CHƯƠNG
TÁM
CHỈ
QUÁN THIỀN CÓ THỂ XOAY VÒNG
THAY
ĐỒI THÀNH 25 CÁCH TRONG
TIẾN
TRÌNH TU TẬP
Bấy
giờ, Biện Âm Bồ tát trước đại chúng, đảnh lễ Phật
và chấp tay thưa:
Bạch
Thế Tôn ! Thế Tôn đã dạy cho đại chúng trong hội nầy
pháp tu CHỈ, QUÁN và THIỀN NA là pháp môn rất hi hữu, nhưng
với phương tiện đó, các Bồ tát đã vào cửa Viên Giác
rồi, phải tu tập thế nào đối với ba pháp ấy ?
Phật
dạy: Như Lai Viên Giác thanh tịnh vốn không phải là đối
tượng sở tu. Dựa trên trình độ giác ngộ của chúng sanh
và huyễn lực tu tập hợp với khả năng của từng người,
bấy giờ trên bước đường tu có thể xoay vòng thay đổi
trước sau thành hai mươi lăm cách:
Nắm
giữ cực tĩnh. Do cực tĩnh đoạn hết phiền não, thành tựu
rốt ráo, không rời đương xứ mà nhận lấy Niết bàn. Đây
gọi là pháp đơn tu XA MA THA.
Chuyên
quán như huyễn. Linh động trong việc độ sanh, hành Bồ tát
hạnh mà không mất tĩnh tuệ. Đây gọi là pháp đơn tu TAM
MA BÁT ĐỀ.
Chuyên
trừ diệt các huyễn. Thiên nặng đoạn phiền não, chứng
được thật tướng. Đây gọi là pháp đơn tu THIỀN NA.
Nắm
giữ lấy cực tĩnh và quán chiếu vạn pháp duyên sanh như
huyễn. Khởi hạnh tu như thế, gọi là trước tu CHỈ, sau
tu QUÁN.
Nắm
giữ tĩnh tuệ và đoạn trừ phiền não vượt ra sanh tử ưu
bi… pháp hành nầy gọi là trước tu CHỈ, sau tu THIỀN.
Trước
nắm giữ tĩnh tuệ, kế đến linh động độ sanh như huyễn,
sau đoạn trừ phiền não thể nhập tịch diệt cảnh giới.
Pháp hành như thế gọi là trước tu CHỈ, giữa tu QUÁN và
sau tu THIỀN.
Trước
giữ lấy cực tĩnh, nhờ vậy đoạn trừ hết phiền não,
sau khởi Bồ tát hạnh hoá độ chúng sanh như huyễn. Hành
theo pháp nầy gọi là trước tu CHỈ, giữa tu THIỀN, sau tu
QUÁN.
Trước
giữ lấy cực tĩnh, nhờ vậy tâm đoạn trừ hết phiền não
và sau linh động độ sanh xây dựng thế giới. Hành theo pháp
nầy gọi là trước tu CHỈ, sau THIỀN và QUÁN đồng tu.
Trước
nắm giữ lấy cực tĩnh và linh động độ sanh như huyễn,
sau đoạn trừ phiền não. Pháp môn nầy gọi là trước đồng
tu CHỈ, QUÁN và sau tu THIỀN.
Do
nắm giữ cực tĩnh, mà được tịch diệt trọn vẹn, sau khởi
dụng độ sanh, kiến lập thế giới. Hành pháp môn nầy gọi
là trước đồng tu CHỈ và THIỀN, sau tu QUÁN.
Tuỳ
thuận, linh động hoá độ chúng sanh, sau thu liễm vào nắm
giữ lấy cực tĩnh. Hành pháp như thế gọi là trước tu QUÁN,
sau tu CHỈ.
Do
hóa độ chúng sanh mà được tịch diệt hoàn toàn. Hành theo
pháp nầy gọi là trước tu QUÁN, sau tu THIỀN.
Linh
động làm các Phật sự, mà vẫn an trụ trong tịch tĩnh và
đoạn hết phiền não ưu bi. Thành tựu như vậy gọi đó là
trước tu QUÁN, giữa tu CHỈ và sau tu THIỀN.
Linh
động là tất cả việc lợi ích chúng sanh mà vận đoạn
trừ hết phiền não và an trụ trong cực tĩnh. Thành tựu theo
pháp môn nầy gọi là trước tu QUÁN, giữa tu THIỀN và sau
tu CHỈ.
