MỤC
LỤC
Tựa
Lời
cáo bạch
Phàm
lệ
CHƯƠNG
01 Pháp hành của Như Lai trong khi tu Nhơn Địa
CHƯƠNG
02 Biết huyễn là đã ly huyễn ly huyễn là Phật rồi
CHƯƠNG
03 Chánh niệm tư duy là con đường tu tập tiệm tiến
CHƯƠNG
04 Chưa ra khỏi luân hồi luận bàn Viên Giác tánh thì tánh
Viên Giác trở thành đồng tánh luân hồi
CHƯƠNG
05 An ái tham dục là căn bản của sự luân hồi
CHƯƠNG
06 Tánh Viên Giác vốn là phi tánh
CHƯƠNG
07 Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề và Thiền Na là pháp hành căn
bản trong toàn bộ nền giáo lý Phật
CHƯƠNG
08 Chỉ, Quán, Thiền có thể xoay vòng thay đổi thành 25
cách trong tiến trình tu tập
CHƯƠNG
09 Chứng ngộ liễu giác là pháp chướng ngại Bồ đề
CHƯƠNG
10 Tác nhâm chỉ diệt là bốn căn bệnh trở ngại tiến
trình về nhà Như Lai Viên Giác
CHƯƠNG
11 Xa Ma Tha Tam Ma Bát Đề và Thiền Na trong bước đường
tu tập.
CHƯƠNG
12 Biển cả dung chứa nước hết thảy sông ngòi khe lạch.
Viên Giác đại thừa giáo lợi ích khắp căn cơ
TỰA
Bộ
kinh nầy tiền bối cổ kim từ các thời đại Tống, Minh xa
xưa ở Trung Quốc và qua bao thế hệ lịch sử ở Việt nam
ta đều tiếp nhận danh xưng của bộ kinh nầy qua nhan đề
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC TU ĐA LIỄU NGHĨA KINH. Với nhan
đề đó, nói lên tánh chất trọng đại trong trọng đại
ở nội dung và giáo nghĩa thậm thâm vi diệu của kinh. Thực
lý mà nói, văn tự có tuyệt xảo thế nào cũng không chở
hết được ý. Người xưa nói: Ý tại ngôn ngoại. Phật thì
nói: "Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ". Văn
tự, giáo lý của tất cả kinh tạng ví như ngón tay chỉ trăng.
Và lại theo lời Phật dạy cho Bồ tát Hiền Thiện Thủ thì
kinh nầy có thể gọi bằng những năm danh tự khác nhau. Mà
danh tự nào, ý nghĩa cũng hun hút chiều sâu như vực thẳm.
Khi
dịch và viết phần Trực chỉ bộ kinh nầy, tôi suy nghĩ rất
nhiều về cái đề kinh. Theo cổ nhơn gọi tắt với cái tên:
VIÊN GIÁC KINH, tôi thấy không vừa lòng. Dùng nhan đề ĐẠI
PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC TU ĐA LA LIỄU NGHĨA KINH tôi cho là
quá dài mà cũng không hẳn đủ đảm bảo nội dung của kinh
trong đó. Qua quá trình tư duy dai dẳn tôi vụt nhớ hai câu
thơ của một thiền sư Việt nam:
"Nam
nhi tự hữu xung thiên chí
Hưu
hướng Như Lai hành xứ hành".
Lời
cổ vũ sấm rang đó, tôi khởi ý quyết định "chiết trung"
hai nhan đề một dài và một ngắn ấy, thành: NHƯ LAI VIÊN
GIÁC KINH. Đó làcái nhan đề mà tôi dâng trọn tâm hồn lên
đức Phật để xin được đặt ra.
NHƯ
LAI VIÊN GIÁC KINH là một bộ kinh thuộc hệ tư tưởng Liễu
nghĩa Đại thừa. Ơ㠫?nh nầy, đức Phật khai thị về tự
tánh VIÊN GIÁC của mọi người. Rằng con người ai cũng sẵn
có cái tánh giác ngộ viên mãn thanh tịnh không có tội lỗi
nhiễm ô. Dù ở Thánh tánh đó không thêm, ở phàm cũng không
bị hao bớt. Chúng sanh hiện hữu trên cõi đời nầy chỉ
là diệu dụng tùy duyên vốn sanh khởi từ bản thể tự tánh
VIÊN GIÁC bất biến ấy. Vì vậy, cho nên gọi là NHƯ LAI VIÊN
GIÁC.
Tu
học theo kinh Như Lai Viên Giác hành giả sẽ hiểu rõ về giáo
lý:
Đốn
tu đốn ngộ
Tiệm
tu tiệm ngộ
Đốn
ngộ tiệm tu
Đốn
tu tiệm ngộ
"Đốn"
"Tiệm" là phạm trù đối đãi về mặt thời gian. "Tu" "Ngộ"
là phạm trù đối đãi về mặt nhân quả. Có tu thì có ngộ.
