới sát được đặt
lên hàng đầu trong giới luật Bồ Tát. Hàng Thanh Văn
giữ giới rất nghiêm mật, không để bất cứ lý do nào làm
ảnh hưởng đến việc phòng phi chỉ ác. Vì Thanh Văn
chán ngán ba cõi vô thường hoại diệt, nhơ uế khổ đau,
muốn tránh xa nó càng xa càng tốt, càng nhanh càng hay, cho nên,
có được Niết Bàn tịch diệt thì tuyệt nhiên không muốn
tạm rời. Chính vì tính thích ứng phương tiện của
hàng Thanh Văn đã làm hạn chế việc khai triển đầy đủ
nội dung chánh giác của chư Phật. Chỉ có Bồ Tát mới
hành động phù hợp với tinh thần của chư Phật bằng việc
đem lại lợi lạc giải thoát cho chúng sanh.
Để
có đủ năng lực nhiếp hóa chúng sanh , Bồ Tát phải trải
tâm như đất, tại vì tính cách của đất là không phân biệt
đối tượng tiếp xúc, muôn vật đều sinh sôi và lớn lên
từ đất. Bồ Tát cũng phải chấp nhận đủ loại chúng
sanh, nhờ chúng sanh mà tăng trưởng tâm Bồ Đề và thành
tựu quả vị tối thượng. Song, muốn trải tâm như đất,
Bồ Tát phải nhờ đến Thi-La. Thi-La là giới luật, là
năng lực bảo hộ và thúc đẩy Bồ Tát thanh tịnh hóa chính
mình, phá trừ kiến tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc,
nhờ đó, mới có thể độ hết chúng sanh dễ dàng. Trong
giới Bồ Tát có Tam tụ tịnh giới. Trong Tam tụ tịnh
giới lại có chứa Bốn nguyện vọng của Bồ Tát, đó là
nguyện vọng muốn độ tận chúng sanh (nhiếp chúng sanh giới);
muốn đoạn tận phiền não (nhiếp luật nghi giới); muốn
học tất cả Pháp môn và muốn thành Phật đạo (nhiếp thiện
pháp giới). Bồ Tát giữ giới chăm chút hơn Thanh Văn,
vì phải canh phòng ngay trong ý niệm. Vì lợi ích của
chúng sanh, Bồ Tát sẵn sàng hy sinh sát, đạo, dâm, vọng mà
không sợ mất mình, không sợ mất lợi ích của biệt gỉải
thoát, dù biết chắc phải đọa vào địa ngục cũng không
do dự sự phạm giới đó là sự trì giới rốt ráo, hợp
lý. Ngài Ấn Thuận nói: “Có khi phạm giới mà
trở thành Thi-La-Ba La Mật.”
Tác
phẩm “Phật nói Kinh Phạm Võng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược
Sớ” được Ngài Hoằng Tán rút ra từ bản Kinh Phạm Võng
do Ngài Cưu Ma La Thập dịch. Ni Sư Như Hải đã tìm thấy
bộ lược sớ khá hay, trình bày con đường tu tập của
Bồ Tát qua 58 điều giới thật rõ ràng, dễ hiểu, nên quyết
định chuyển dịch thành một tác phẩm lược sớ chữ Việt.
Mặc dù hạn chế về sức khoẻ và tuổi hạc, Ni Sư đã vượt
qua nhiều thử thách, ngày đêm cặm cụi tham khảo, đối chiếu
chọn lọc để cống hiến cho Phật tử Việt Nam một bản
Kinh văn sáng sủa, đáng tin cậy. Tài năng và giới hạnh
của một bậc Ni lưu đã thổi vào làn hơi ấm cho nền Luật
Học nước nhà hãy còn nhiều chỗ trống vắng.
Dịch
phẩm này như một loài hoa quý nở khiêm tốn giữa rừng Giới
Luật, vậy nhờ gió thay lời Tôi mang hương thơm này đến
san sẻ cùng với Bồ Tát sẽ học, đang học và đã học khắp
mọi nơi.
Huệ
Nghiêm, mùa An Cư năm Tân Tỵ
Tỳ
Kheo Thích Minh Thông.
Lời
nói đầu
Trong
Tam tạng Kinh điển tất cả giáo Pháp dù Tiểu Thừa hay Đại
Thừa, dù tại gia hay xuất gia, Giới Luật luôn là phần trọng
yếu nhất. Vì thế, khi Đức Thế Tôn sắp nhập Niết
Bàn, A Nan hỏi: “Bạch Thế Tôn, khi Ngài còn tại thế, hàng
Đệ tử chúng con nương theo Ngài là bậc Thầy chỉ giáo,
sau khi Ngài nhập diệt rồi, chúng con biết nương vào ai làm
Thầy?” Phật dạy: “Sau khi Ta nhập diệt, các ông lấy Giới
Luật làm bậc Đại Sư. Vì sao? Vì nếu Ta còn trụ
ở đời, có nói ra Pháp nào chăng nữa, cũng không ngoài Giới
Luật như Ta đã nói.”
