Anh
Tâm-Như thân mến.
Rất
vui vì mới nhận được thư anh. Nhìn lá thư với bốn trang
vở học trò, viết kín mít bằng chữ nhỏ li ti không còn
một chút giấy thừa, tôi hết sức cảm động. Bỡi tôi biết
rõ rằng, anh sợ tôi bệnh mới khỏi, không thể đọc được
nhiều, nên chỉ dùng có bốn trang giấy vở. Nhưng bên cạnh
đó, lại lo nói không hết ý, nên mới viết chữ li ti như
con kiến, khiến tôi phải dùng kính lúp để đọc. Thật tội
nghiệp cho cả hai anh em.
Do
kính trọng phẩm cách và nhiệt tình vì đạo pháp của anh
nên tôi đã dành nguyên cả một buổi trưa để đọc liền
bức thư dài, đọc chậm rãi đến ba lần để nắm chắc
phần chính yếu trong thư hầu có thể trao đổi với anh vào
đúng trọng tâm mà anh muốn đề cập.
Sở
dĩ tôi phải thật cẩn trọng, là vì biết rằng đây không
phải là lá thư thăm hỏi bình thường mà phảng phất trong
thư ẩn chứa một sự tin cậy, một chỗ để gởi gắm niềm
riêng, được cảm nhận từ cả hai phía như một nhơn duyên
định sẵn; tôi phải thật cẩn trọng là vì muốn cùng anh
trao đổi vấn đề tiến tu một cách nghiêm túc hầu có thể
giải toả được phần nào những mối nghi còn lảng vảng,
mơ hồ đâu đó trong lòng mà lâu nay anh chưa biết bày tỏ
cùng ai. Không biết tôi nói như vậy có phải đúng như thầm
ý của anh không, anh Tâm-Như?
Trong
khuôn khổ của một lá thư, tôi chỉ nêu lên những gì mà
tôi cho là kinh nghiệm được bắt gặp trên con đường tu
học, trong cái biết hạn hẹp, nhỏ nhoi của mình, do tự thân
tâm mình trải nghiệm chứ không phải ai khác vào đây, mà
miệng lưỡi có thể nói ra được. Nếu trong đây anh thấy
có chỗ tương hợp thì dừng lại chiêm nghiệm thử xem có
phải thiệt như vậy không, hoặc nếu thấy có chỗ không
cùng Đạo tương ưng thì nhờ anh chỉ bảo giùm cho tôi. Có
thể những gì tôi mượn lời mô tả là chủ quan chăng, tôi
cũng không biết nữa. Chỉ có điều là, ở cái chỗ mà tâm
tôi đang-là, đang từ đó mà những giòng chữ này tuông chảy,
tôi thấy mình an ổn diệu lạc, và biết như thật, chỗ diệu
lạc đó cùng mình là một, là bất khả phân ly, nếu không
tự vọng tưởng chấp nga, chấp pháp. Còn đối với anh hoặc
với những bạn đạo khác có cùng chỗ tương ưng với những
gì tôi nói ra hay không, tôi cũng không biết nữa; có thể
những gì tôi nói ra, hợp với người này mà không hợp với
người khác, bỡi một điều tất nhiên là, từng mỗi căn
cơ, trí tuệ, duyên nghiệp dày mỏng, cao thấp khác nhau mà
tự mỗi người có chỗ thích hợp với từng mỗi pháp lớn-nhỏ,
đốn-tiệm khác nhau.
Cho
nên, anh chỉ nên tự chiêm nghiệm ở chính thân tâm mình,
như uống nước nóng lạnh tự biết. Một khi tự bừng sáng
cái sáng toàn thể rồi, thì mọi việc coi như đã được
giải quyết, không anh không tôi, không người hỏi đáp, cả
vấn đề cần hỏi đáp đã từng được đặt ra, nay cũng
đều không luôn. Cho nên, dẫu có ai đó nói rằng anh như thế
này hay như thế nọ, thì đối với chỗ chân thật của chính
anh đang-là, cũng là như tánh nó-là, thì những nhận xét,
phê bình kia cũng chỉ là gãi ngứa ngoài giày mà thôi, không
chỗ dính dấp, không gì can hệ. Đừng vì những lời nhận
xét hay phê bình kia mà thối chuyển tâm tu khi người ta chê
hoặc cao ngạo ngã mạn khi người ta khen. Hãy coi sự khen chê
đó đối với cái thật mình như là nước đổ đầu vịt,
gió thoảng trên đá mà thôi.
