CHƯƠNG
CHÍN
CHỨNG
NGỘ LIỄU GIÁC LÀ
PHÁP
CHƯỚNG NGẠI BỔ ĐỀ
Bấy
giờ, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng trước đại chúng
đứng dậy đảnh lễ Phật và chấp tay thưa:
Bạch
đấng Đại bi Thế Tôn! Như Lai Thế Tôn vì chúng con chỉ
dạy rõ về Nhơn Địa tu hành của chư Phật trong hằng sa
kiếp, khiến cho đại chúng trong hải hội này được điều
chưa từng có, chúng con hết sức thâm cảm vui mừng.
1.
Kính bạch Thế Tôn! Tâm Viên Giác vốn thanh tịnh, vậy do
duyên cớ gì lại có nhiễm ô, khiến cho chúng sanh mê mờ
không được ngộ nhập. Cúi mong Thế Tôn khai ngộ cho hậu
thế chúng sanh mối nghi lầm ấy ngõ hầu có được đạo
nhãn tương lai?
Phật
dạy: Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Ông hãy thận trọng lưu tâm,
nghe cho kỹ điều hệ trọng này. Như Lai sẽ vì ông mà chỉ
dạy!
2.
Này Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ
kiếp vì vọng tưởng, khởi chấp nặng sâu về bốn tướng:
ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mệnh. Bốn tướng đó, vốn không
có cái ngã thể chơn thật. Thế mà chúng sanh điên đảo vọng
chấp không rời. Từ vọng chấp sanh ra ý niệm ghét thương.
Từ ghét thương chồng thêm vọng chấp khác. Vọng lại sanh
vọng cứ thế mà nhân lên đến đỉnh cao cứu cánh, vọng
thành tham, sân, si, mạn, các nghiệp hữu lậu. Từ đó vọng
thấy có luân hồi sanh tử. Người khởi tâm nhàm chán sanh
tử lại vọng thấy Niết bàn. Do vậy, chúng sanh không vào
được cảnh giới Viên Giác thanh tịnh. Không vào được,
không phải cảnh giới Viên Giác ngăn cản không cho mà tại
chúng sanh đánh mất tiêu chuẩn, cho nên không đủ điều kiện
để vào. Vào hay không do người, Viên Giác thanh tịnh không
có tướng vào ra. Nên biết, chúng sanh khởi niệm hay ngưng
niệm đều thuộc phạm trù mê muội! Bởi vì tất cả chúng
sanh không có tuệ nhãn để cho vô minh sanh khởi từ vô
thỉ làm chủ tề đời mình, cho nên thân tâm trở thành công
cụ biểu hiện của vô minh, khó mà trừ diệt, ví như con
người, không ai nở tự giết chế mệnh sống của mình. Vì
vậy, nên biết! Có yêu bản ngã thì người ta nuông chìu theo
bản ngã. Nếu ai không thuận chìu bèn sanh lòng oán ghét. Lòng
yêu ghét lại nuôi lớn vô minh thêm, cho nên tu hành cầu đạo
thì nhiều mà ít người thành Phật.
Ngã
tướng là thế nào? Ngã tướng là cái tướng mà chúng sanh
cho rằng do công tu hành của mình mà mình được CHỨNG. Ví
như người thân thể khỏe mạnh, chợt quên lửng mình, chẳng
màng để ý mình là ai. Một hôm trái gió trở trời, long y
đến châm cứu, người bệnh có cảm nhận "ta" đau. Cho rằng
mình được CHỨNG là lúc hành giả tỏ lộ "bản ngã" chấp
mắc của mình.
3.
Này, Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Khởi tâm cho rằng được CHỨNG
là một "ngã tướng". Dù cho "chứng đắc" Vô thượng Bồ
đề, Vô thượng Niết bàn cũng đều là một hình thức "ngã
tướng" mà thôi.
