CHƯƠNG
BẢY
XA
MA THA, TAM MA BÁT ĐỀ VÀ THIỀN NA
LÀ
PHÁP HÀNH CĂN BẢN TRONG TOÀN BỘ NỀN GIÁO LÝ PHẬT
Lúc
bấy giờ Bồ tát Uy Đức Tự Tại đảnh lễ dưới chân Phật
và chấp tay thưa:
Đấng
Đại bi Thế Tôn đã vì chúng con dạy rõ phương pháp tu hành
tùy thận Viên Giác tánh, hàng Bồ tát chúng con giác tâm bừng
sáng, không phải tu tập mà được lợi ích lớn lao.
Bạch
Thế Tôn ! Ví như đại đô thành, đường đi vào không phải
một, tùy hướng mà đến theo sự thuận lợi và ý thích của
mỗi người. Bồ tát tu hành trang nghiêm Phật độ có lẽ
không phải chỉ có một pháp môn. Cúi xin Như Lai vì chúng
con và chúng sanh đời sau dạy cho pháp môn tu hành tiệm tiến,
chúng con cần phải làm gì và có bao nhiêu phương cách để
vun bồi trí tuệ, hầu tỏ ngộ diệu tánh Viên Giác để rong
chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai?
Phật
dạy: Nầy Uy Đức Tự Tại ! Vô thượng diệu giác phổ biến
khắp mười phương, sản sanh ra chư Như Lai và tất cả pháp
bình đẳng đồng thể. Ơ?rong đó việc tu hành không có hướng
hai, nhưng vì tùy thuận căn cơ chủng tánh mở bày phương
tiện nên có vô lượng pháp môn sai khác. Tuy vậy, có thể
tóm kết sự sai khác ấy trong ba phương thức tu hành căn bản:
Một,
trước hết Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tánh Viên
Giác thanh tịnh vốn có của mình. Lấy sự tỏ ngộ ấy làm
đối tượng trụ tâm. Từ đó, vọng niệm đứng lặng, tuệ
giác phát sanh, nhận biết phiền não nội tâm chỉ là thứ
khách trần. Xả bỏ được tính chấp nặng nề, tâm hành
giả bèn có được trạng thái khinh an tịch tĩnh. Bấy giờ
tâm của chư Phật hiển hiện vào như hình tượng ảnh hiện
trong gương. Thực hiện phương thức nầy thành tựu, gọi
đó là pháp môn phương tiện XA MA THA (CHỈ).
Hai,
Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tánh Viên Giác thanh tịnh
vốn có của mình. Sử dụng giác tâm nhận thức căn trần
đều là huyễn hóa. Lấy huyễn tâm trừ huyễn cảnh, lấy
huyễn trí giải hoá huyễn tâm. Bừng tỉnh giác biết rằng
thân tâm cảnh giới đều hư huyễn. Bấy giờ tâm hành giả
được trạng thái khinh ai đại bi. Theo đà phát triển của
giác tâm thanh tịnh tăng tiến tu hành trưởng dưỡng quán
trí như đất nuôi mạ. Thành tựu hiệu lực như thế, gọi
đó là pháp môn phương tiện TAM MA BÁT ĐỀ (QUÁN).
Ba,
Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tánh Viên Giác thanh tịnh
vốn có của mình. Sử dụng giác tâm trừ chấp. Xóa bỏ cái
thấy biết huyễn hóa. Xoá bỏ cái nhận thức thanh tịnh của
giác tâm. Không để cho ngăn ngại vì cái biết và cái không
biết. Vượt qua tất cả các ngại. Thân tâm hiện hữu trên
cõi đời mà Niết bàn và phiền não không trở ngại gì nhau.
Ví như tiếng ngân vang của chuông từ chuông mà có, nhưng
tiếng và chuông không hề ngăn ngại cho nhau. Lúc bấy giờ
hành giả phát ra sự khinh an tịch diệt, tùy thuận diệu tánh
Viên Giác. Ơ?rong cảnh tịch diệt, ý niệm vọng chấp: ta,
người, chúng sanh và thọ mạng trở thành phù hư không còn
công dụng. Thành tựu được hiệu lực như thế, gọi đó
là pháp môn tu tập THIỀN NA (gọi tắt là THIỀN).
Nầy
Uy Đức Tự Tại ! Ba pháp môn đó là những phương thức gần
gũi và tuỳ thuận tánh Viên Giác. Mười phương Như Lai nhơn
đó mà thành Phật. Mười phương Bồ tát, bao nhiêu phương
tiện đồng dị cuối cùng đều y ba phương thức tu hành đó
mà người thì chứng ngộ, kẻ được thể nhập Như lai Viên
Giác.
Nầy
Uy Đức Tự Tại ! Giả sử có ngưới siêng tu thánh đạo,
giáo hoá thành tựu trăm ngàn muôn ức A La Hớn, Bích Chi Phật,
không bằng người nghe pháp môn Viên Giác thanh tịnh nầy tùy
thuận tu tập trong một sát na!
Bấy
giờ đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Uy
Đức ông nên biết.
Viên
Giác tâm Vô thượng.
Bản
chất không hai tướng.