Thế
nên, trong tất cả Kinh điển của Phật, nhất là Luật Tạng,
Chư Phật, chư Tổ luôn có lời dạy cho hàng Đệ tử của
Ngài trong hiện tại cũng như vị lai. Hàng Đệ tử luôn
phải trân quý cung hành Giới Luật. Lời dạy đẵ khắc
ghi đậm nét trong Tam tạng giáo điển là: “Giới Luật là
thọ mạng của Phật Pháp, Giới Luật còn thì Phật Pháp còn.”
Thế đủ biết Giới Luật với hành giả quan trọng như thế
nào!
Như
trong Tạng Tỳ Ni, Phật còn dạy rõ: “Không một vị Phật
nào vong giới thể, không một Bồ Tát nào không hành giới
độ, không một Thanh Văn nào không hành giới hạnh mà thành
tựu sở nguyện tu hành.” Trăm ngàn Thắng, Định, Vô Lậu,
Diệu Huệ đều nhờ trì giới mà thành tựu. Hành giả
chúng ta khởi một niệm rong ruổi theo tiền trần, đó là
cơ hội của ma chướng. Ngược lại, nếu biết trân
quý Giới Luật, cung hành nghiêm mật, đúng như Pháp chơn thật
thanh tịnh tu hành dõng mãnh, kiên trì lập chí thệ nguyện
y theo Giới Luật tấn tu, dù bỏ thân mạng cũng không vi phạm
cấm giới của Phật thì quả vị Giác ngộ giải thoát chỉ
còn tùy thuộc vào thệ thâm nguyện tấn tu dõng mãnh của
hành giả chậm hay mau mà thôi.
Đệ
tử có chút thiện duyên được đọc Phẩm Hạ Lược Sớ
- Kinh Phạm Võng Bồ Tát do Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn
sang Hán ngữ, Ngài Hoằng Tán lược sớ giải. Vì muốn
giúp cho Tăng Ni và Phật tử tại gia mới thọ giới Bồ Tát
có thêm tài liệu để tìm hiểu, phần nào trợ duyên cho việc
hành trì tấn thú trên bước đường tu tập, lần lần trở
về tự tánh bản nguyên thanh tịnh của chính mình, Đệ tử
không ngại tài hèn sức mọn, hiểu biết cạn cợt, đã dịch
Kinh Sớ này sang Việt ngữ. Trong quá trình chuyển dịch,
tất không tránh khỏi những khiếm khuyết , nhầm lẫn, ngưỡng
mong chư Tôn Thiền Đức cao minh hoan hỷ niệm tình chỉ giáo.
Kính
mong chư Tăng Ni Phật tử sơ cơ thọ Bồ Tát giới cùng tôi
góp ý vào những phần khiếm khuyết để cho Phẩm Kinh Giới
Phạm Võng Bồ Tát văn nghĩa được hoàn hảo hơn.
Nguyện
đem công đức chuyển dịch Giới Kinh này hồi hướng cầu
nguyện cho chúng sanh trong Pháp giới đều trọn thành Phật
đạo.
Nam
Mô A Di Đà Phật.
Từ
Nghiêm, trọng Hạ năm Mậu Thìn
PL.
2545 – DL. 2001.
Tỳ
Kheo Ni Thích Nữ Trí Hải (Tự Như Hải)
Cẩn
soạn.
Phần
một
GIẢI THÍCH
ĐỀ MỤC
A.
GIẢI THÍCH ĐỀ KINH
Phật
thuyết, tức là chính từ Kim khẩu của Đức Lô Xá Na cho
đến Đức Thích Ca trước sau kế thừa nói ra.
Phạm
Võng, tức là màng lưới báu ở cung trời Đại Phạm.
