CHƯƠNG
MƯỜI
TÁC
NHẬM CHỈ DIỆT LÀ BỐN CĂN BỆNH TRỞ NGẠI TIẾN TRÌNH
VỀ
NHÀ NHƯ LAI VIÊN GIÁC
1.
Bấy giờ, Phổ Giác Bồ tát trước đại chúng đảnh lễ
Phật, quỳ gối chấp tay thưa:
Bạch
Thế Tôn ! Chúng sanh đời sau cách Phật ngày xa, hiền thành
ẩn dật, tà giáo xuất đầu, vậy phải cầu học với hạng
người nào? Nương pháp chi? Hành những hạnh gì? Trừ bỏ
những gì là bệnh? Và phát tâm như thế nào, khiến cho những
người chưa có mắt tuệ khỏi rơi vào tà kiến?
Thưa
hỏi xong, Bồ tát Phổ Giác ngũ thể lễ sát đất rồi trở
về bản vị.
Phật
dạy: Phổ Giác ! Ông khéo hỏi Như Lai những điều tế nhị
có thể khiến cho chúng sanh có được đạo nhãn vô úy ở
đời sau.
2.
Nầy, Phổ Giác ! Chúng sanh đời sau muốn phát ý Đại thừa
tâm cầu thiện tri thức và muốn tu hành thì phải tìm người
chánh tri kiến, tâm không trụ chấp các tướng, không vướng
mắc trong tư tưởng củahàng Thanh Văn, Duyên Giác, bề ngoài
thì biểu hiện trần lao nhưng tâm hằng thanh tịnh, giả hiện
các lỗi lầm mà luôn ngợi khen phạm hạnh, không xúi giục
người sống trái luật nghi. Cầu học với những người đó
thì không lâu sẽ thành tựu Vô Thượng Bồ Đề. Chúng sanh
đời sau gặp được những người như thế, phải nên cúng
dường cho đến không tiếc thân mạng.
3.
Nầy, Phổ Giác! Người thiện tri thức ấy, đối với pháp
sở chứng đã tự viễn ly bốn bệnh rồi !
Bốn
bệnh là những gì ?
Một,
bệnh TÁC. Giả như có người nói: vì cầu Viên Giác, tôi
phải LÀM, phải phấn đấu phát tâm chuyên tu khổ hạnh, phải
ít ngủ bới ăn… nhưng chánh nhơn để vào nhà Viên Giác
không phải do "làm" mà được. Vì vậy, gọi TÁC là một chứng
bệnh.
Hai,
bệnh NHẬM. Giả như có người nói: Tôi không cần đoạn
trừ sanh tử, cũng chẳng mong chứng được Niết bàn. Niết
bàn và sanh tử không cần phải mong muốn hay đoạn trừ. Cứ
MẶC KỆ BUÔNG TRÔI theo dòng pháp tánh… nhưng tánh Viên Giác
không phải là tánh "mặc kệ buông trôi". Vì vậy, gọi NHẬM
là một chứng bệnh.
Ba,
bệnh CHỈ. Giả sử có người nói: Trên đường tu hành, tôi
chỉ cần NGƯNG BẶC niệm lự để hợp với tánh tịch nhiên
của Viên Giác. Ý tưởng đó không đúng, vì tánh Viên Giác
không phải là tánh "ngưng bặc". Vì vậy, gọi CHỈ là một
chứng bệnh.
Bốn,
bệnh DIỆT. Giả sử có người nói: Tôi nay đoạn trừ tất
cả phiền não, thân tâm, căn trần. Vì tất cả là cảnh giới
hư vọng cần phải đoạn DIỆT, nhưng Viên Giác không phải
là tứơng "đoạn diệt". Vì vậy cho nên gọi DIỆT là một
chứng bệnh.
Trên
đường tu cần phải xa rời bốn chứng bệnh như vậy. Xa
rời bốn bệnh tức là xa rời những cái nhân "phi nhân" không
phù hợp chân lý.
4.