Nhơn
tướng là thế nào? Nhơn tướng là cái tâm NGỘ, cái tâm
nhận thức rằng "ngã tướng" là cái không có thật, không
nên chấp mắc "ngã tướng". Tâm tỏ ngộ đó chính là "nhơn
tướng". Tâm tỏ ngộ đó, dù ngộ Niết bàn viên mãn cũng
là bản chất từ ngã tướng, cho nên gọi đó là "nhơn tướng".
Chúng
sanh tướng là thế nào? Chúng sanh tướng là cái vượt sâu
hơn tướng "chứng" và "ngộ" trên. Nhận thức và phán đoán
hai tướng "chứng" và "ngộ" đều phát xuất từ bản chất
"ngã tướng" chưa đúng chân lý "ưng vô sở trụ". Chúng sanh
tướng ở đây, tức là tướng LIỄU, vì tánh chất LIỄU
TRI sâu sắc của nó, đối với quá trình CHỨNG, NGỘ.
Thọ
mạng tướng là thế nào? Thọ mạng tướng là cái tâm thanh
tịnh sáng soi tĩnh GIÁC. Tâm tĩnh GIÁC nầy sâu thẳm, có khả
năng nhận thức cả tánh chất "LIỄU TRI" vi tế thuộc phạm
trù "chúng sanh tướng" ở trên. Khả năng nhận thức thẳm
sâu đó gọi là GIÁC. Vì vậy, thọ mạng tướng tức là tướng
GIÁC vi tế thẳm sâu, ví như mạng căn trong một con người.
Tâm
"tĩnh giác" sáng soi dù vi tế cũng vẫn chưa rời trần cấu.
Bởi lẻ còn "giác" thì còn có "năng giác" "sở giác" hiển
nhiên. Phải học cách tư duy chân lý, như người nhìn cảnh
tượng băng tan trong vạc nước sôi. Băng tan hết rồi, không
còn gì lưu lại. Nếu còn sót lại ý niệm biết băng tan,
ý niệm đó còn lệch lạc chưa viên dung vào thực tướng.
Tánh GIÁC để nhận biết CHỨNG, NGỘ, LIỄU là chưa phải
chân lý, nhưng tánh Giác đó vẫn chưa hòa tan cùng chân lý.
Vì vậy GIÁC là thọ mạng tướng trong tứ tướng. Nó vẫn
là pháp chướng ngại khiến cho con người cần khổ tu hành
nhiều kiếp mà không được thành Thánh quả. Vì nhận "ngã"
là Niết bàn, vì cho rằng có CHỨNG có NGỘ, ví như người
nhận giặc làm con, của cải trong nhà sẽ bị mất hết. Bởi
vì có ái "ngã" thì cũng ái "Niết bàn", bởi vì Niết bàn
do trừ diệt gốc "ái" mà hiển hiện. Ghét "ngã" thì cũng
ghét sanh tử. Ghét sanh tử cũng không gọi là giải thoát.
Chúng sanh không biết nguồn gốc sanh tử chính là "ái". Vì
vậy, trong quá trình tu tập được thanh tịnh chút ít cho là
"chứng đắc". Điều đó nói lên cái chất "ngã tướng" chưa
được dứt trừ. Vì thế, cho nên nếu có ai khen thì vui mừng
phấn khởi, nếu bị bài báng thì giận dữ hận thù. Dựa
trên tâm lý và hành động ấy mà biết rằng "ngã tướng"
của người nầy còn tiềm phục trong tàng thức, du hí qua
các căn không lúc nào gián đoạn.
Nầy,
Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Người hành đạo mà không dứt
trừ "ngã tướng"… thì không thể vào được biển Viên Giác
tịch diệt Như Lai. Nếu người tỏ ngộ "ngã" vốn không thì
sẽ không còn thấy người huỷ báng mạ nhục mình. Bằng
ngược lại, thấy rằng ta là bậc tôn sư, là người thuyết
pháp tế độ chúng sanh thì biết người đó chưa đoạn trừ
"ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng".
