THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
Giới Thiệu Về Kinh Ðiển
Kinh Ðiển Bắc Tông (Hán Tạng)
Kinh Ðiển Nam Tông (Pali Tạng)

 
.
Phạm Thiên Thư
KINH NGỌC (QUA SUỐI MÂY HỒNG)
Thi Hoá Tư Tưởng Kim Cang Kinh Vajracchedika Prajna Paramita Sutra
Chùa Khánh Anh Xuất Bản 1993
Nahi etehi yànehi gaccheyya agatam 
disam yatthà ttanà sudantena danto 
dantena gacchati 
Dhammapada 
nào nhờ xe mây biếc 
ngựa hồng tới niết bàn 
bè tâm trăng bát nhã 
vượt bến hoặc mê sang 
Thích Già Mâu Ni 

LỜI GIỚI THIỆU 

Thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư một sinh viên tốt nghiệp Phật Khoa Vạn Hạnh đã có sáng kiến và can đảm thi hóa Kinh Kim Cương để cúng dường chánh pháp. 

Tôi nói sáng kiến vì rất ít có Phật tử nếu không phải là chưa có, đã dùng thể thơ mà diễn đạt nghĩa chân không diệu hữu của Đại Thừa. 

Tôi nói can đảm vì chỉ có tuổi trẻ mới can đảm làm những chuyện phi thường và thật là phi thường khi cả gan thi hóa bản kinh "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Thật sự, xưa kia Đức Phật cũng đã dùng thể kệ (gàthà hay sloka) để thuyết pháp độ sanh. Thể kệ tức là thể thơ ngày nay vậy.

Gọi là để tán thán công đức thi hóa của thầy Tuệ Không, tôi ghi sau đây bài kệ bằng chữ Sanskrit. bản kệ này được dịch ra chữ Hán như sau: 

Nhược dĩ sắc kiến ngã 
Dĩ âm thanh cầu ngã 
Thị nhơn hành tà đạo 
Bất năng kiến Như-Lai 

Ye màm rùpena càdràksurye 
Màm ghosena cànvaguh 
Mithyàprahàna prasrtà 
Na mà draksyatite janà 

Thích Minh Châu 
Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh 
 
 

TỰA

Đứng trước cảnh tàn sát, lắng nghe tiếng rên siết, tự cảm thấy mình bất lực, mà tụng niệm kinh Kim Cương thì lại thấy tâm hồn dịu lại. 

Mầu nhiệm thay Kim-Cương! 
Lạ lùng thay Kim-Cương! 

Ước gì lòng tôi biến thành Kim-Cương để xóa tan biên giới Ta với phi Ta, để liễu ngộ sinh tử, để hết trụ vào Ta, cho cái tâm giải thoát. 

Phải chăng đấy là cái Tâm "Ưng vô sở trụ mà sinh" nó đã dẫn dắt Huệ Năng về Tào Khê, nó đã làm cho Thái-Tông khoát nhiên tự ngộ vai trò lãnh đạo nhân dân "dĩ thiên hạ tâm vi tâm - dĩ thiên hạ dục vi dục". Vào sinh ra tử suốt cả một đời ngõ hầu thực hiện cái nghĩa vô tâm: 

"Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý 
Bạch vân xuất tụ bản vô tâm" 

Không có ý mà làm, với cái tâm không tâm ! Thật khó lắm thay ! Cao siêu thay ! 

Ở vào thời mạt pháp, chính là thời khắp mặt đất mong cầu thánh chúa ra đời, Di-Lạc giáng thế. Cho nên để dọn đường cho hành động vô tâm tưởng như chỉ còn tâm lý nghệ thuật họa may làm cho con người tin tưởng vào Đạo Vô Cầu ở thế giới. Vì chỉ có cảm xúc mỹ nghệ mới gợi đuợc ở lòng người ý vị Trang Chu mộng làm hồ điệp, để nhìn thế giới với đôi mắt kim cương: 

Nhất thiết hữu vi pháp 
Như mộng huyễn bào ảnh 
Như lộ diệc như điện 
Ưng tác như thị quán 

Vậy thầy Phạm Thiên Thư đã cảm ứng mà thi hóa kinh Kim Cương Bát Nhã. 

Nên lắm thay! 

Gia Định nay tựa mồng một, tháng tư, năm Canh Tuất 

NGUYỄN-ĐĂNG-THỤC 
Nguyên Khoa Trưởng Đại Học Văn-Khoa Saigon 
 

Nguyện cúng dường kinh tạng thơ hoa 
Trải tam thế mộng một tòa sắc hương 
Kiếp sau làm chim trong sương 
Về bay hóa độ mười phương trời vàng 

Phạm Thiên Thư 
 

NGỢI KINH 

thân như sương đầu cỏ 
tụ mười cõi trăng sao 
nhập dòng thơ thâm diệu 
mộng thức dưới hoa đào 

DÂNG KINH 

cánh lan ngọc cong cong 
mười viền trăng thu khuyết 
hoa khép tay trầm hương 
qui-y tôn kính Phật 

MỞ KINH 

giấy cỏ hoa mây trắng 
chép đôi dòng kinh thơ 
suối nào vi diệu tụng 
trang nghiêm cõi Phật thừa 
 

Mây hào quang về hội 
hoa suối cũng yên nghe 
pháp hội nhân do 

con chim thu cõi tịnh 
cũng về hội ta bà 
trùng trùng mây mây biếc 
hoa trải cúng dường hoa 

trong khu vườn mai trắng 
sương đọng mấy từng hoa 
sao tụ nước xá-vệ 
hương ngát mười cõi xa 

trên trụ đá mây đỏ 
trải chiếu cõi lưu ly 
Phật kết kim cương tọa 
chim tụng pháp diệu kỳ 

hai ngàn năm trăm vị 
tỳ-kheo rực pháp-y 
dưới thềm đá mây nổi 
dưới thềm hoa uy nghi 

II 

Giữa rừng hoa tịch mặc 
Thoảng tiếng suối thần rơi 
Thiện hiện khải thinh 

giữa đại chúng tịch mịch 
hiền giả tu-bồ-đề 
đứng dậy chắp tay ngọc 
hoa trắng trải hoàng-y 

vô ngàn, vô ngàn năm 
mây hương một lần tỏa 
vô ngàn, vô ngàn năm 
cõi ngọc nở sao lạ 

đức vô thượng như-lai 
chúng sanh cầu đạo cả 
chí an trụ nơi đâu 
pháp trừ tâm huyễn vọng ? 