Có ngộ thì có chứng đắc quả vị. Đó là chân lý về nhân
quả. Chân lý nhân quả không riêng gì phương tiện tu chứng
mà nó bao quát hết thảy sự vật hiện tượng thế gian và
pháp xuất thế gian, ngoại trừ thân chứng cảnh giới NHƯ
LAI VIÊN GIÁC.
Đáp
câu hỏi của Bồ tát Văn Thù về pháp hành của Như Lai khi
tu nhơn địa. Phật dạy: PHÁP HÀNH CỦA NHƯ LAI KHI TU NHƠN
ĐỊA LÀ SỬ DỤNG TRÍ VIÊN GIÁC QUÁN CHIẾU LÝ VIÊN GIÁC.
VÌ VẬY KHÔNG SANH KHỞI VÔ MINH GỌI LÀ THÀNH PHẬT ĐẠO. Qua
lời dạy đó, người đệ tử Phật thấy rằng: Khi tu nhơn,
đức Phật chỉ sử dụng chân trí soi rọi chân lý. Đức
Phật không có làm gì cực nhọc khó khăn. Lấy chân trí trong
sáng tỉnh thức quán chiếu chân lý vốn thanh tịnh bản nhiên,
do vậy, vô minh không có điều kiện sanh khởi. Mà không có
vô minh thì không phải chúng sanh. Không phải chúng sanh thì
gọi là Phật, là thành Phật đạo !
Giáo
lý đốn tu, đốn ngộ, đốn chứng được Thế Tôn khai thị
cho Bồ tát Đại Trí Văn Thù ở chương một của bộ kinh
nầy.
TRI
HUYỄN TỨC LY, LY HUYỄN TỨC GIÁC đức Phật dạy cho Bồ tát
Phổ Hiền ở chương hai Như Lai vẫn chưa mở bày phương tiện,
vì ý Phật muốn cho những người có chủng tánh Đại thừa
cần phải hứng khởi ý chí quyết liệt, như người bừng
tỉnh một cơn ác mộng. Người biết mộng là người đã
tỉnh thức rồi.
Dạy
về pháp ĐỐN NGỘ ĐỐN TU ở chương một, đức Phật khai
thị cho Bồ tát Đại Trí Văn Thù về công năng tu tập qua
một chữ TRI. Ơ㠣?ương hai Phật khai thị về công dụng của
chữ LY do Bồ tát Phổ Hiền nêu ra cũng nhằm để hướng
dẫn pháp hành ĐỐN TU ĐỐN NGỘ và ĐỐN CHỨNG.
Nếu
chưa phải là bậc lợi căn đại trí thì cầu học những
phương tiện "Tiệm tu". với pháp tiệm tu, hành giả có thể
thực hành tu tập những pháp môn ngang với nghị lực và nhận
thức của mình. "Tiệm" có nghĩa là dần dần, từ thấp tới
cao, từ chậm đến mau trên đường tu, ngộ. Tuy nhiên, hành
giả không để lệch mục tiêu là VIÊN GIÁC TỰ TÁNH vốn
có của mình. Rời mục tiêu ấy mà cầu mong chứng ngộ Bồ
đề Niết bàn… chẳng khác nào mò trăng đáy nước, nấu
cát hy vọng thành cơm, chờ hoa đốm trong hư vô sanh ra quả
ngọt…
CHỈ,
QUÁN và THIỀN là ba pháp hành căn bản trong nền giáo lý Phật.
Nó được ứng dụng xuyên suốt không gian và thời gian đối
với người đệ tử Phật phát chí tu hành, và cũng từ căn
bản đó vận dụng triển khai thành "vô lượng pháp môn tu"
! Ví như xi măng, cát, đá, sắt và nước là chất liệu cơ
bản của ngành kiến trúc vậy.
Sự
chấp mắc sai lầm chân lý đối với đường tu, nó trở thành
vật cản, chặn đứng sự tiến lên đỉnh cao Bồ đề Niết
bàn Phật. CHỨNG, NGỘ, LIỄU, GIÁC là sự chấp mắc sai lầm
về "bản ngã". Không tỏ ngộ chân lý "ngã không", con người
rất khó dứt ý tưởng "ngã chấp câu sanh". Dứt câu sanh ngã
chấp khó, ví như người tự cắt đầu mình !
TÁC,
NHẬM, CHỈ, DIỆT cũng là thứ bệnh chấp sai lầm từ nhận
thức, dẫn đến chủ trương lệch lạc chánh nhân. Nhân đã
lầm thì quả sẽ lạc, khiến cho VIÊN GIÁC DIỆU TÁNH không
còn là mục tiêu hướng thiện hâm hở của lúc khởi hành
! Hãy thận trọng lưu tâm !