Tịnh
Chư Nghiệp Chướng! Những người tu hành hậu thế thuyết
bệnh mà cho là thuyết pháp. Cho nên Phật gọi là những kẻ
đáng thương. Dù siêng năng tu hành khó nhọc, nhưng chỉ làm
tăng thêm bệnh không thể vào được biển Giác thanh tịnh
Như Lai.
Người
tu hành không hiểu rõ tứ tướng, lấy kiến giải và pháp
tu hành của Như Lai làm của mình, cho nên tu mãi mà chẳng
được gì! Hoặc có hạng người chưa được nói được,
chưa chứng nói chứng, thấy ai tu hành thắng tấn sanh tâm
ganh ghét tị hiềm. Hạng người nầy cùng trong số chưa đoạn
trừ "ngã ái" không thể vào nhà Viên Giác thanh tịnh.
Nầy,
Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Chúng sanh đời sau mong cầu chứng
đắc mà không mong cầu tỏ ngộ chân lý, tu hành như thế
chỉ tăng trưởng ngã mạn chồng chất cao thêm "ngã kiến".
Riêng hạng người siêng năng hàng phục phiền não, khởi tâm
đại dũng mãnh, chưa chứng khiến chứng, chưa đắc khiến
đắc, chưa đoạn khiến đoạn, tham, sân, si, mạn… đối
cảnh tâm không sanh ta, người, ân, oán tất cả đều vắng
lặng, Phật nói người đó lần lần sẽ được thành tựu
Bồ đề Niết bàn vô thượng.
Nầy,
Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Thiện tri thức là một trợ duyên
trong đường tu tập. Tìm thiện tri thức phải tránh xa người
tà kiến. Trong việc tìm cầu mà có xen tâm yêu ghét thì không
thể vào được biển Viên Giác thanh tịnh.
Bấy
giờ, Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Tịnh
Nghiệp! ông nên biết.
Tất
cả các chúng sanh.
Đều
do chấp ngã ái.
Vô
thỉ vọng luân hồi.
Vì
chưa trừ tứ tướng.
Không
được thành Bồ đề.
Tâm
thương ghét còn sanh.
Niệm
lọc lừa chưa dứt.
Thì
còn nhiều mê muội.
Khó
vào đến Giác thành.
Muốn
quay về bản giác.
Trước
bỏ tham sân si.
Tâm
ái pháp không còn.
Lần
lần bèn thành tựu.
Thân
ta còn không có.
Thương
ghét chỗ nào sanh
Thiện
hữu với người nầy.
Sẽ
không rơi tà kiến.
Tâm
nếu còn thương ghét.
Quả
giải thoát xa vời.
TRỰC
CHỈ
1.
"Tâm Viên Giác vốn thanh tịnh, duyên cớ gì lại có nhiễm
ô"?
Bồ
tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng nêu câu hỏi giá trị vô cùng.
Một câu hỏi đem lại lợi ích lớn lao cho chúng sanh hậu
thế. Là đệ tử Phật, muốn đi con đường giải thoát giác
ngộ, theo vết chân Phật phải hết sức quan tâm, để một
lần nữa xác định rằng: Tâm Viên Giác của tất cả chúng
sanh cũng như tâm Viên Giác của chư Phật xưa nay vốn thanh
tịnh. Vấn đề quan tâm ở đây là vấn đề "nhiễm ô" và
duyên cớ "nhiễm ô".
Tư
duy câu hỏi, ta thấy Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng dụng
ý vạch ra hai con đường cho người tu hành hậu thế: Hoặc
các vị sẽ thắng, hoặc các vị bị thua, sau khi nghe Phật
giải đáp. Ngoài ra không còn con đường nào khác. Khắc phục
triệt tiêu được "duyên cớ" sẽ thắng. Không khắc phục
triệt tiêu được "duyên cớ" sẽ bị thua, thì dù có cần
khổ tu hành mà vẫn không thành Phật đạo.