III 

hoa vàng khe đá cũ 
trang nghiêm cõi đại thừa 
đại thừa chính tông 

thiện nam như ngọc trên đài sen 
như hoa mai đông một sớm nở 
lắng nhuần sương tụ mười cõi sao 

chúng sinh cầu đạo cả 
như trăng hiện hư không 
hào quang vô lượng biển 
mười cõi sáng mênh mông 

nguyện độ hết chúng sanh 
loài sinh từ trứng ngọc 
loài sinh từ thai hoa 
loài sinh hồ suối nước 
loài hóa sinh cõi trời 
loài có sắc không sắc 
lãng đãng bụi vàng rơi 
loài có tưởng, không tưởng 
tan hợp thoáng mây trôi 

chúng sinh như sương tụ 
chúng sinh như mây tan 
mười cõi bóng mây nổi 
nhập vô-dư niết-bàn 
vô lượng, vô biên độ 
mà không một chúng sanh 
đồng cùng như tánh trí 
từ biển lặng vô minh 

bồ tát thiên chấp ta 
của ta, rồi khác ta 
chấp chặt thọ gỉa tướng 
chúng sanh tướng hằng sa 
chưa thành bồ tát đạo 

IV 

dặm mây hồng muôn cõi 
nào vì ngấn lệ hoa 
diệu hành vô trụ 

thực hành pháp bố thí 
chẳng chấp thức căn trần 
vô ngã vô sở trụ 
vô ngại cõi phù vân 

như mười phương sao biếc 
mười phương cõi hư không 
bố thí vô tướng trụ 
công đức chẳng suy lường 

bồ tát trụ tâm ta 
như trăng tụ sương ngọc 
như tĩnh lự mặt trời 
mạch sống mười cõi nước 

Phiến hoa mai trắng nở 
cửa động khép xuân thu 
như lý thực kiến

dùng tâm thân huyễn vọng 
nhìn vạn pháp mây trôi 
thấy chăng như lai tướng ? 
chỉ thấy nước trăng xuôi 

thân tướng không chân thực 
gỉa dối bóng mây đưa 
vượt qua vô chướng ngại 
phương tiện như lai thừa 

VI 

ba cõi ngọc lưu ly 
nở mặt rời không tiện 
chính tín hy hữu 

tu bồ đề tác bạch: 
đứng vô thượng pháp vương 
chúng sinh có tin thực 
cửa trí huệ chân thường 

người tu trì phước huệ 
nguyện phát thanh tịnh tâm 
tin pháp ngọc chân thực 
muôn xưa thiện kiếp trồng 
vô lượng kho châu ngọc 
nghiệp đức tụ trăm sông 

không chấp vạn hữu tướng 
ngã, pháp, sạch tâm không 
chính pháp như bè ngọc 
dùng qua ngọn suối hồng 
chân đến bờ vi diệu 
bè cũng thả xuôi sông 

VII 

mây hồng kết giải suối 
nào cần thuyền trăng đưa 
vô đắc vô thuyết 

nầy hiền gỉa bồ đề 
diễn bầy ý chân thực 
tôi được chính pháp chăng ? 
và trao quyền pháp ý ? 

không pháp nào vô thượng 
phương tiện, phương tiện thôi! 
ngài chưa thuyết một pháp 
vì tánh chẳng y lời 

đạt ý, như thực ý 
lìa lời, như thực lời 
đạt trí, như thực trí 
ý, lời ngọn sóng khơi 

vô lượng hiển thánh tăng 
pháp vô vi tu hành 
từ chân tâm vắng lặng 
sái biệt độ quần sanh 

VIII 

tặng trùng hoa giọt ngọc 
nào bằng thơ đại bi 
y pháp xuất sinh 

người đem biển châu ngọc 
vô lượng núi lưu ly 
rộng cho muôn cõi nước 
khắp cỏ hoa phù đề 
công đức vô biên lượng! 
chưa bằng tụng một dòng 
kim cương biển trí tuệ 

hoặc diễn vi diệu thơ 
cúng dường nhất thiết tướng 
vì vô lượng Như-Lai 
từ phẩm kinh ngọc này 
chứng vô thượng chính giác 
phật pháp, không phật pháp 
mới tạm gọi phật thừa 
thế gian tức phật pháp 
nhuần làn giải thoát mưa 
cỏ cây trổ hoa ngát 