Vận
dụng phương tiện trong việc độ sanh như huyễn mà vẫn trụ
trong cực tĩnh và tịch diệt. Thành tựu kết quả nầy gọi
là trước tu QUÁN, sau đồng tu CHỈ và THIỀN.
Linh
động khởi dụng độ sanh như huyễn và an trụ trong cực
tĩnh sau hết đoạn trừ phiền não. Thành tựu pháp môn đó
gọi là trước đồng tu QUÁN và CHỈ, sau tu THIỀN.
Linh
động trong sự nghiệp độ sanh, thường trụ trong tịch diệt
mà không rời cực tĩnh. Pháp môn nầy gọi là trước đồng
tu QUÁN và THIỀN, sau tu CHỈ.
Nếu
do sức tịch diệt mà được thanh tịnh đến cực tĩnh. Thành
tựu nầy gọi là trước tu THIỀN, sau tu CHỈ.
Nếu
do sức tịch diệt mà khởi công dụng hóa độ chúng sanh như
huyễn. Đây gọi là trước tu THIỀN, sau tu QUÁN.
Nếu
do sức tịch diệt mà được cực tĩnh rồi khởi dụng độ
sanh. Pháp hành như thế gọi là trước tu THIỀN, giữa tu CHỈ
và sau tu QUÁN.
Trước
do sức tịch diệt, mà khởi dụng hóa độ chúng sanh, sau quay
về trụ trong cực tĩnh. Thành tựu nầy gọi là trước tu
THIỀN, giữa tu QUÁN và sau tu CHỈ.
Nếu
do sức tịch diệt mà đi sâu vào chỗ cực tĩnh, từ cực
tĩnh khởi công dụng linh động trong sự nghiệp hộ thế chúng
sanh. Thành tựu pháp môn nầy gọi là trước tu THIỀN, sau
đồng tu CHỈ và QUÁN.
Nếu
do sức tịch diệt mà dẫn đến cực tĩnh rồi khởi dụng
lợi ích chúng sanh, theo pháp môn nầy gọi là trước đồng
tu THIỀN và CHỈ, sau tu QUÁN.
Nếu
do sức tịch diệt dẫn đến khởi công dụng linh động trong
việc lợi ích chúng sanh, sau quay về cực tĩnh với trí tuệ
trong sáng. Thành tựu pháp môn nầy gọi là trước đồng tu
THIỀN, QUÁN và sau tu CHỈ.
Nếu
sử dụng tuệ nhãn, nhìn vạn pháp tánh tứơng viên dung không
rời Viên Giác. Thành tựu pháp môn nầy gọi là viên tu ba
tự tánh, tuỳ thuận trọn vẹn CHỈ, QUÁN và THIỀN NA.
Nầy,
Biện Âm! Đây là25 cách xoay vòng thay đổi trước sau, Bồ
tát đều có thể theo đó mà tu hành, tùy căn tánh thích hợp
tu theo phương thức nào cũng đều đạt đến kết quả trở
về với NHƯ LAI VIÊN GIÁC DIỆU TÂM thanh tịnh của chính mình.
Bấy
giờ đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Biện
Âm ông nên biết.
Tất
cả các Bồ tát.
Tuệ
thanh tịnh vô ngại.
Đều
nương thiền định sanh.
Ấy
là Xa Ma Tha.
Tam
Ma Đề, Thiền Na.
Ba
pháp tu đốn, tiệm.
25
cách xoay vòng.
Mười
phương các Như Lai.
Ba
đời người tu tập.
Hết
thảy đều nhơn đó.
Mà
được thành Bồ đề.
Chỉ
trừ người đốn giác.
Bất
tùy thuận tiệm tu.
Tất
cả các Bồ tát/
Và
Chúng sanh đời sau.
Siêng
tu theo pháp nầy.
Nhờ
Phật lực đại bi.
Niết
bàn thường hiện hữu.
TRỰC
CHỈ.
CHỈ,
QUÁN và THIỀN là ba pháp căn bản trong vô lượng pháp môn
tu. theo phương cách tu thông thường, trước phải tu CHỈ,
tiếp theo tu QUÁN, sau là CHỈ QUÁN ĐỔNG TU, tức là THIỀN.
CHỈ có công dụng như GIỚI. QUÁN có công dụng như ĐỊNH.
Và CHỈ QUÁN ĐỔNG TU có công dụng như TUỆ. Công dụng của
GIỚI ví như cái bóng đèn. Công dụng của ĐỊNH ví như ngọn
đèn đứng yên. Công dụng của TUỆ ví như ánh sáng ngọn
đèn tỏa sáng tròn đầy. Do bóng đèn, ngọn đèn đứng yên.
