c
KINH
NHÂN QUẢ BA ÐỜI
Việt Dịch:
HT Thích Thiền Tâm
Lời
Nói Đầu
Thuở xưa,
có người đến hỏi một vị Thiền sư: "Bậc tu hành đã
ngộ lý Chân Không, có lạc vào vòng Nhân Qủa đặng?". Thiền
sư đáp: "Bậc đại tu hành chẳng lạc vào vòng nhân qủa".
Vì câu trả
lời này mà khiến cho Thiền Sư phải đọa làm kiếp chồn
năm trăm năm, sau gặp ngài Bá Trượng mới được giải thoát.
Cũng do câu
chuyện trên đây, nên các vị cổ đức khuyên người học
Phật, trước tiên phải duyệt các kinh nói về nhân qủa tội
phước, chú trọng phần giới hạnh, cùng hiểu biết sự luân
hồi trong ba cõi sáu đường, sau mới nghiên cứu qua kinh cao.
Nếu trái thứ tự, bước đầu tiên đọc những kinh như:
Kim Cang, Pháp Bảo Đàn...nếu không phải là người có nhiều
căn lành, tất dễ sinh lòng khinh mạn và lạc vào lối chấp
không?. Thật ra, nhân qủa không phải là chuyện thấp nhỏ,
vì từ chúng sinh đọa tam đồ cho đến chư Phật thành Chính
Giác đều không ngoài nhân qủa. Do sự kiện trên bút giả
mới phiên dịch quyển kinh nầỵ
Vì kinh Nhân
Qủa nói tóm tắt không mấy trang nên bút giả lại phụ
thêm một ít câu chuyện tạm gọi là "Nhân Qủa Luân Hồi
Tạp Lục".
Về việc
luân hồi nhân qủa ở Việt Nam ta cũng có nhiều, tiếc vì
không ai ghi chép thành sách, nên tản mác đi. Vì thế,
bút giả đành tìm dịch các câu chuyện bên Trung Hoa, và những
việc này đều có thật. Cái thông bệnh của người tu Phật,
là hay luận huyền nói diệu, mà việc thường nhỏ lại
ít khi làm được. Nhớ lại hồi xưa sư cụ Khánh Hòa còn
tại thế, có một Phật tử hỏi về đạo lý "vô thỉ vô
chung". Sư Cụ mỉm cười đáp: "Hỏi chi xa vời vậy?
Gắng ăn chay và niệm Phật cho đều đều là tốt lắm rồi!",
Đại để, người đã lăn lội trong nhiều giáo điển,
lại không muốn nói diệu huyền mà chỉ chú trọng đến sự
thật hành thông thường, là như thế.
Kinh Hoa Nghêm
nói: "Lòng tin là bước đầu của đạo, và mẹ của tất
cả công đức". Mong những vị hữu duyên, khi xem đến quyển
sách này, bắt đầu tu niệm tin có linh hồn ma qủy, đến
tin có tội phước báo ứng, việc chuyển kiếp luân hồi,
cũng sự linh hiển của Phật Pháp. Do đó, lần lượt tiếp
tục xem những kinh cao hơn. Chừng ấy, lẽ không không sắc
sắc, đường thị thị phi phi, sẽ hỏi Phật đà mà tỉnh
ngộ.
Thích Thiền
Tâm
Kinh
Nhân Qủa Ba Đời
Việt Dịch:
HT Thích Thiền Tâm
Một hôm,
Tôn giả A Nan Đà, ở trên hội Linh Sơn cùng với một ngàn
hai trăm năm mươi đại Tỳ Kheo câu hội.
Khi ấy A
Nan Đà Tôn giả, chắp tay đảnh lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng,
rồi quỳ xuống thưa thỉnh đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế
Tôn rằng:
- Bạch Thế
Tôn! Đến thời mạt pháp, tất cả chúng sinh ở cõi Nam Diêm
Phù Đề, nhiều kẻ sinh niệm chẳng lành, không kính Tam Bảo,
không trọng cha mẹ, không có tam cang. Năm giềng rối loạn,
nghèo khó, thấp hèn, sáu căn chẳng đủ, trọn ngày sát sinh
hại mạng cho đến nghèo giàu sang hèn không đồng nhau. Do
nhân duyên qủa báo gì khiến nên như thế?
Cúi xin đức
Thế Tôn từ bi, vì chúng con giải thích mọi sự việc.
Phật bảo
A Nan cùng các đại đệ tử: ! Lành thay ! Lành thay ! Các ông
hãy lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thích rành rẽ".
Tất cả
nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng
hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời
trước mà cảm qủa báo.
Cho nên tất
cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải
tin trọng ngôi Tam Bảo, thứ ba nên bỏ giới sát mà phóng
sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống
ruộng phước về sau.