IX 

cõi đất hồng mã não 
nở muôn chúng hoa thơm 
nhất tướng vô tướng 

thánh quả tu-đà-hoàn 
gọi nhập dòng giải thoát 
chẳng gọi tu-đà-hoàn 
vì thực không quả đạt 
như đầm sâu bùn tanh 
ngại vì hoa trổ ngát 

thánh quả tư-đà-hàm 
còn một lần sinh tử 
chẳng gọi tư-đà-hàm 
vì chẳng nơi lai khứ 
như ao bợn bùn nhơ 
khóm sen xanh thường trụ 

thánh quả a-na-hàm 
chẳng trong vòng dục-giới 
không gọi a-na-hàm 
vì chẳng nơi ngăn ngại 
muôn cõi một cơn mây 
mưa từ vô lượng trải 
thánh quả a-la-hán 
bậc an trụ niết bàn 
chẳng là a-la-hán 
vì ngã, pháp mây tan 
như mặt trời thanh tịnh 
muôn cõi giáp tâm đan 

nay con tu tịch tịnh 
vắng lặng như hư không 
nên chẳng gọi tịch tịnh 
vì động tĩnh ngoài vòng 

một bông hồng tịnh mặc 
trang nghiêm cõi bụt vàng 
trang nghiêm phật độ 

xưa hội Phật Nhiên Đăng 
tôi đắc pháp nào chăng ? 
ngài đắc vô sở đắc 
vượt ngã, pháp tâm băng 

vô lượng bồ-tát-hạnh 
cõi Phật làm trang nghiêm 
hạnh nguyện không sở nguyện 
trang nghiêm thực trang nghiêm ! 

bồ tát khởi sinh tâm 
thanh tịnh như hư không 
vô nguyện, vô sở trụ 
viên mãn một tâm đồng 
như mưa khắp phương cõi 
riêng gì chốn tây đông 

XI 

cao cao từng mây biếc 
sao kết dòng thơ hoa 
vô vi thắng phúc 

người phát tâm bố thí 
ngọc, sao đầy hư không 
vàng, cuộn long giang cát 
chưa bằng tụng kinh này 
hoặc kết dòng thơ ngọc 
vào mật ý như lai 
tạo vô lượng nghiệp đức 
vô lượng trợ thần oai 
vàng ngọc thêm chấp chặt 
tham si lệ đổ hoài 
thấm dòng thơ giải thoát 
cứu độ khắp trần ai 

XII 

trăng không lìa đáy suối 
sen trắng ngát đầm xanh 
tôn trọng chính giáo 

người diễn nói kinh này 
dù một câu đạo vị 
khắp cõi quỷ, trời, người 
cúng dường như tháp Phật 

tôn kinh này nơi đâu 
đó hào quang chư Phật 
trì tụng trang ngọc kinh 
tựu thành pháp bậc nhất 

XIII 

y trụ trang diệu kinh 
lắng tan ba nghiệp vọng 
như pháp thụ trì 

hiền giả tu-bồ-đề 
dưới thềm mây đá biếc 
tôn kinh này tên gì ? 
phụng trì sao như thực ? 

này hiền gỉa bồ đề 
tên kinh gọi kim cương 
bát-nhã ba-la-mật 
thụ trì như danh trên 

Phật thuyết ba-la-mật 
chẳng phải ba-la-mật 
mới thật ba-la-mật 
lìa tướng như thực tâm, 
phương tiện lời biện biệt 

chính pháp như bè ngọc 
phương tiện vượt sông mê 
bừng tự tánh bồ-đề, 
bè sông như thực trí 

vô cùng bụi nhỏ vàng 
khắp đại-thiên thế-giới 
ông nghĩ bụi nhiều chăng ? 
vô lượng bụi vàng này 
cũng không nhiều, không nhỏ 
tạm gọi bụi vàng thôi 
Như-Lai gọi thế giới 
thế giới thực không nơi 
tạm gọi là thế giới 

như gợn mây đáy nước 
lìa bóng để nhìn trời 
mây mười phương tan tụ 
bóng nào có một nơi 
lìa kinh một chữ nhỏ 
tức xa như thực lời 
nệ chấp một câu nhỏ 
chân tướng mãi xa vời 
chấp sóng chẳng thấy nước 
vọng tâm mãi nổi trôi 
lìa sóng để thấy nước 
sóng, nước một trùng khơi 
vào, ra không ngăn ngại 
chân , vọng chẳng riêng nơi 

ba mươi hai tướng quý 
có thấy được Như-Lai 
bóng hoa in đáy suối 
nào biết thực hoa mai
chẳng nệ tướng mây nổi 
sá gì nghĩa Như-Lai 

người mang vô thủy kiếp 
như đáy cát sông trong 
phát đại nguyện bố thí 
như người chuyển kinh này 
in tụng dòng thơ nhỏ 
hoặc diễn giải thoát thơ 
chúng sinh vô lượng độ 
phúc đức ngút mây mờ 

XIV 

cánh cửa ngọc vi diệu 
mở tụng mười cõi sao 
ly tướng tịch duyệt 

mười phương trời châu ngọc 
thắp sáng từng lời kinh 
xuôi về biển trí tuệ 
hiền gỉa tu bồ đề 

đức vô thượng Như-Lai 
mở cửa ngọc vi diệu! 
con từ vô thủy nay 
mới nghe kinh mầu nhiệm 
ý tuyệt vời mây bay! 

có người nghe mật nghĩa 
vào biển thanh tịnh tâm 
khởi tướng vàng chân thực 
tựu thành đức hy hữu 
thật tướng, tức không tướng 
mới là thâm mật thân 
thật tánh, tức không tánh 
thân, ý nắm phù vân 

nay con được thụ trì 
nương từ âm thần lực 
thâm hiểu ngọc vàng kinh 
để vào Như-Lai-Ý 

vô lượng kiếp kiếp sau 
người tụng đôi lời ngọc 
phát tâm vô lượng từ 
tựu thành nhất thiết đức 

lìa gỉa ngã huyễn vọng 
chẳng nệ tướng tụ tan 
chúng sinh nguyện độ hết 
địa ngục chuyển niết bàn 

sau nghiệp chúng sâu dầy 
có người tụng kinh ngọc 
sợ hãi chẳng sinh lòng 
vì tịnh không ngã, pháp 
hy hữu, hy hữu thay! 