"Đại
hải bất nhượng tiểu lưu". Là biển cả thì không ngại
dung chứa nước sông ngòi khe lạch. NHƯ LAI VIÊN GIÁC kinh là
tư tưởng Liễu nghĩa Thượng thừa, mà bậc đại căn cơ
hay trung lưu tiểu trí, học tu đều đem lại lợi ích thích
ứng với CHÍ, NGUYỆN, HÀNH của mỗi người.
Vì
nội dung tư tưởng thậm thâm vô thượng, vì tán chất Đại
Phương Quảng Liễu Nghĩa của kinh mà tiền bối hậu triết
dị khẩu đồng tâm mỗi mỗi triển khai và ghi lại những
điều tâm đắc của mình. Suốt quá trình Phật sử ở Trung
Quốc, kinh Viên Giác được những nhà Phật học sớ giải,
chú thích, trước thuật, biên soạn gồm có những tên gọi:
Viên
Giác Kinh Lược Sớ. Đời Đường, ngài Tông Mật sớ, phân
thành 4 quyển.
Viên
Giác Kinh Đại Sớ, Sớ Sao cũng do ngài Tông Mật sớ sao phân
thành 3 quyển
Viên
Giác Kinh Sao Biện Nghi Ngộ. Đời Tống, ngài Quang Phục biên
soạn phân thành 2 quyển.
Viên
Giác Kinh Sớ Sao Tùy Văn Yếu Giải. Đời Tống, ngài Thanh
Viên soạn thuật phân thành 12 quyển
Viên
Giác Kinh Ngự Chú. Đời Tống, Hiếu Tông Hoàng Đế chú giải
phân thành 2 quyển.
Viên
Giác Kinh Loại Giải. Đời Tống, ngài Hạnh Đình giải phân
thành 8 quyển.
Viên
Giác Kinh Lược Sớ Tự Chú. Đời Tống, ngài Như Sơn chú
1 quyển
Viên
Giác Kinh Tâm cảnh. Đời Tống, ngài Trí Thông thuật phân
thành 6 quyển.
Viên
Giác Kinh Tập Chú. Đời Tống, ngài Nguyên Túy thuật phân
thành 2 quyển.
Viên
Giác Kinh Hiệp Tụng Tập Giải Giảng Nghĩa. Đời Tống, ngài
Chu Kỳ soạn thuật phân thành 12 quyển
Viên
Giác Kinh Trực Giải. Đời Minh, ngài Đức Thanh soạn thuật
phân thành 6 quyển
Viên
Giác Kinh Yếu Giải. Đời Minh, ngài Tịnh Chánh giải phân
thành 2 quyển.
Viên
Giác Kinh Cú Thích Chánh Bạch. Ngài Hoằng Lệ trước thuật
phân thành 6 quyển.
Viên
Giác Kinh Liên Châu. Ngài Tịnh Định trước thuật 1 quyển.
Viên
Giác Kinh Tịnh Nghĩa Sớ. Ngài Thông Lý trước thuật phân
thành 4 quyển
Viên
Giác Kinh Giải Nghĩa. Ngài Đế Nhàn diễn giải phân thành
2 quyển
Đó
là những vị tiền bối có quyết tâm đầu tư trí tuệ khai
thác nguồn tài nguyên tư tưởng liễu nghĩa thượng thừa
ở kinh Viên Giác
Ơ㠖?ệt
nam ta, cũng đã có một vài bản dịch từ Hán văn ra Việt
văn, nhưng vì thiếu vốn đầu tư, và không vận dụng khả
năng sáng tạo. Vì vậy công dụng của kinh Viên Giác vẫn
còn mai một chưa có cơ hội phát huy, bởi phẩm chất chưa
đáp ứng thị trường đối với người muốn tìm học Phật
pháp.
Nay
với nhan đề NHƯ LAI VIÊN GIÁC KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG,
với khả năng của mình, tôi viết ra phần TRỰC CHỈ để
chỉ thẳng trọng tâm, hướng dẫn người đọc nắm được
ý chính, nhận thức nghĩa lý tiềm ẩn ở văn kinh ý Phật.
Đó là lý tưởng của bỉ nhân tôi đối với công trình biên
soạn dịch thuật bộ kinh nầy. Tuy nhiên, sức đầu tư rất
hữu hạn mà tài nguyên liễu nghĩa thượng thừa thì vô tận
bao la, cho nên hy vọng có được chút lợi ích nào cho người
đọc cũng đáng mừng rồi.
Cổ
nhân nói: "Chí lạc mạc như đọc thơ, chí yếu mạc như giáo
tử". Không có thú vui nào bằng thú vui đọc sách. Không có
sự bí yếu nào bằng cái bí yếu đem dạy cho con.
Đọc
sách đã là vui, đọc kinh Phật đối với người Phật tử
có lẽ không đến nỗi buồn ! Mong thay !