Vấn
đề nhiễm ô có thiên hình vạn trạng. Có thứ nhiễm ô hạ
thấp con người khiến cho rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh. Có thứ nhiễm ô khiến cho con người không còn phẩm
chấtt, tư cách, đạo đức giá trị của con người, làm mất
hết lẽ sống hạnh phúc của con người. Có thứ nhiễm ô
"chướng đạo" làm cho con người dù có ý chí cao thượng
muốn vượt rasanh tử tầm thường, gắng công cần khổ tu
hành mà không thành tựu như mong muốn.
2.
Tất cả nhiễm ô, có nhiều, có ít, có nặng, có nhẹ khác
nhau, theo lời Phật dayt thì nó phát xuất từ căn bản ở
một chữ "CHẤP". Tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp, vì
vọng tưởng mà khởi CHẤP nặng sâu về bốn thứ. Đó là
NGÃ TƯỚNG, NHƠN TƯỚNG, CHÚNG SANH TƯỚNG và THỌ MỆNH TƯỚNG.
Chấp
có hai cách:
Một,
chấp cụ thể. Lối chấp nầy biểu hiện qua các thứ nghi
lễ, các tập quán lâu đời, xưa bày nay làm, dù nghi lễ tập
quán đó phản tiến hóa đối với nhơn loại và phi chân lý.
Hai,
chấp trừu tượng. Đây là lối chấp phát khởi từ tâm lý,
từ khái niệm: Tin tưởng ở thần thánh vu vơ, tin có đấng
thiêng liêng có quyền uy ban phước cho người nầy, giáng họa
cho kẻ nọ. Chấp có QUẢ BỔ ĐỀ TA SẼ CHỨNG. Có CẢNH
NIẾT BÀN TA SẼ NHẬP…
Tất
cả kiến chấp như vậy đều phát sanh từ vọng tưởng sai
lầm mà căn nguyên là "NGÃ TƯỚNG".
Từ
cái TÔI, khởi niệm VÌ TÔI, CHO TÔI CỦA TÔI đó là biểu
hiện NGÃ TƯỚNG lộ diện xuất đầu. Ý ngiệm về TÔI đã
khởi thì ngay nơi đó đã vướng mắc đủ cả bốn tướng:
NGÃ, NHƠN, CHÚNG SANH và THỌ MỆNH. Bởi vì bố tướng đó
không thể tách rời ra.
Khởi
niệm CHỨNG ĐẮC là vướng mắc vào NGÃ TƯỚNG rồi.
NGỘ,
LIỄU, GIÁC ba tầng lý trí nhận xét phê phán và phủ định
ý niệm CHỨNG ĐẮC ban đầu. Dù vậy, chúng vẫn chưa ly ngã
tướng, cho nên chúng trở thành đối tượng của ngã tướng
mà thôi.
Lục
Tổ Huệ Năng bảo: Khởi niệm THƯƠNG là đã mắc vào "ngã
tướng"… Mống khởi ý niệm THIÊN vẫn mắc vào "ngã tướng".
3.
Văn nhi tư, tư nhi tu, phải học đạo rồi mới hành đạo.
Không học đạo mà hành đạo, ví như lái phi cơ mà không
có la bàn định hướng, có thể bay xa bay nhiều giờ mà không
đến đích. Phải "ngộ" đạo rồi mới có ngày thành tựu
đạo. Chúng sanh mong cầu "chứng đạo" mà không cầu tỏ "ngộ"
chân lý là một sai lầm trầm trọng, cho nên tu thì nhiều
mà ít có người thành Phật.
Diệt
trừ bốn tướng chấp. Đối cảnh không động tâm. Phật
nói người như thế không lâu sẽ đạt đến Bồ đề Niết
bàn Vô thượng.