Khi Đức Thích Ca trụ nơi cung điện của Đại Phạm Thiên
Vương Ma Hê Thủ La, Ngài đã thấy lưới Nhân đà la đang
giăng nơi đây, nên lấy làm dụ mà tuyên thuyết. Màng
lưới này được kết thành bởi vô lượng trăm ngàn vạn
ức hạt bảo châu ma ni, ánh sáng của mỗi hạt châu đều
sai biệt nhưng soi chiếu nhiếp nhập lẫn nhau, vì thế một
hạt châu đã hàm chứa màu sắc của vô lượng hạt châu
khác, sắc màu ánh chiếu, lớp lớp vô tận mà chẳng ngăn
ngại nhau. Nhân đó Đức Phật nói vô lượng thế giới
như mắt lưới, mỗi mỗi thế giới đều sai biệt, giáo môn
Phật thuyết cũng như thế. Từ nghĩa này mà dẫn dụ
để chỉ rõ sự an lập của các thế giới trong 10 phương,
mỗi mỗi đều bất đồng; Chư Phật trong 10 phương lập bày
pháp môn cũng bất đồng; Lại Bồ Tát trong 10 phương nương
vào giáo pháp mà tu chứng cũng có vô lượng sai biệt như
thế. Do đó, lấy Phạm Võng dụ làm tên Kinh.
Đại
bản của Kinh này gồm 12 quyển, như 1 mắt của màng lưới
kia; còn Phẩm Tâm Địa thì như 1 hạt châu trong đó vậy.
Kinh,
tiếng Phạn là Sutra (Tu đa la), Trung Hoa dịch là Khế Kinh.
Khế nghĩa là trên hợp với yếu lý của chư Phật, dưới
ứng hợp với căn cơ của chúng sanh. Kinh hàm nghĩa xuyên
suốt và nhiếp giữ, tức xuyên suốt nghĩa lý nên biết, nhiếp
giữ chúng sanh được độ.
Chú
giải Duy Ma Cật Kinh của Ngài Tăng Triệu ghi: “Kinh tức là
Thường, cổ kim tuy khác, nhưng đạo giác ngộ chẳng thay đổi;
các tà giáo chẳng thể phá hoại, các Thánh chẳng thể đổi
thay, vì thế gọi là Thường.”
Xét
các Kinh Luật, có bộ dùng nhân pháp làm tên, có bộ dùng
pháp dụ làm tên; nay kinh này chỉ lấy dụ làm tên ; nếu
luận chung cả tên phẩm thì lấy đủ nhân, pháp, dụ làm
tên. Trong đó, Phạm Võng là dụ, Bồ Tát là nhân (người),
Tâm địa là Pháp. Kinh là giáo năng thuyên, Phạm Võng
là giáo sở thuyên, Phật là người năng thuyên. Nếu
luận về Tông thú, Thể dụng, Giáo tướng, Quyền thật, thì
chánh giới bản nguyên Tâm địa là Tông, đạt đến Phật
quả Xá na là Thú, thật tướng Tâm địa là Thể, dứt ác
tu thiện là Dụng, Đại Thừa Tỳ Ni là Giáo tướng; lại
thuộc Tỳ Ni Tạng (Tạng Luật) trong Tam Tạng; thuộc Bồ Tát
Tạng trong Đại Tiểu Thừa Tạng; thuộc Quyền thật trong
giáo Quyền thật. Kinh Anh Lạc ghi: “Tất cả giới phàm
phu đều lấy Tâm làm Thể; vì Tâm vô tận, nên Giới cũng
vô tận.” Do đó, Kinh nầy lấy Thật tướng Tâm địa
làm Thể. Tông tức là Sùng, nghĩa là điều mà kinh tôn
sùng. Thú tức là nơi hướng về rốt ráo của Tông.
Nhân-đà-la,
Trung Hoa dịch là Thiên Đế, cũng gọi là Thiên xích châu.
Vì thế gọi chung là Đại Phạm Thiên Vương xích châu (võng
tràng).
Tâm
Địa phẩm hạ: (Phần hạ của phẩm Tâm Địa)
- Bồ
Tát, gọi đủ là Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề, Trung Hoa
dịch là đạo; Tát Đỏa dịch là chúng sanh, tức dùng Phật
đạo hóa độ chúng sanh. Bồ Đề còn dịch là Giác, Tát Đỏa
dịch là hữu tình, là khiến cho loài hữu tình được giác
ngộ.
Hàng
Bồ Tát trên thì cầu Phật đạo, dưới thì hóa độ chúng
sanh, kiến lập đại sự (việc lớn; khai thị ngộ nhập Phật
tri kiến) nên gọi là bậc Đại sĩ; cũng gọi là Khai sĩ,
vì hay khai hóa tất cả chúng sanh.
Người
tu hành từ lúc sơ phát tâm cho đến Đẳng giác đều được
gọi là Bồ Đề Tát Đỏa.
- Tâm
địa, tức cội nguồn của tất cả phàm thánh . Phàm
phu vì mê tâm nầy, nên trôi lăn trong 3 cõi, 6 đường.