Do ngọn đèn đứng yên mới tỏa ra ánh sáng. A?h sáng tỏa
ra soi sáng mọi vật, soi sáng những chỗ cần soi sáng. Vì
vậy, cho nên CHỈ, QUÁN và THIỀN lẽ thường phải tu theo
thứ tự. Giống như GIỚI, ĐỊNH, TUỆ, tam vô lậu học, cũng
tu theo thứ tự. Chủng tánh Tiểu thừa và trong giai đoạn
học tu Tiểu thừa đều phải học và tu theo thứ tự như
vậy.
Kinh
Như Lai Viên Giác, thuộc hệ tư tưởng liễu nghĩa Đại thừa
cho nên vượt ngoài khuôn khổ có tánh giáo điều. Người
Đại thừa cho rằng sự thực hành thứ tự cố định đó
không cần thiết, mà nó còn kềm hãm khả năng "nhảy vọt",
hạn chế những phát huy sáng kiến trong tiến trình hành đạo
và chứng đạo của con người.
Ơ?hương
tám nầy, người đọc sẽ thấy rõ tinh thần phóng khoáng
của Đại thừa tư tưởng: Rằng "Phật pháp bất định pháp".
"Nhất thiết chư pháp vô phi Phật pháp". "Phật pháp tại thế
gian, bất ly thế gian giác"… Pháp Phật là pháp bất định
chứ không cố định. Tất cả các pháp đều là Phật pháp
và Phật pháp ở khắp thế gian. Thành Phật không rời thế
gian. Cho nên, dỡ chân lên, hạ chân xuống cũng là Phật pháp,
khư khư bảo thủ quả vị chứng đắc Bồ đề Niết bàn
đã là sai, khư khư chấp chặt thứ tự trước sau của XA
MA THA, TAM MA BÁT ĐỀ, THIỀN NA lại càng vô bổ. Vì vậy,
CHỈ, QUÁN, và CHỈ QUÁN ĐỔNG TU có thể xoay vòng thay đổi
trước sau thành 25 cách trong tiến trình tu tập mà kết quả
đem lại ai cũng được: TÙY THUẬN VIÊN GIÁC DIỆU TÁNH giống
nhau.
Ở
kinh Thủ Lăng Nghiêm thì 25 vị Thánh đệ tử trình bày lên
Phật về duyên cớ và dữ kiện chứng đắc VIÊN THÔNG:
I.
DỰA TRÊN LỤC CĂN CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông
A Na Luật Đà.
Ông
Quán Thế Âm Bồ tát.
Ông
Châu Lợi Bàn Đặc.
Ông
Kiều Phạm Ba Đề.
Ông
Tất Lăng Gìa Bà Ta.
Ông
Tu Bồ Đề.
II.
DỰA TRÊN LỤC TRẦN CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông
Ưu Ba Ni Sa Đà.
Ông
Kiều Trần Như.
Ông
Hương Nghiêm Đồng Tử.
Ông
Dược Vương và Dược Thượng.
Ông
Bạt Đà Bà La.
Ông
Ma Ca Ha Diếp.
III.
DỰA TRÊN LỤC THỨC CHỨN G ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông
Xá Lợi Phất.
Ông
Phổ Hiền Bồ tát.
Ông
Tôn Đà La Nan Đà.
Ông
Phú Lâu Na.
Ông
Ưu Ba Ly.
Ông
Đại Mục Kiền Liên.
IV.
DỰA TRÊN THẤT ĐẠI CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông
Trì Địa Bồ tát.
Ông
Nguyệt Quang Đồng Tử.
Ông
Ô Sô Sắc Na.
Ông
Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử.
Ông
Hư Không Tạng Bồ tát.
Ông
Đại Thế Chí Pháp Vương Tử.
Ông
Di Lặc Bồ tát.
"Quả
vị có thấp cao, giải thoát giống nhau không khác mấy.
"Căn
trần thức giới thất đại đều là dữ kiện chứng đắc
VIÊN THÔNG"
(Xin
đọc Thủ Lăng Nghiêm kinh Trực chỉ Đề cương tập II cùng
một soạn giả từ trang 77 sẽ được hiểu rõ hơn).
Đọc
kinh DUY MA CẬT SỞ THUYẾT TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG, ta thấy chư
Bồ tát chứng nhập PHÁP MÔN KHÔNG HAI, minh chứng rõ thêm
về Phật pháp là "bất định pháp" và "bất ly thế gian".