Có
phải ý anh muốn đề cập đến sự việc mà anh cho là rất
quan trọng đối với những người tu Phật đang thiết tha
cầu giải thoát thật sự, trong đó việc xác định hành trình
tiến tu là cần thiết và cấp bách? Có nghĩa là, những người
trong cuộc như anh như tôi, một lúc bất chợt nào đó, ngoảnh
đầu nhìn lại quãng đời tu học đã qua, phải giật mình
hoảng hốt khi thấy rằng, hơi thở của chúng ta đang phải
đối mặt với cái quĩ thời gian còn lại quá eo hẹp, tình
trạng sức khoẻ thì giảm sút nhanh chóng, mà chỗ tự chứng
thì chưa được xác quyết minh bạch! Có phải đó là điều
mà anh đang nghĩ về, đang trăn trở, phải không anh Tâm-Như?
Nếu
điều đó không phải là ý của anh như tôi đã nghĩ, thì
trong tận cùng của sự chân thật, không cần phải biện bạch,
nó chính là của tôi, là niềm riêng của tôi trong lúc này,
và cũng có thể là tâm trạng của nhiều bạn đồng tu khác
nữa. Chỉ có điều là, hoặc không ai muốn thố lộ nỗi
niềm sâu kín ấy cho người khác biết vì sợ nói ra cái mà
mình muốn che giấu (do chấp ngã), hoặc là không biết thố
lộ cùng ai để có thể cùng mình trao đổi, trau dồi, học
hỏi thêm cho cái tâm tu này, cũng như giải toả những gì
còn u ẩn, thắc mắc trong tâm chưa được giải quyết minh
bạch.
Tuy
anh không đặt thẳng vấn đề, nhưng trong thư hàm chứa cái
ý muốn nhắm tới đích cuối cùng của người tu Phật ngay
trong hiện đời, là ở chỗ, làm sao minh xác thực chứng
giải thoát. Hay nói một cách khác, với anh với tôi
và với những người đồng tu khác, có hành trạng giống
nhau, cùng một chí hướng là thân tại gia mà tâm xuất gia,
ngoài việc chú tâm tham học và tu hành ra, thì điều cấp
thiết mà chúng ta đang quan tâm, mà nói theo thuật ngữ của
nhà Thiền, là muốn xác định về cái bước nhảy cuối cùng
vượt quá đầu sào trăm trượng của mình nó như thế nào.
Điều ấy cũng có nghĩa là, sau thời gian dài gần như trọn
một đời đã dồn hết trí lực vào việc tu học, giờ muốn
điểm lại hành trình tiến tu và tự chứng trước
khi buông tay phủi cẳng, xác thân cát bụi lại trả về cho
cát bụi, còn thiệt mình thì ở đâu?
Điều
trăn trở ấy, theo chỗ tôi biết, thường xảy ra với những
người tu Phật chân chính, những người mà trước khi quyết
định đến với Phật đạo, thường đã có một quyết tâm
cao không gì lay chuyển nổi, là nhứt tâm cầu giải thoát
cái khổ phiền não, tử sanh một cách thật sự, được xác
định rõ ràng nó là cái đích nhắm đầu tiên và cuối cùng,
chứ không phải tu hình-thức hoặc mượn đạo để cầu danh
lợi cho bản ngã.
Cũng
có nghĩa là, làm sao để chúng ta khỏi uổng phí tâm sức
đã bỏ ra trong một thời gian dài mà hoàn toàn không biết
thành quả của nó như thế nào; làm sao với cái quỹ thời
gian ít ỏi còn lại trong đời, chúng ta có thể, một cách
thật nghiêm túc, trọn chân thật, minh xác được cột mốc
tiến tu trong hiện tại. Điều ấy cũng có nghĩa, như một
ước định thệ nguyện từ lâu xa, phải toàn tâm toàn ý
để hoàn thành trọn vẹn bài học làm người trong mọi kiếp
người; là làm sao chỉ trong sát na, hốt nhiên"thể nhập
đạo thường", tự "vượt lìa trói buộc của
mọi tri kiến" cũng là giải thoát tri kiến giải
thoát; là làm sao để thấy biết như thật không lầm
nhơn quả, làm sao để có thể tự làm "một" pháp thân thường
hằng tự tại, làm "một" bổn thể viên mãn, thanh tịnh "như-tánh
nó là" chỗ thật tướng không tướng tự thuỷ uyên nguyên;
cũng là trong đây tự "biết" như thật "tánh tướng dung thông,
thể dụng tự đồng"; là làm sao để tự biết như thật
sắc tức thị không không tức thị sắc, sắc bất dị không
không bất dị sắc; cũng là làm sao để thấy biết như thật
pháp giới chơn như thanh tịnh rộng lớn vô biên, vô hạn,
vô cùng lại có thể thông lưu, tuông chảy, hoà làm một trong
cái thân giả hợp, hữu vi, hữu hạn, hệ lụy thời gian và
không gian mà không chỗ ngăn ngại nhau; cũng tức là làm sao