đệ nhất ba-la-mật 
chẳng phải ba-la-mật 
mới thật ba-la-mật 
nhập thể tánh tròn đầy 
xa lìa ngôn tự thuyết 

nhẫn nhục ba-la-mật 
mê, ngộ chẳng xa lìa 
ngã, pháp thể không lặng 
cầu gì bên bờ kia 

tiền thân tôi một kiếp 
từng bị Ca-Lợi vương 
hành hạ cắt thân thể 
tâm chẳng sinh giận buồn 
vì ngã, pháp không lặng 

lại nhớ thủa quá khứ 
tôi là vị tiên tu 
nhập đại hạnh nhẫn nhục 
ngã, pháp tướng xa lìa 

người cầu đạo bồ đề 
phát tâm vô lượng độ 
lìa gỉa tướng mây hồng 
bố thí vô sở trụ 

chư tướng, không thực tướng 
chúng sinh, không chúng sinh 
lời chân như bình đẳng 
không dối trá mảy may 

khởi hạnh nguyện bố thí 
chưa lìa tướng huyễn mê 
như người trong ngục đất 
quờ quạng có thấy gì ! 

khởi hạnh nguyện bố thí 
chẳng vì sự, tướng mê 
như người mở mắt sáng 
dưới mặt trời lưu ly 
thấu rõ pháp chân, vọng 

mai sau có người nào 
thụ trì phẩm kinh ngọc 
vào biển trí Như-Lai 
tựu thành vô lượng đức 

XV 

giọt sương đọng đài sen 
ảnh chiếu ba cõi bụi 
trì kinh công đức 

có người đem thân mệnh 
như phù sa hồng hà 
bố thí muôn ức kiếp 
có người trộm nghe kinh 
khởi lòng tin thanh tịnh 
đức vô lượng vô biên 
hơn đại nguyện bố thí 
trải thân ngọc tam thiên 
vàng ngọc đắp ngục tối 
dòng kinh mở não phiền 

vì người khởi đại tâm 
phát nguyện tối thượng thừa 
tôi mở pháp vi diệu 
ai đọc tụng thọ trì 
diễn giải chân thực ý 
vào biển huệ lưu ly 
tựu thành vô lượng đức 
là chuyển đạo Như-Lai 
cứu người trong lửa vực 

người chấp trược ngã kiến 
chúng sinh, thọ gỉa kiến 
như tù ngục trong thân 
đối với kinh ngọc này 
không thụ trì tụng đọc 
chẳng thấy pháp NhưLai 
chìm sâu dòng suối độc ! 

nơi nào mở kinh này 
ngâm tụng dòng thơ nhỏ 
khắp cõi quỉ trời người 
cúng dường vô lượng độ 
như kim thân Như-Lai 
như tháp thờ xá lợi 
thường tại giữa mây bay 

XVI 

vô cùng trăng sao vỡ 
vô cùng bọt nước tan 
năng tịnh nghiệp chướng 

người trì tụng kinh này 
bị người khác khinh chê 
vì nghiệp trước sâu dầy 
nay nghiệp tội tiêu tan 
khởi phát thanh tịnh tâm 
chứng vô lượng đạo quả 
như sen ướp, trầm xông 

trải qua vô lượng kiếp 
tôi theo Phật Nhiên Đăng 
cúng dường vô lượng Phật 
công đức chẳng so bằng 
người tụng phẩm kinh ngọc 
nghĩa thâm diệu suy tầm 
ngã, pháp thể không tịch 
thực chứng đạo viên dung 

XVII 

rửa tay tam giới mộng 
sông cuộn bụi vàng rơi 
cứu kinh vô ngã 

Hiền gỉa tu-bồ-đề 
trải tọa cụ lưu ly 
chắp tay lan bạch ngọc 
tán thán pháp diệu kỳ! 

đức vô thượng Thế-Tôn 
truyền tâm đạo Bồ-Đề 
pháp nào ý an trụ ? 
pháp nào đẹp huyễn mê ? 

người thiện nam, thiện nữ 
khởi tâm đại Bồ-Đề 
hết thảy chúng sinh độ 
chúng sinh diệt độ rồi 
như không một chúng sanh 
mê, ngộ vô sai biệt 
đồng tánh trí tựu thành 

tu-bồ-đề hiền gỉa 
ý ông nghĩ thế nào ? 
tôi theo Phật Nhiên Đăng 
chứng đạo vàng vô thượng ? 

như mật ý Như lai 
xưa Nhiên Đăng Phật hội 
chẳng một pháp ngoài tâm 
không chính đẳng, chính giác 

nếu một pháp ngoài tâm 
tôi vào vô thượng giác 
cổ Phật Nhiên Đăng nào 
thụ ký sao thành Phật: 
hiệu Thích Ca Mâu Ni 

bồ tát chấp ngã tướng 
huyễn tướng khởi trùng trùng 
như mắt quáng hoa không 
chưa thành bồ tát đạo ! 

thực ra không pháp nào 
khởi tâm cầu vô thượng 
thực ra không pháp nào 
gọi chính đẳng chính giác 

xưa nay đạo không lặng 
mê, ngộ chẳng ngoài vòng 
một tâm giáp mười cõi 
biển lặng bóng trăng trong 

Như-Lai là diệu nghĩa 
như như vạn pháp thường 
xưa nay không một pháp 
như bóng chớp hoa sương 

không một pháp bồ tát 
không ta cũng không người 
không trang nghiêm cõi phật 
mật nguyện hoa vàng tươi ! 

làm trang nghiêm cõi Phật 
tức trang nghiêm cõi người 
ngã, pháp bóng mây nổi 
vào ra dòng nước xuôi 