Bậc Thánh vì ngộ tâm nầy mà trở về nguồn chơn, cắt đứt
dòng sanh tử.
Bồ
Tát vì muốn trở về nguồn chơn, nên nương vào chánh giới
tâm địa này làm nhân thù thắng, để chứng đắc cực quả
Xá-na.
Địa
(đất) là từ dụ lập tên, nghĩa là Bồ Tát tu tập lục
độ vạn hạnh, giáo hóa, nâng đỡ tất cả chúng sanh, chẳng
khởi tâm yêu ghét. Nhờ đó mà thắng nhân diệu quả được
tăng trưởng. Ví như đại địa chuyên chở, nâng đỡ
tất cả vạn vật mà chẳng hiềm dơ sạch, nhờ đó mà vạn
vật sanh trưởng. Tâm Bồ Tát bình đẳng cũng như thế.
- Phẩm,
tiếng Phạn là Bát lý vật đa, nghĩa là tụ (nhóm). Tức
ý
nghĩa và chủng loại các pháp đồng tập hợp tại một nhóm.
Các phẩm khác của Kinh này phần lớn còn luận chung về thế
gian, nhưng phẩm này thì chỉ chú trọng đến giáo tu, nói
về Tâm địa. Toàn phẩm phân làm hai phần thượng, hạ.
Phần thượng nói về việc Bồ Tát dùng sức Định huệ tu
chứng giai vị Tam hiền, Thập thánh. Phần hạ này chủ
yếu chỉ dạy bậc Đại sĩ nương vào giới pháp bản nguyên
Tâm địa, làm chánh nhân cho Định huệ. Cho nên hàng
Bồ Tát từ Tam hiền, Thập thánh cho đến Đẳng giác đều
phải tụng trì.
B.
GIẢI THÍCH TÊN NGƯỜI DỊCH
Diêu
là họ, Tần là Quốc hiệu – chính là Quốc chủ hậu Tần,
họ Diêu tên Hưng. Tam Tạng Pháp Sư, là người khéo dịch
văn kinh của ba Tạng: Kinh - Luật – Luận. Cưu Ma La Thập,
Trung Hoa dịch là Đồng Thọ, nghĩa là Pháp sư tuổi tuy còn
trẻ mà trí tuệ biện bác vượt hơn bậc kỳ lão. Cha
Ngài người nước Thiên Trúc, do trí tuệ thông mẫn mà nổi
tiếng ở đời. Quốc chủ nước Quy Tư nghe danh, bèn
đem con gái gả cho.
Khi
Ngài còn ở trong thai mẹ, tự nhiên mẹ Ngài trí tuệ lần
lần tăng trưởng. Ngài xuất gia năm bảy tuổi, mỗi
ngày tụng cả ngàn kệ, năm chín tuổi Ngài đã tranh luận
nghĩa lý Kinh điển với ngoại đạo. Tài biện bác của
Ngài đã bẻ gãy được mũi nhọn tà kiến của ngoại đạo.
Các vua nước Thiên Trúc đều tôn xưng Ngài làm thầy.
Phù Kiên nghe danh Ngài đạo đức phi phàm, bèn sai tướng quân
Lã Quang đem bảy vạn binh, chinh phạt nước Quy Tư để mời
Ngài vào Trung Quốc. Ngài mới đi được nửa đường
nghe tin Phù Kiên đã băng hà, Diêu Hưng kế ngôi nhà Tần,
niên hiệu Hoằng Thỉ năm thứ 3, ra sắc lệnh thỉnh Ngài
về nước, mời vào Trường An. Tần chủ Diêu Hưng hết
lòng kính trọng, rước Ngài ở riêng tại lầu Tây Minh, nơi
vườn Tiêu Diêu. Nhà vua sắc lịnh thỉnh Ngài dịch Kinh
Luận, tất cả hơn 50 bộ. Bộ Phạm Võng này là bộ
được dịch sau cùng. Khi ấy, 800 vị Sa môn như : Thông
Huệ, v.v...xin thọ giáo, Diêu Hưng cùng với 300 Sa môn như:
Duệ Trí, v.v...phát đại tâm thọ giới Bồ Tát. Đây
là lần đầu tiên Phật giáo Trung Quốc có cơ duyên thọ Bồ
Tát giới, Trời, người đều hân hoan. Ngài Tuyên luật
sư nói: “Thầy La Thập đã ở bậc Tam Hiền, từ thất Phật
đến nay, thầy luôn là người dịch Kinh” (dịch tức là
phiên dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Quốc).
Người
gửi bài: Thầy Thích Viên Tánh
07-30-2007
04:34:56