Phật
liền nói bài kệ nhân qủa rằng:
-
Giàu sang đều
bởi mạng
-
Đời trước
có tu nhân
-
Ai thọ trì
kinh nầy,
-
Đời đời
hưởng phước lộc.
-
Thiện nam,
tín nữ nghe ta nói:
-
Suy nhớ kinh
Nhân Qủa ba đời
-
Nhân qủa ba
đời việc chẳng nhỏ,
-
Phật nói lời
Phật chớ chê khinh.
1.
Đời nay làm quan do nhân gì?
Kiếp trước
vàng ròng thếp tượng Phật
Đời nay
hưởng phước bởi nhân xưa
Đai vàng,
áo tía, cầu nơi Phật.
Vàng trang
nghiêm Phật, trang nghiêm mình.
Làm đẹp
Như Lai, đẹp từ thân.
Đừng bảo
làm quan là chuyện dễ,
Không tu
phước ấy đến từ đâu?
2. Cưỡi
ngựa, ngồi kiệu do nhân gì?
Kiếp trước
làm cầu, bồi đắp lộ.
3. Do nhân
duyên gì mặc gấm vóc?
Đời trước
thí áo giúp Tăng Ni.
4. Có ăn,
có mặc do nhân gì?
Xưa giúp
kẻ nghèo cho ăn uống.
5. Ăn mặc
thiếu thốn bởi nhân chi?
Kiếp trước
một nửa không xả thí.
6. Lầu cao
nhà lớn do nhân gì?
Xưa lên
chùa am cúng thí gạo.
7. Phước
lộc đầy đủ cho nhân gì?
Xưa lập
chùa am cất nhà mát (1)
8. Tướng
mạo xinh đẹp do nhân gì?
Đời trước
hoa tươi cúng dường Phật.
9. Thông
minh trí tuệ do nhân gì?
Kiếp trước
ăn chay, thường niệm Phật.
10. Người
thấy vui mừng do nhân gì?
Xưa kết
duyên lành cùng đại chúng.
11. Chồng
vợ bền lâu do nhân gì?
Đời trước
tràng phan nghiêm cúng Phật.
12. Cha mẹ
song toàn do nhân gì?
Đời trước
kính trọng người cô độc.
13. Không
cha mất mẹ do nhân gì?
Kiếp trước
là người đánh bẫy chim.
14. Con cháu
đông nhiều do nhân gì?
Đời trước
mở lồng thả chim thú.
15. Nuôi
con không được do nhân gì?
Xưa sinh
con gái dìm cho chết? (2)
16. Đời
nay không con do nhân gì?
Kiếp trước
bẻ gãy hại trăm hoa.
17. Đời
nay sống lâu do nhân gì?
Kiếp trước
mua vật phóng sinh nhiều.
18. Đời
nay mạng yểu do nhân gì?
Kiếp trước
xẻ thịt giết chúng sinh.
19. Đời
nay không vợ do nhân gì?
Kiếp trước
tham mưu gian vợ người.
20. Đời
nay ở góa do nhân gì?
Kiếp trước
buông lung khinh rẻ chồng.
21. Làm thân
tôi đòi do nhân gì?
Kiếp trước
quên ơn cùng phụ nghĩa.
22. Đời
nay mắt sáng do nhân gì?
Kiếp trước
cúng dầu đốt đèn Phật.
23. Đời
nay đui mù do nhân gì?
Kiếp trước
chỉ đường chẳng phân minh.
24. Môi miệng
sứt thiếu do nhân gì?
Kiếp trước
thổi tắt đèn cúng Phật.
25. Đời
nay câm điếc do nhân gì?
Xưa từng
ác khẩu mắng cha mẹ.
26. Đời
nay lưng gù cho nhân gì?
Kiếp trước
chê cười người lễ Phật.
27. Tay bị
cong quẹo do nhân gì?
Đời trước
đều là người tạo nghiệp.
28. Chân
bị co rút do nhân gì?
Kiếp trước
ngăn đường đánh cướp người.
29. Làm thân
trâu ngựa do nhân gì?
Xưa thiếu
nợ người không chịu trả.
30. Đọa
làm heo chó do nhân gì?
Kiếp trước
lừa gạt phỉnh hại người.
31. Đời
nay nhiều bệnh do nhân gì?
Xưa đem
rượu thịt bày cúng Phật.
32. Đời
nay không bệnh do nhân gì?
Xưa thí
thuốc men cứu bệnh nhân.
33. Hằng
bị lao tù do nhân gì?
Kiếp trước
làm ác chẳng nhượng người.
34. Đời
nay chết đói do nhân gì?
Kiếp trước
thường lấp hang rắn chuột
35. Bị thuốc
độc chết do nhân gì?