XVIII 

một thể nước thanh tịnh 
mây sương suôí biển đông 
nhất thể đồng quán 

hiền giả tu-bồ-đề 
diễn bày ý chân thực ! 
tôi có nhục nhãn chăng ? 
quả ngài có nhục nhãn 

hiền giả tu-bồ-đề 
diễn bày ý chân thực ! 
tôi có thiên nhãn chăng ? 
quả ngài được thiên nhãn 

hiền giả tu-bồ-đề 
diễn bày ý chân thực ! 
tôi có tụê nhãn chăng ? 
quả ngài có tụê nhãn 

hiền giả tu-bồ-đề 
diễn bày ý chân thực ! 
tôi có pháp nhãn chăng ? 
quả ngài chứng pháp nhãn 

hiền giả tu-bồ-đề 
diễn bày ý chân thực ! 
tôi có Phật nhãn chăng ? 
quả ngài có Phật nhãn 

vô lượng số sông hồng 
vô lượng cát phù giang 
như vô lượng cõi Phật 
vô lượng tâm chúng sinh 
tôi đều như thực quán 
tướng đồng dị mang mang 
hoá sinh vô lượng kiếp 
không ngoài tâm viên đồng 
thể không sanh, trụ, diệt 

XIX 

mặt trời trí huệ sáng 
mười cõi một tâm không 
pháp giới thông hóa 

bố thí vô lượng ngọc 
bằng tất cả tam thiên 
phúc đức nhiều vô lượng 
từ một đại nhân duyên 

nếu như phúc thật có 
chẳng thể lượng ít nhiều 
vì vốn không thật có 
phương tiện nói bao nhiêu 

nghiệp duyên như sóng nổi
phúc đức như bọt trôi 
khi gío yên biển lặng 
tìm đâu bọt giữa khơi 

XX 

lìa sương un bọt nổi
tâm hiện một dòng trong 
ly sắc ly tưởng 

nhờ kim thân đầy đủ 
có thấy tướng Như-Lai 
không qua thân mây nổi 
mà thấy đức Như Lai 

gọi sắc thân đầy đủ 
nào phải sắc thân thường 
mới gọt thân đầy đủ 
huệ đức tạng Kim Cương 

qua vạn tướng tốt đẹp 
có thấy được Như-Lai ? 
không qua tướng mây gấm 
mà thấy dấu Như-Lai 

đầy đủ tướng tốt đẹp 
không phải tướng tròn đầy 
mới tạm gọi đủ tướng 
như bóng suối chim bay 

như hoa nổi hư không 
như mây chìm đáy nước 
lìa sắc tướng, tâm không 
chẳng tìm đâu một bước 

XXI 

không lời vàng thức ngộ 
tâm thể có mê đâu 
phi thuyết sở thuyết 

người chấp Như-Lai pháp 
là không hiểu nghĩa mầu 
nghe pháp không chấp pháp 
cầu pháp không người cầu 
tôi hằng phương tiện thuyết 
mê ngộ có xa đâu 

vô lượng kiếp kiếp sau 
người khởi tâm thanh tịnh 
biết cầu đạo nơi đâu ? 

tìm mộng trong giấc mộng 
người mê, chẳng thấy mê 
xưa nay không ngã, pháp 
tìm đâu lối bồ đề 

XXII 

mở mắt dứt mộng lớn 
mê ngộ chẳng đôi bờ 
vô pháp khả đắc 

đức vô thượng Như-Lai 
tâm không chỗ sở đắc 
đạo cả chẳng trong ngoài 
nào có được mảy may 

không một pháp vô thượng 
chẳng cho cũng chẳng cầu 
không hư, cũng không thực 
mới gọi pháp nhiệm mầu 

XXIII 

tâm mười cõi hư không 
nẻo vào đâu lối ngõ 
tịnh tâm hành thiện 

pháp như như bình đẳng, 
không thấp cũng không cao 
vô ngã, vô thọ gỉa 
vô nhân, vô chúng sanh 
do tu vạn pháp lành, 
nẻo vào vô thượng đạo 

pháp lành, không pháp lành, 
dùng pháp, không nệ pháp. 
lợi lạc khắp chúng sinh 
niết bàn vô thượng đạt. 

XXIV 

tiếng chuông vàng thức chúng 
cõi mộng thoảng tơ sương 
phúc trí vô tỷ 

có người dùng báu ngọc, 
góp triệu dãy trường sơn. 
rộng cho đến côn trùng, 
phúc đức vô lượng bể. 
không bằng một dòng kệ, 
trì tụng hoặc diễn bầy, 
ca ngâm kinh ngọc này, 
khiến bừng tam giới mộng. 
nghiệp đức nước nghìn sông, 
cứu độ nhất thiết khổ, 
cúng dường Phật mười phương. 

XXV 

mưa ngọc trải mười cõi 
vô lượng chúng hoa thơm 
hóa vô sở hóa

các ông chớ bảo rằng 
Như Lai độ chúng sinh 
vì ngã, pháp không tịch 
nhân duyên tự độ mình 
mình là đảo ngọc sáng 
giữa biển vọng vô minh 
mình, mắt xích phiền não 
độ người tức độ mình 

Như Lai tạm nói ngã 
chỉ phương tiện giải bày 
kẻ mê chấp thật có 
như lặng suối tìm mây 
 
 

XXVI 

vàng vàng hoa mướp nở 
mang mang hạt bụi rơi 
pháp thân phi tướng 

ba mươi hai tướng ngọc, 
chẳng quán được Như-Lai. 
dùng sắc không thấy Phật, 
pháp thân nào trong ngoài. 

dùng thân vàng thấy Phật, 
dùng khánh ngọc cầu ta, 
người đó lạc tà đạo, 
đũa ngọc gắp sao tà. 