để thấy biết như thật cái "lớn" như núi Tu-di dung chứa
vô vàn hạt cải đã đành, mà từng mỗi hạt cải kia sẵn
tánh linh diệu có thể dung chứa cả núi Tu-di, cả tam thiên
thế giới mà không chỗ thiếu thừa hay ngăn ngại; làm sao
cho cái thấy biết trước mỏ ác của mình chỉ láy qua láy
lại một chút, thì liền có hai chỗ thấy biết khác xa nhau
một trời một vực (một cái biết thường tình theo
nghiệp thức nhơn quả, có đến đi sống chết, hệ lụy khái
niệm, trói buộc thời không và một cái biết "như thật như
chính tự toàn thể nó là", cái biết vượt lìa đến đi sống
chết, khái niệm phân biệt nhị nguyên không chỗ can hệ)
nhưng cả hai cái thấy biết ấy vẫn qua lại trọn vẹn trong
nhau, dung thông vô ngại trong một Phật tâm này. Nói hai cái
thấy biết mà trong đây, tận cùng chân thật, thiệt chẳng
phải hai, chẳng phải một mà cũng chẳng phải khác. Nói Phật
tâm này cũng là nói tánh biết diệu mầu cùng lúc dung chứa
hai cái thấy biết trên, một cái thật một cái bóng, cũng
là một toàn thể tuyệt đối, linh diệu, thường định, bất
biến và một là dụng của cái toàn thể kia trong trạng thái
thường biến và bất định, tức tạm gọi một chơn một
giả; cũng là khám phá bổn lai diện mục, là làm "một" bổn
tánh chơn thường nguyên ủy; cũng là biết như thật mọi
hiện tượng trước mắt, tự chỗ chơn không mà hốt sanh
vạn tượng sum la, rồi từ chỗ sum la vạn hữu như thật
như hư, như không như có, như hoa đóm trong không lại thu nhiếp
về một mối, chơn không như như bất động; cũng là từ
chỗ "Vô" chơn như linh diệu mà thường hay duyên sanh muôn
pháp, biến hiện mất còn, như có như không; cũng là làm sao
để một lúc nào đó cái thân tâm giả hợp của bốn Đại,
năm Uẩn này, một cách an nhiên theo luật tắc bất biến của
bản chất hiện tượng, được nhẹ nhàng như chiếc lá vàng
lìa cành rơi về nguồn cội mà trong ấy không thấy có chỗ
đến đi; cũng là làm sao như nước của đại hải mênh mông
qua bao nhiêu lần thay hình đổi dạng, bốc hơi, ngưng đọng,
kết mây, trút nước, phiêu lưu vạn suối ngàn sông, giờ
này tới duyên sắp sửa được tuông vào vòng tay êm ái, tràn
ngập bao dung của mẹ hiền biển lớn vô cùng vô tận mà
không đánh mất cái tánh tự thuỷ uyên nguyên của nước;
là làm sao để cho những người thiết tha cầu học đạo
giải thoát như anh em ta bất chợt cười vang lên một tiếng,
hân hoan sảng khoái như sấm động ngút ngàn, như chưa từng
được một lần cười trong đời, tự chỗ không hình không
bóng, không sắc không màu mà thoắt chốc phóng vút như tên
bắn, xuyên suốt qua hoả diệm sơn đang tuông trào mà không
có khái niệm nóng bỏng; phơi mình ngập tràn trong băng tuyết
bắc cực mà không có chỗ nào gọi là lạnh lẽo, đối đãi
vượt ngoài, tự tại vô ngại, du hí thần thông, sướng khổ,
thành bại, sống chết, ở đi, có không, phàm tình….. như
gió thoảng mây bay, không chỗ dính dấp; mọi hiện tượng
đến đi trước mắt giống như bụi bặm biến hiện trong
ánh sáng; bụi to bụi nhỏ tranh nhau bay bay, lên xuống mất
còn mà không làm lay động được ánh sáng chơn nguyên, trong
trẻo, tự tại, bao la của mặt trời thường chiếu.
Vì
anh và tôi đều là những người không biết lúc nào trái
tim nghiệp lực bằng thịt có máu tanh chạy bên trong bất
chợt ngừng rục rịch, mà chuyện đại sự trong đời thì
cứ canh cánh bên lòng sợ không còn kịp, lại chẳng biết
tỏ cùng ai! Do anh hỏi và tôi cũng lần tay bấm đốt
mà biết được rằng, anh nay tuổi cao sức yếu, cận kề
tám mươi rồi còn gì, cũng như ở tôi thân bệnh khó lành,
không biết ngày nào anh em mình xa lìa nhau, không biết ngày
nào anh em mình gặp nhau (xa chỗ nào, gặp chỗ nào, thiệt
có chỗ lìa chăng, thiệt có chỗ gần chăng anh cần tự truy
vấn) nên mới vội vàng viết cho anh những giòng này để
trao đổi cho nhau những lời thiệt tình, chân chất, tận đáy
lòng mình, nếu quả thật tâm lòng chúng ta có chỗ cùng tận!