Viết
tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT
Sài
gòn, ngày 20 – 11 – 1992
Pháp
sư: THÍCH TỪ THÔNG
Kính
đề.
LỜI
CÁO BẠCH
Bộ
kinh NHƯ LAI VIÊN GIÁC các tiền bối cổ kim có lẽ vì y theo
khuôn sáo trước mà các Ngài thường phân chia thành nhiều
quyển từ 2, 3, 4, 5 hay nhiều hơn thế nữa. Riêng tôi, tôi
nhận thấy sự phân chia ấy không đem lại hiệu quả gì,
mà chỉ thêm phần hình thức rườm rà vô bổ. Sự kiện then
chốt của toàn kinh là mười hai vị Bồ tát thay mặt Viên
Giác Hải Hội nêu lên những câu hỏi để cầu Phật chỉ
dạy. Y?ghĩa nội dung những câu hỏi có thể thu nhiếp trong
hai mục đích yêu cầu:
Học
phương pháp tu mà đức Phật và thập phương chư Phật đã
tu và được thành Phật.
Cầu
Phật giải phẫu chứng bệnh "chấp" và bệnh "nghi" và cầu
Phật chỉ dạy phương pháp ngăn ngừa các chứng bệnh đó
cho Bồ tát và chúng sanh tu hành hậu thế.
Hai
mục đích yêu cầu xuyên qua mười hai đề tài nghi vấn của
mười hai vị đại Bồ tát, được Phật khai thị cặn kẽ
rõ ràng, khiến cho trình độ tiếp thu chánh pháp của thính
chúng được nâng cao liên tục. Với nhận xét đó, tôi thấy
sự phân chia ra nhiều quyển, không cần, cho nên tôi chỉ rút
một câu hoặc những từ có ý nghĩa then chốt, trọng tâm
của đề tài được Phật khai thị, tôi đặt thành "Tiểu
đề" của đề tài đó. Và mỗi đề tài nghi vấn của một
Bồ tát, tôi kể đó là một chương. Ví dụ:
Chương
Một
PHÁP
HÀNH CỦA NHƯ LAI TRONG KHI TU NHƠN ĐỊA.
Chương
Hai
LY
HUYỄN TỨC GIÁC GIÁC TỨC THÀNH PHẬT…
Như
vậy trọn bộ kinh nầy có tất cả 12 chương, mà không phân
chia số quyển. Mong sao người đọc nhận ý quên lời để
giảm nhẹ bệnh hình thức, câu nệ khuôn sáo biến kế danh
ngôn.
"Nhất
thiết tu đa la giáo
Như
tiêu nguyệt chỉ".
Lại
có thơ rằng:
"Không
môn bất khẳng xuất
Đầu
song giả tự si
Bách
niên toàn cố chỉ
Hà
nhật xuất đầu thì".
Pháp
sư: THÍCH TỪ THÔNG
Kính
cáo.
PHÀM
LỆ
Bộ
kinh NHƯ LAI VIÊN GIÁC gồm cả thảy 12 chương, khi nghiên cứu
kinh nầy kính mong độc giả lưu ý:
Phần
nguyên văn kinh được in chữ đứng, đó là phần dịch từ
kinh Hán tự ra Việt văn.
Phần
trực chỉ in chữ nghiêng để cho dễ phân biệt. Phần nầy
do bỉ nhân tôi đóng góp viết ra những điều tâm đắc bằng
kiến giải của riêng mình. Hy vọng phần trực chỉ sẽ giúp
cho độc giả manh mối để tư duy, gợi trí nhận xét trong
tiến trình tìm hiểu học tu theo con đường Phật.
Đoạn
kinh có nhiều ý, tôi đánh số 1, 2, 3, v.v… Đoạn có đánh
số là có tiềm ẩn ý nghĩa sâu xa. Tôi phân tích và triển
khai phần tiềm ẩn đó trong phần TRỰC CHỈ sau chương đó.
Ở
phần TRỰC CHỈ cũng được đánh số 1, 2, 3, v.v… Số ở
phần nầy ứng hợp với số ở phần kinh văn trên. Ví dụ:
số 2 ở phần TRỰC CHỈ diễn đạt ý nghĩa tiềm ẩn của
đoạn số 2 ở phần kinh văn. Ngược lại, ở phần kinh văn
thấy có đánh số 2 tức là đã có diễn đạt ý nghĩa tiềm
ẩn của đoạn kinh đó ở sau chương trong phần TRỰC CHỈ.
Mấy
lời kính cáo, mong độc giả lưu tâm.
Ngày
nào chúng ta còn sống là còn phải học
"HỌC,
HỌC NỮA VÀ HỌC MÃI".
Pháp
sư: THÍCH TỪ THÔNG
Cẩn
bạch.
Tu
Viện Quảng Đức