XXVII 

ngọn suối sương un trắng 
rì rào bọt nước xô 
vô đoạn vô diệt 

xa lìa thân huệ ngọc, 
nên chứng đạo bồ đề. 
từ ý đó cầu đạo, 
vạn pháp diệt tan đi. 

vì phát tâm vô thượng 
không chấp pháp đoạn trừ 
xá chi mây tan hợp, 
chân thực tướng như như. 

XXVIII 

vào ra cơn mây nổi 
áo rũ bụi vàng rơi 
bất thụ bất tham 

bồ tát dùng thơ ngọc, 
như cát nổi cửu long, 
vô lượng kiếp bố thí. 
có vị chứng pháp không, 
được tạo thành pháp nhẫn. 
công đức kể vô cùng, 
hơn núi vàng biển ngọc. 

vạn pháp không thật ngã, 
hòa hợp đốm mây xanh. 
chẳng tham chấp phước đức, 
không hưởng phước quả sinh. 
tâm ngọc không đắm nhiễm, 
tròn tịnh nhật quang minh. 

XXIX 

chân khỏa ngọn suối trong 
tan mấy từng sao biếc 
vô nghi vô tĩnh 

có người chấp Như-Lai, 
là như lui, như tới. 
là như nằm, như ngồi, 
thật không hiểu nghĩa nói, 

Như-Lai không đâu lại, 
không do nơi nào đi. 
Như-Lai như thực trí, 
vì khởi ngộ tan mê. 
ngã, pháp thể không tịch, 
không đi cũng không về. 

XXX 

một ngọn suối cát trắng 
thả mười cõi mây bay 
nhất hợp ly tướng 

nếu có người thiện nam, 
đem đại thiên thế giới, 
nghiền nát như bụi vàng. 
ông nghĩ bụi nhiều chăng ? 

tu-bồ-đề tác bạch: 
vô cùng hạt bụi vàng 
vì nếu bụi có thực, 
Như-Lai không nghĩ bàn. 
thực tướng lìa ngôn thuyết, 
ẩn dụ ý mang mang. 

những hạt bụi nhỏ đó, 
tức không phải bụi vàng, 
mới thật là bụi nhỏ. 
Thực tướng khó suy bàn, 
chẳng chấp phương tiện thuyết, 

ba nghìn cõi đại thiên. 
không ba nghìn thế giới, 
mới gọi đại tam thiên. 
vị thể không biện biệt. 

nếu cõi kia có thực, 
hình tướng hợp như mây, 
một hình tướng hợp lại, 
tức không phải tướng này. 
mới gọi tướng hợp lại, 
nhân duyên giấc mộng vầy, 
như ánh chớp trời ngọc, 
như thoảng nắm sương bay. 

hình tướng mây tan hợp, 
lời không thể nghĩ suy. 
lòng tham chấp sự tướng, 
nghe thêm chẳng ích gì. 
như dưới cầu nước chảy, 
vừa đó đã qua đi. 

tôi thuyết, phương tiện thuyết, 
người nghe, không chấp nghe, 
bỏ quên lời bặt ý, 
tự hiện tâm bồ dề. 
mười phương nào ngăn ngại. 

XXXI 

máu huyết cất nhật nguyệt 
một cõi ánh lưu ly 
trí kiến bất sinh 

nếu có người cho rằng: 
Phật nói ngã, nhân kiến, 
chúng sanh, thọ, gỉa kiến, 
có hiểu ý tôi chăng ? 

người nào đó hiểu nghĩa, 
phương tiện thuyết Như-Lai. 
lời nói không trọn ý, 
người nghe chẳng vẹn lời. 
vì tập kiến chấp chặt, 
càng xa nghĩa diệu vời. 
người phát tâm bồ đề, 
tin, thấy, biết như thực. 
chấp trược chẳng sinh lòng, 
thực chứng minh huệ đức. 

viên ngọc dấu trong tay, 
nghe lời, tin lời thế 
chẳng khởi tâm giữ lời, 
cốt lìa xem ngọc thể. 
niềm tin thoảng bóng mây. 

XXXII 

một cành hoa mai nở 
trang nghiêm đồi thông hồng 
vô hóa phi chân 

có người dùng mưa ngọc, 
rộng cho khắp tam thiên. 
phúc đức vô lượng bể, 
chưa bằng viết dòng kệ. 
trì tụng hoặc diễn bầy 
ca ngâm kinh ngọc này, 
khiến tỉnh tam giới mộng. 
nghiệp đức nước trùng dương, 
cứu độ nhất thiết khổ. 
đền ơn Phật mười phương. 

người nhập kinh diệu này, 
xa lìa huyễn ngã pháp, 
vô ngại bóng mây bay, 
cúng dường nhất thiết vật. 
tự tại giữa vần xoay, 
thể như như bất động, 

trùng trùng pháp hữu vi, 
như huyễn mộng bọt nước, 
như bóng chớp sương mai, 
thường quán tưởng như thị, 

Phật nói kinh này rồi, 
hoa cúng dường phơi phới. 
chim tụng vi diệu âm, 
mây về mười cõi giới. 
trưởng lão tu-bồ-đề 
tỳ khưu, tỳ khưu ni, 
ưu bà tắc bà di, 
khắp cõi quỉ trời người, 
hoa hỷ bừng pháp hội. 

KHÉP KINH 

chẳng nương bè trúc ngọc, 
vượt qua suối mây hồng, 
con chim vô lượng kiếp, 
về tha trái nhãn không. 