Nầy, Phổ Giác ! Chúng sanh đời sau muốn tu hành phải hết
lòng cúng dường phụng sự gần gũi người thiện tri thức
của mình. Ơ덊 gần thì một lòng kính trọng, ở xa phải
luôn nhớ những ý tốt lời lành. Nếu người có biểu lộ
những cảnh bằng lòng hoặc trái ý hãy quán niệm như chẳng
có gì, thân tâm của mình, của mọi người đều đồng thể
bình đẳng. Nên nhớ, chúng sanh không được thành đạo do
có những quan niệm thương, ghét, ta, người, hơn, thua, tốt,
xấu… Nếu có người xem oan gia như cha mẹ không có ý tưởng
hai; ân oán bình đẳng không khởi tâm thương ghét, Như Lai
nói người như thế, không bao lâu sẽ vào đến nhà Viên Giác.
Nầy,
Phổ Giác ! Chúng sanh đời sau muốn cầu Viên Giác phải phát
lời thệ nguyện:
"Tất
cả chúng sanh, cùng tận thế giới hư không, tôi đều phụng
sự khiến cho họ được vào nhà Như Lai Viên Giác và chừa
bỏ tất cả ý niệm triền phược bỉ thử ngã nhơn…
Người
phát tâm tu hành như vậy sẽ không rơi vào tà kiến.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Phổ
giác ông nên biết.
Hậu
thế các chúng sanh.
Muốn
cầu thiện tri thức.
Nên
cầu người chánh kiến.
Tâm
không ở Nhị thừa.
Pháp
hành ly bốn bệnh.
Là
TÁC, NHẬM, CHỈ
Ơ?ần
thì tôn kính.
Cách
biệt nhớ lời răn.
Khi
thấy hiện tướng gì.
Nên
sanh lòng hi hữu.
Kính
như Phật tại thế.
Không
phạm các oai nghi.
Giới
căn đều thanh tịnh.
Độ
tất cả chúng sanh.
Trọn
vào nhà Viên Giác.
Bỉ
thử ngã nhơn tướng.
Dùng
tuệ giác chiếu soi.
Đường
tu y chánh pháp.
Tà
kiến khỏi rơi vào.
Ngày
về nhà Viên Giác/
Niết
bàn bến gần kề.
TRỰC
CHỈ
1.
NGÃ, NHƠN, CHÚNG SANH, THỌ MỆNH là bốn chứng bệnh chướng
ngại Bồ đề. TÁC, NHẬM, CHỈ, DIỆT lại là bốn chứng
bệnh cắt đức con đường Niết bàn. Ngã, nhơn, chúng sanh,
thọ mệnh, phát sanh từ nơi "chấp". Tác, nhậm, chỉ, diệt
lại cũng phát sanh từ nơi "chấp". Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ
mệnh phát sanh từ nơi "chấp ngã tướng". Tác, nhậm, chỉ,
diệt phát sanh từ nơi "chấp pháp tu". Dù chấp "ngã tướng"
hay chấp "pháp tu" căn nguyên vẫn là chấp. Trên đường tu
Phật, chấp là điều cấm k#273;ứng đầu trong những gì
cấm k/li>
2.
Trên đừơng tu Thiện tri thức rất là quan trọng. Thiện tri
thức có ba hạng. Giáo thọ Thiện tri thức tức là bật thầy
dẫn dắt, giảng dạy chánh pháp cho ta. Đồng hạnh Thiện
tri thức là những người cùng một lý tưởng cùng pháp chí
tu hành cùng mong cầu giải thoát giác ngộ. Ngoại hộ Thiện
tri thức là những người bảo hộ cho ta được yên ổn được
có đủ điều kiện tốt để ta hành đạo. Ba hạng người
đó là Thiện tri thức của ta. Tuy nhiên, những ngừơi đó
phải là người "chánh tri kiến", người không vướng mắc
các Tướng, người không có tư tưởng cục bộ Tiểu thừa.
Người Thiện tri thức của ta phải là người Đại thừa
phóng khoáng. Bề ngoài như tuỳ thuận trần lao mà tâm thường
viễn ly và thanh tịnh. Giả hiện các lỗi lầm mà luôn luôn
ngợi khen phạm hạnh. Không hưởng ứng và tùy hỷ với những
người có hành động trái phạm luật nghi. Người Thiện tri
thức như thế đối với pháp sở chứng đã viễn ly bốn
bện. Phải nên tôn trọng cúng dường người Thiện tri thức
như vậy cho đến không tiếc thân mạng.