Các
Bồ tát tiếp cận môi trường dữ kiện khác nhau. Nhưng tất
cả cũng đạt đến một mục đích là cùng CHỨNG NHẬP PHÁP
MÔN KHÔNG HAI:
1/
Bồ tát Pháp Tư Tại dựa trên SANH và DIỆT.
2/
Bồ tát Đức Thủ :
NGÃ
và NGÃ SỞ.
3/
Bồ tát Bất Thuấn:
THỌ
và BẤT THỌ.
4/
Bồ tát Đức Đãnh:
CẤU
và TỊNH.
5/
Bồ tát Thiện Tú :
ĐỘNG
TÂM và NIỆM TƯỞNG.
6/
Bồ tát Thiện Nhãn:
TƯỚNG
NHẤT và TƯỚNG VÔ.
7/
Bồ tát Diệu Tý :
TÂM
BỔ TÁT và TÂM THANH VĂN.
8/
Bồ tát Phất Sa:
THIỆN
và BẤT THIỆN.
9/
Bồ tát Sư Tử :
TỘI
và PHƯỚC.
10/
Bồ tát Sư Tử Ý :
HỮU
LẬU và VÔ LẬU.
11/
Bồ tát Tịnh Giải :
HỮU
VI và VÔ VI.
12/
Bồ tát Na La Diên:
THẾ
GIAN và XUẤT THẾ GIAN.
13/
Bồ tát Thiện Ý :
SANH
TỬ và NIẾT BÀN.
14/
Bồ tát Thiện Kiến:
TẬN
và BẤT TẬN.
15/
Bồ tát Phổ Thủ :
NGÃ
và VÔ NGÃ.
16/
Bồ tát Điển Thiên:
MINH
và VÔ MINH.
17/
Bồ tát Hỷ Kiến :
SẮC
và KHÔNG.
18/
Bồ tát Minh Tướng:
TỨ
ĐẠI và SỰ SAI KHÁC CỦA KHÔNG ĐẠI.
19/
Bồ tát Diệu Ý :
NHÃN
CĂN và SẮC TRẦN.
20/
Bồ tát Vô Tận Ý
BỐ
THÍ và HỔI HƯỚNG NHẤT THIẾT TRÍ.
21/
Bồ tát Thâm Tuệ:
KHÔNG,
VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC.
22/
Bồ tát Tịnh Căn:
PHẬT,
PHÁP và TĂNG.
23/
Bồ tát Tâm Vô Ngại:
THÂN
và THÂN DIỆT.
24/
Bồ tát Thượng Thiện:
THÂN,
KHẨU, Ý .
25/
Bồ tát Phước Điền:
LÀM
PHƯỚC LÀM TỘI, LÀM KHÔNG PHƯỚC KHÔNG TỘI.
26/
Bồ tát Hoa Nghiêm:
Từ
BẢN NGÃ KHỞI CHẤP.
27/
Bồ tát Đức Tạng:
Có
tướng SỞ ĐẮC.
28/
Bồ tát Nguyệt Thượng:
TỐI
và SÁNG.
29/
Bồ tát Bảo Ấn Thủ :
Ham
mộ NIẾT BÀN nhàm chán THẾ GIAN.
30/
Bồ tát Châu Đảnh:
CHÁNH
ĐẠO và TÀ ĐẠO.
31/
Bồ tát Nhạo Thật:
THẬT
và KHÔNG THẬT.
32/
Bồ tát Văn Thù :
Dùng
Ý phân biệt là sai. Ngôn ngữ luận bàn không đến được.
33/
Cuối cùng Trưởng giả Duy Ma Cật:
Lặng
im và lặng im…
(Xin
đọc Kinh DUY MA CẬT TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG cùng một soạn
giả ).
Tóm
lại, CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN ĐỔNG TU, hành giả có thể hành
theo thứ tự cũng đạt đến kết quả "Tùy thuận VIÊN GIÁC
DIỆU TÁNH" và xoay vòng thay đổi trước sau thành 25 cách tu
cùng đem lại kết quả giống nhau.
Căn,
Trần, Thức, Thất đại, dữ kiện khác nhau mà cùng chứng
đắc VIÊN THÔNG giống nhau.
Nhận
thức khác nhau, môi trường phản tĩnh khác nhau nhưng cùng
chứng nhập PHÁP MÔN KHÔNG HAI giống nhau.