ĐỘNG HOA VÀNG 

chim từ 
bỏ động hoa thưa 
người từ tóc biếc 
đôi bờ hạ đông 
lên non 
kiếm hạt tơ hồng 
đập ra chợt thấy 
đôi dòng hạc bay 
 
 

Qua Suối Mây Hồng - phụ lục

NGÃ PHÁP MÂY NỔI 

Tôi đang ngồi trên một chiếc ghế, một chiếc bàn viết gỗ nâu đặt ngay khung cửa sổ nhìn xuống khu đất cỏ xanh nằm xuôi hai bên con sông đọng nước tịch mịch. Khung cửa này là lối ngõ của hoàng hôn, của trăng sao, hoa cỏ và cả những tiếng chim lạnh buốt hắt vào tâm thức tôi mỗi chiều. Tất cả thế giới đó kết lại làm huyết bào nuôi dưỡng khí chất, nuôi dưỡng mảnh thân thể hiu hắt, rừng núi của những dù nấm hóa thân làm tinh tú mỗi đêm. Tôi , nuôi dưỡng tạo vật trong mình, cưu mang tất cả nhật nguyệt mất máu ... Tôi tựu thành con xoáy khủng khiếp của vô lượng hành tinh lấp lánh trong dòng ngân hà xa xăm. Tôi là một kết hợp dồn nén của tinh lực vũ trụ, của những dải mây huyền bí nhất, những mạch nguồn sâu thẳm nhất như bầy ngựa xanh chuyển vó, như ngàn ngàn con sông mang hoa lá dồn về. Tôi là đại dương nơi bão gío hát ca, nơi tụ đọng lớn lao của nước mắt loài người. 

Những ống máu trong tôi cuồng nộ như trăm ngàn dòng Hồng Hà mang cát đỏ nuôi dưỡng hình hài. 

Trái tim tôi: Một nửa là cao nguyên Tây Tạng, nơi nghi ngút tuyết bay, nơi tím ngắt mặt trời, và một nửa là vực sâu của đại dương. Mỗi nhịp đập là lãng đãng mây bay, là gầm gừ biển lớn, là muốn xô nghiêng cánh cửa Âm, Dương, là vẫy gọi mặt trăng đầu thai vào mặt trời để trần gian chìm toàn thể trong bóng tối thân mật, vắng vẻ, vĩnh cửu của mọi nhãn pháp so đo. 

Bây giờ thỏi nến vàng ệch lù mù trước mặt, chỉ đủ sức quyến rũ những con dế lang thang, những cánh bướm bỏ sương mù vào sưởi ấm. Tôi rất quý những bạn láng giềng này, những khúc ca, những cuộc chơi rong trọn kiếp, mà không bao giờ tìm thấy giữa loài người. Tất cả mọi tiếng ca chỉ còn lại trong tiếng rú thống thiết của ý thức thất bại. Tất cả mọi bước chân rong ruổi là những bước chạy trốn tù ngục tự thân. Cũng dưới ngọn lửa này, những trang kinh càng trở nên héo úa, những trang giấy nghi ngút tà dương. Mỗi phiến giấy thơm trở nên một chiếc lá khô xào xạc, những chiếc lá cuối mùa của một cồn rừng gìa thâm u vắng vẻ. Những nét chữ cổ hiện thân từng đốt xương mục, từng nghành củi đeo đét thì thào, từng cỗ xương chim rã nát, từng mảnh sỏi vô hồn ... Tất cả chỉ còn là bèo bọt lênh đênh trên cơn hồng thủy ý niệm dâng ào ạt trong tôi. Tôi hú gọi mật nghĩa về nhập xác. Tôi chuyển tinh năng vào từng ngữ ngôn hồi sinh. Tôi kết tinh tú lại làm dòng kinh thơ nhật nguyệt. Tất cả bừng sáng trên một tâm địa huy hoàng. Mỗi dòng kinh Kim Cương là một suối tóc biêng biếc hiu hiu, là sợi mưa thu lãng đãng, là một lấm chấm hoa đào, là sợi hương thơm tan loãng từng mây, là dế đá ngủ giữa mặt trăng và đàn ca não nuột, là Nhị tướng giao nhau đẻ ngược ra Đấng vô cùng. Tôi gọi hồn thiên thu nhập với gang tay. Tôi chiêu vía vô cùng hiện giữa sương bụi. Tôi đốt xác hoàng hôn làm triêu dương mở mắt. 

Mỗi dòng kinh thơ, là một mạch máu. Mỗi mạch máu là dòng tinh khí mặt trời, là một hơi thở bão tố. Tôi thở bằng kinh thơ, cưu mang từng túi phổi. Tôi đâm nổ ý thức tôi cho những dòng kinh vọt ra như vô vàn cây mống trời. Nút xoáy tinh lực không còn, tôi vỡ tung như trăm ngàn mảnh mây hào quang kiêu ngạo vỗ cánh vào vũ trụ. Mỗi chữ, mỗi nét mực xanh là mỗi cô đọng tinh lực vũ trụ. Sức mạnh của một biển cả thu gọn trong nét chữ bùa chú ngàn cân dưới cán bút ấn quyết xẻ núi. Tôi chỉ còn là kết hợp tạm bợ của sa mạc ý niệm, nằm chờ tiếng réo huyền bí của gío rừng tóc vô lượng dòng kinh. Tôi còn vô lượng chiếc kén tơ của con tằm đang mọc cánh thoát hình vỗ cánh ra đi làm trăng sao vằng vặc. 