Kiếp trước
đăng lưới giết hại cá.
36. Nổi
trôi cơ khổ do nhân gì?
Ác tâm
lấn hiếp mưu hại người.
37. Đời
nay lùn bé do nhân gì?
Kiếp trước
xem kinh để dưới đất. (3)
38. Nay thường
thổ huyết do nhân gì?
Xưa ăn
thịt rồi đi tụng kinh. (4)
39. Đời
nay ngu điếc do nhân gì?
Kiếp trước
tụng kinh chẳng lắng nghe.
40. Ghẻ
lác phong điên do nhân gì?
Xông hơi
thịt cá trước bàn Phật.
41. Thân
có mùi hôi do nhân gì?
Xưa bán
hương thơm trọn dối gian.
42. Đời
nay chết treo do nhân gì?
Kiếp trước
đem dây săn bẫy thú.
43. Quan,
qủa, cô độc do nhân gì?
Xưa thường
ganh ghét hiềm mắng người.
44. Sét đánh
lửa thiêu do nhân gì?
Cân non,
già, thiếu lòng gian xảo.
45. Rắn
cắn cọp ăn do nhân gì?
Kiếp trước
gây oan tạo đối đầu.
Muôn việc
mình làm lại mình chịu
Thọ khổ
địa ngục oán trách ai?
Đừng nói
nhân qủa người không thấy.
Xa trả
con cháu, gần trả mình.
46. Chỉ
nhìn trước mắt người hưởng phước.
Sẽ tin
bố thí với trì trai.
Kiếp trước
tu nhân nay hưởng qủa.
Đời nầy
tu tích để về sau.
Nếu ai
hủy báng kinh Nhân Qủa
Kiếp sau
đọa lạc mất thân người.
Kẻ nào
thọ trì kinh Nhân Qủa.
Chư Phật,
Bồ Tát đều chứng minh.
Kẻ nào
biên chép kinh Nhân Qủa,
Truyền
đời tu học đạo nhà hưng.
Ai mà mang
đội kinh Nhân Qủa,
Tai hung
hoạnh họa chẳng vào thân.
Nếu người
giản nói kinh nhân qủa
Đời đời
kiếp kiếp được thông minh
Kẻ nào
đề xướng kinh Nhân Qủa
Đời sau
người thấy sinh cung kính.
Người
nào ấn tống kinh Nhân Qủa.
Kiếp sau
sẽ được thân Đế Vương.
Theo Kinh
Nhân Qủa hỏi đời trước.
Chính sự
thọ hưởng của đời nay.
Theo Kinh
Nhân Qủa hỏi đời sau.
Chính sự
gây nhân của kiếp này,
Nếu như
nhân qủa không cảm ứng,
Do đâu
Mục Liên cứu được mẹ?
Người
nào tin sâu kinh Nhân Qủa.
Đồng sinh
Tây phương cõi Cực Lạc.
Nhân qủa
ba đời nói không hết.
Thiên long
chẳng bỏ ý người lành.
Nên ngôi
Tam Bảo ruộng phước lớn,
Nhân tu
tuy một, hưởng muôn ngàn.
Gởi kho
bền chắc không hư mất, (5)
Nhiều đời
thọ dụng phước vô cùng.
Muốn biết
nhân đời trước,
Xem sự
hưởng đời nay,
Muốn biết
qủa đời sau,
Xem việc
làm kiếp này.
(1) Nhà dưỡng
Lão, cô nhi
(2) Thuở
xưa từ Ấn Độ, cho đến Trung Hoa, những nhà nghèo sinh con
nhiều nuôi không tham nên dìm cho chết bớt con gái lúc mới
sinh ra.
(3) Ngồi
dưới đất xem kinh, nên để kinh trên một cái bệ, khinh mạn
cũng là nhân của tướng lùn bé. Lễ Phật, khiêm hạ là nhân
của tướng cao hơn.
(4) Ăn
mặn rồi muốn tụng kinh, phải súc miệng rửa tay, rửa miệng
sạch, và tụng chú như sau. Tất được thanh tịnh không tội
lỗi: Tịnh tam nghiệp chân ngôn: Um Soa Pha Va Suýt Đà, sạt
và đạt ma, soa phạ va suýt đa hàm (7 biến) Aum! Syabhava sudaha,
sarva drama svabhava suddhà hàma.
(5) Gởi
kho đây không phải đốt giấy tiền vàng bạc gởi vào kho,
mà ý nói tiền của thế gian không bền, khi chết rồi phải
bỏ lại tất cả. Chỉ có tu phước làm lành ăn chay, tụng
kinh, tham thiền, niệm Phật, là kho.
Việt dịch:
HT Thích Thiền Tâm.
|