Tùy
thuận mở phương tiện.
Pháp
môn có rất nhiều.
Như
Lai tóm kết lại.
Phương
thức có ba điều.
Tịch
tĩnh XA MA THA.
Như
gương in ảnh tượng.
NHƯ
HUYỄN TAM MA ĐỀ.
Như
đất nuôi mọng mạ.
THIỀN
NA sâu tịch diệt.
Như
tiếng ngân và chuông.
Ba
pháp môn màu nhiệm.
Đều
tùy thuận Viên Giác.
Mười
phương các Như Lai.
Và
chư Bồ tát chúng.
Nhơn
đấy được thành đạo.
Ba
pháp, tu viên mãn.
Được
cứu cánh Niết bàn.
TRỰC
CHỈ
Trong
đạo Phật có rất nhiều pháp môn để tu và hành. Tùy hoàn
cảnh, căn tánh, hành giả có thể chọn một pháp môn tu thích
hợp với mình. Kinh sách Phật có câu: "vô lượng pháp môn
tu". Ý nghĩa của câu đó, cho biết rằng, người tu chọn pháp
môn nào cũng được đều có thể đạt mục đích được,
không nhất thiết bắt buộc phải theo một pháp môn giáo điều
cố định nào. Đó là tinh thần phóng khoáng và tánh "tự
do" của nền giáo lý Phật. Tuy vậy, trong phóng khoáng tự
do vẫn có tiêu chuẩn của tự do phóng khoáng. Xa Ma Tha, Tam
Ma Bát Đề và Thiền na là tiêu chuẩn chung cho "tất cả pháp
môn". XA MA THA là Phạn âm Trung Hoa dịch là CHỈ. Chỉ là ngăn
dứt vọng tâm chặn đứng loạn tưởng. Tâm con người thường
ngày quay cuồng trong cái vòng lẩn quẩn: Mừng, giận, thương,
sợ, yêu, ghét, muốn… không có phút đứng yên. Tất cả
thức đó là nguyên nhân gây ra khổ não. Hành giả vận dụng
nội lực cắt bỏ, chặn đứng các thứ vọng tưởng của
cái vòng lẩn quẩn ấy để tâm được dừng trụ. Tâm dừng
trụ một chỗ, đó là công dụng của pháp tu CHỈ và XA MA
THA. Trạng thái dừng trụ yên tĩnh được chiếm nhiều thời
gian trong ngày, trong cuộc sống. Đây là bước đầu hành giả
được làm quen và là cơ hội để hành giả nhận diện bộ
mặt thật của "chơn tâm thường trú" của mình.
TAM
MA BÁT ĐỀ Trung Hoa dịch là QUÁN. Quán là vận dụng TRÍ để
nhận xét đối tượng. Ví dụ: Cái bàn. Lấy cái bàn làm
vật đối tượng để nhận xét.
Ví
dụ: "Cái bàn là vật VÔ THƯỜNG". Qua nhận xét bằng TRÍ,
hành giả thấy "cái bàn vô thường" là một chân lý.
TRÍ
nhận xét thuật ngữ gọi là "năng quán". Cái bàn bị nhận
xét, thuật ngữ gọi là "sở quán". Dùng trí năng quán, quán
xét biết được đối tượng sở quán (cái bàn) là một vật
vô thường.
Đó
là cách sử dụng Tam Ma Bát Đề trong tu tập. Dựa trên pháp
quán về "cái bàn" ấy, bậc đại trí lợi căn còn suy diễn
và đánh giá hiện tượng vạn hữu qua kết luận bao quát
bằng sự nhận thức chân lý:
"Tất
cả hiện tượng vạn hữu đều vô thường.
Vì
chúng là vật chất.
Phàm
vật chất đều vô thường.
Ví
như cái bàn…"
THIỀN
NA là Phạn âm Trung Hoa dịch TĨNH LỰ, có nghĩa là tư duy trong
tịch tĩnh. Chữ TĨNH có ý nghĩa như chữ CHỈ. Chữ LỰ có
ý nghĩa như chữ QUÁN. Do vậy, THIỀN NA được hiểu đồng
nghĩa như CHỈ QUÁN. Cho nên nói đến "TU THIỀN" là nói đến
pháp môn CHỈ QUÁN song tu. Thiền là gọi tắt của từ Thiền
na ấy.
Tóm
lại, XA MA THA, TAM MA BÁT ĐỀ, THIỀN NA, là ba pháp môn: CHỈ,
QUÁN và CHỈ QUÁN đồng tu. Đó là ba pháp môn căn bản của
tám muôn bốn ngàn pháp môn tu trong đạo Phật. Học Phật,
tu Phật mà không biết sử dụng CHỈ, QUÁN hoặc CHỈ QUÁN
đồng tu thì quả quyết mà nói thẳng rằng: cách tu đó, bất
cứ với dạng thức nào, đều được xem là tu sai lạc, hoàn
toàn không đem lại một lợi ích, một kết quả nào. Ví như
người thợ làm bánh Trung Thu trong lò bánh không có bột, đường,
thịt, hạt, trứng… thì không làm sao có được bánh Trung
Thu ngon lành trong thị trường Trung Thu tháng Tám !