Bây giờ đúng ba giờ đêm. Mỗi vị sư là mỗi thế giới tịch mịch, mà mỗi gian phòng là những cảnh giới vũ trụ riêng biệt. Quí thầy ngủ yên ấm như một bóng trăng hiền từ trong giọt sương. Chỉ còn tôi và dòng sông dưới kia vẫn tỉnh thức cô quạnh. Tôi phải thức với dòng sông, thức vĩnh cửu cho dòng sông chảy mãi, tôi chợt bâng khuâng trước một bóng bóng dáng trên tường. Không đó chỉ là chân dung của tổ Bồ-Đề vác thuyền trượng khai thị trên vai, treo chiếc giầy cỏ vi mạt vô minh như một chấm than chênh vênh cuối cùng; chiếc giầy duy nhất đạp lên Nhị tướng để lìa cả sự ra đi. Trở về và ra đi cũng chỉ là sự gỉa danh, chỉ sự lênh đênh của cuộn mây trắng. Trở về chỉ là sự ra đi trùng sinh, sự ra đi nhập diệu, vì hoàng hôn bên này là triêu dương bên nọ, cũng như lá cờ vĩnh cửu chỉ tung bay trong nhận thức, dòng sông chỉ chuyển dịch trong huyết mạch, bia mộ chỉ là bia mộ của ảo tưởng thường tại; ảo tưởng này là biến chứng của tâm bệnh tham chấp và mê loạn. 

Sự chết không phải là sự trở về mà là sự ra đi đột biến, sự vượt cầu vào mây khói. Cây cầu lửng như là dấu nối ngắn ngủi giữa hai đầu của sự vô cùng - là một ảo giác hiện nổi lên giữa vô cùng tím ngắt cỏ hoa. Cỏ hoa là hiện thân của vô cùng vi diệu. Kẻ yêu cỏ hoa là kẻ đi vào vô cùng. Tình yêu là chân tướng của vô cùng - chim non trong hốc cây - Mẹ dậy tiếng hót trìu mến - Ngụ từ bất tuyệt thiên thu. Ngụ từ là liếc mắt mầu nhiệm. Ngụ từ là ngọn tóc bâng khuâng. Ngụ từ là tiếng em nước suối. Ngụ từ là tiếng bồ câu gù nhau trong hốc cây. Ngụ từ là con chim nho nhỏ tha cỏ lên cành. Ngụ từ là câu hỏi vu vơ: Sao em áo xanh đã vàng lệ đợi. Ngụ từ là muôn về trong một. Ngụ từ là ngôn ngữ tinh nguyên. Ngụ từ là nụ cười mầu nhiệm. Ngụ từ là ẩn tích của ngôn ngữ. Ngụ từ là ngụ từ. 

Kẻ lữ thứ qua cầu, muốn mau qua cầu như một cơn mưa thu, vì đường còn xa, còn bao nhiêu núi cao mây trắng cám dỗ, còn bao nhiêu cồn hoa suối mát đợi chờ, rồi đến một thị trấn nào đó ít lâu lại làm lại cuộc ra đi. Vì máu huyết thường hằng sôi động ra đi. Tôi rất thèm những chuyến xe chợ xọc xạch, vừa mang tôi đi, vừa dằn vặt tôi, cũng như tôi vừa ra đi vừa dằn vặt mình trọn kiếp. Tôi chán ngán hết mọi tỉnh lị. Tôi thèm một chỗ ngồi bên cửa xe, hút một cối thuốc, nhìn lên cây cao lãng đãng sương dài theo cỗ xe dong duổi tìm kiếm mảnh mặt trời vàng cuối núi. Tôi chỉ thèm chuyển dịch. Khinh thị những phố núi, đèo mây, những viện rượu ven rừng ngừng nghỉ. Nhổ nước bọt vào những ga mưa, chợ phố, những hang hốc cư ngụ. Tôi sống trọn vẹn bằng máu huyết ca hát lên đường. Chỉ có ra đi mới giải thoát. Giải thoát sự giải thoát mới giải thoát. Ra đi là bản chất của dịch hóa vũ trụ. sự ra đi cuối cùng, sự ra đi tột đỉnh là ra đi của sự ra đi, ra đi trong nỗi không tịch sấm sét. 

Một chiều, có lẽ vào một mùa hạ thật xa, ngày ấy như một cánh chim biếc đã rụng xuống ven núi rũ xương. Tôi cắp tấm nhựa về một ruộng lúa ngoại ô, nằm hút thuốc nhìn trời, việc nhìn trời cao đối với tôi cũng cần thiết như đóa hoa, sách quý, trông cây và như hai bữa cơm rau thanh đạm. Tôi chợt thích thú đón xe đi Vũng Tầu và tìm được chuyến xe cuối ngày lưa thưa hành khách. Thế rồi cỗ xe chợ gìa cũng vừa kịp thả tôi xuống thành phố cùng với vừng sao đêm chi chít trên bãi biển. Tôi vời khung xe gỗ ngựa chất đầy bóng tối về phía bãi sau. Vó ngựa lọc cọc rơi mưa trên con đường cheo leo lưng núi. Tôi bỏ xuống chọn một quán ăn có cây đèn gío vàng ệch trên tường. Gọi một phần ăn, một ly rượu nâu đậm, một phin cà phê rồi ngả lưng nhồi cối thuốc hút nhìn biển. Biển đêm trở thành cây dương cầm gỗ huyền hoặc. Những ngọn sóng rì rào trong hốc đá, những ngọn gío hú vi vu cuồn cuộn chung quanh. Những bờ cây nào rũ tóc. Những đỉnh non nào le lói trăng sao. Biển chỉ còn những tiếng khóc, những tiếng thổn thức, tiếng nấc nghẹn thống thiết, tiếng nguyền rủa thì thầm, tiếng hát ca man rợ. Biển là hiện thân của sự đau khổ chất chứa; nơi tụ đọng tất cả nước mắt loài người và trùng thú. Biển là dấu chấm hết vĩ đại nhất của thiên thu, cũng như giếng mắt huyền nhiệm của xử nữ, nơi vắng bặt sau cùng của mọi bản anh hùng ca chuyển núi. Biển là nước mắt kết t