3.
Một, bệnh TÁC, chữ TÁC có nghĩa là làm. Làm có vẻ tích
cực nhưng việc làm không đúng chánh nhân giải thoát.
Thực
ra tu hành cốt yếu là đoạn phiền não, diệt vô minh, vun
bồi trí tuệ để nhận thức chân lý, để sống hợp chân
lý, để có giác ngộ giải thoát và để tự mình thọ dụng
sự giải thoát giác ngộ đó trong cuộc sống hiện tại cũng
như mãi mãi ở tương lai. Mục đích của chư Phật ba đời
đều như vậy cả. Ơ?gười bệnh "tác" thì trái lại, họ
dụng ý bày vẻ: Nay lập đạo tràng nầy, mai ấn định nghi
thức nọ. Trì luyện canh khuya, khẩn cầu suốt tốt. E? xác
hành thân… Làm như thế chỉ khổ công mà vô ích. Người
tu hành như thế gọi là người mắc phải chứng bệnh TÁC.
Hai
bệnh NHẬM. "Nhậm" có nghĩa là buông trôi không làm gì hết.
Sống với dáng vẻ đờ đẫn, thẫn thờ, mặc cho thế cuộc…
Người
tu hành là tinh tấn cần cù với tất cả thiện nghiệp lợi
ích cho đời cho tất cả chúng sanh. Nhưng khác hơn người
thường là làm mà không thấy mình làm. Làm với tâm thành
"ưng vô sở trụ" chớ không phải làm như kẻ ăn sổi ở
thì hững hờ với thế cuộc.
Không
làm gì hết, thờ thẫn buông trôi, không phải là thiện. Không
làm gì hết mà hy vọng chứng đắc Bồ đề Niết bàn, thể
nhập Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, rõ là hạng người tham lam
mà không đếm xỉa gì lý trí, vì vậy gọi NHẬM là một
chứng bệnh.
Ba,
bệnh CHỈ. "CHỈ" có nghĩa là chặn đứng là ngưng bặc, diệt
hết ý niệm tư duy.
Người
tu hành phải là ngừơi giàu tư duy và rất cần trí tuệ để
tư duy nhận thức chân lý. "Chánh tư duy" là một trong tám
con đường chánh. Tư duy không phải là vọng tưởng. Người
nhiều vọng tưởng không phải là người giàu tư duy. Ngưng
bặc chánh tư duy, con người trở thành vật vô tri vô giác
như hình nộm, như tượng đất ích lợi cho ai ! Lợi cho đời
còn không có, còn mong gì thành tựu đạo quả, vì vậy CHỈ
là một thứ bệnh chướng ngại Bồ đề Niết bàn.
Bốn
bệnh DIỆT. "DIỆT" có nghĩa là triệt tiêu, hủy diệt hết.
Đức
Thế Tôn thành tựu Vô Thượng Bồ Đề chính là lúc "tam minh"
ở trong Ngài hiển hiện. Trí tuệ của đức Thế Tôn lúc
bấy giờ bừng tỏ rạng, mà người đời gọi là rực ánh
hào quang. Từ Bồ đề thọ hạ cho đến Ta La song tho nhập
Niết bàn, đức Phật không có lúc nào không sử dụng tuệ
giác để làm lợi ích cho chúng sanh, bằng sự nghiệp giáo
hóa suốt 49 năm của đời Ngài. Nhìn tấm gương sáng, rực
ánh hào quang của đức Phật, thì ra đức Phật chẳng có
lúc nào "diệt" tư duy và trí tuệ. Căn, trần không có lỗi,
dụng công "diệt" nó để làm gì. Vả lại có muốn diệt
cũng không sao diệt được. Vô minh huyễn vọng, không vọng
chẳng tìm có vô minh. Diệt thân tâm lại trở thành kẻ điên
cuồng tự sát ! Vì vậy, kẻ tu hành dụng ý "diệt" vô tình
laị mang thêm chứng bệnh, khiến cho đường thẳng Niết bàn
bị cắt đứt không thể tiến lên.
4.
Diệt trừ bốn tướng, xa lánh bốn bệnh, oán thân bình đẳng,
rửa sạch thị phi Phật nói người như thế không lâu sẽ
đến nhà Như Lai Viên Giác.