Thứ
nhất : Về việc dùng chữ nghĩa.
Anh
hỏi tôi, trong bài viết ngắn "Thức tỉnh và tỉnh thức"
có cử ra công-án Thiền về việc ngài Duy-Nghiễm xem kinh.
Vậy thủ bổn gốc Hán-tự của Công-án nói ra sao mà tôi
thì viết là:"Ta xem chỉ là để che mắt……..Còn các
ông mà xem thì đến da trâu cũng thủng nữa là….".
Còn
chỗ dịch của một Thiền-sư thì lại viết :"Ta xem chỉ
là để che mắt…….Các ông muốn xem thì phải suốt qua tấm
da trâu đã".
Trả
lời. Thật ra tôi cũng chẳng còn nhớ thủ bổn viết ra
sao nữa, vì có một thầy cho mượn cuốn sách xưa cũ, trong
đó có chen vài công án. Lời của người xưa tự ngàn xưa
mà thấy như múa may, nhảy nhót, cợt đùa, thách thức trước
mắt, nên hứng chí tham gia, cứ đặt bút viết ngay, tự nghĩ
không lìa tâm ý của người xưa muốn đưa vào công án là
được. Nhưng do bản chất cố hữu của mình có chút máu
trào lộng trời phú, nên vẽ ký hiệu mà thành ra như vậy.
Tạm ví như cái dĩa đậu hũ ai đó mới vừa chiên xong, để
trên bàn, vàng ươm, nóng hổi, giòn rụm, thơm phứt, tự nó
thiệt ra cũng đã ngon rồi, nhưng vì muốn được bắt mắt
hơn chút xíu nữa với người đối diện nó, nên tôi mới
bỏ thêm vài cộng ngò xanh, tỉa trái ớt đỏ hình con công
con phụng, rưới chút muối tiêu lốm đốm trắng đen lên
mặt đậu cho khêu gợi cái con mắt, hấp dẫn cái lỗ mũi,
làm rìn rịn nước cái lưỡi của những ai vừa chợt nhìn
thấy, khiến họ dễ thèm thuồng mà thọc tay vào dĩa, nhón
một miếng cho vào mồm nhai. Chợt có người thọc tay vào,
ấy là tôi thành công một bước, vậy thôi, chẳng có gì
quan trọng lắm. Với tôi, chữ nghĩa mà có tính cách ngang
ngay, sổ thẳng quá, phải đi vào khuôn khổ như trong văn học
hàn-lâm thì tự cảm thấy không được thoải mái lắm. Theo
tôi, cứ nên tuỳ thuận cái chỗ thấy vô phân biệt của
tâm mà viết, chữ nghĩa viết sao phải thật bình dân, thật
dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, để làm sao người đối
diện hay người đọc mình, như cùng mình đi bên nhau và cùng
một chỗ thấy không ngại nhau là đạt mục đích rồi. Còn
nếu anh đem so sánh nó với chữ nghĩa của người khác, nhất
là với các bậc xuất thế thì làm sao có thể được! Có
lẽ vì tôi là người còn nhiều phàm tục, còn biết đói
no, vui buồn, còn biết thích thiên đường, sợ địa ngục,
còn biết trêu ghẹo, hóm hỉnh người khác, còn biết ưa đặt
bẩy để bẩy những ai cùng mình có duyên đi chung một con
đường để cũng được như mình (đồng một pháp tu) nên
mới như vậy chăng, tôi cũng không biết nữa.
Theo
tôi nghĩ, có lẽ vì phép giáo hoá chúng sanh trong tư cách của
một bậc đức cao đạo cả, nên các Ngài, như vị Thiền-sư
kia, ắc phải nên như vậy, phải thật nghiêm túc, như viết
chữ chân phương trên khổ giấy lớn, để ai nhìn vào trước
tiên cũng phải kính trọng cái đã; còn tôi chỉ là một Phật
tử tại gia bình thường, khi mê nhiều hơn lúc tỉnh, làm
sao có thể đem ra so sánh được với các Ngài !
Tuy
nhiên, theo tôi, với đặc thù của công án thiền, phải nên
nói trong chỗ bất chợt tự nhiên, giản dị, bình thường
và dĩ nhiên là không lìa tự tánh, nhưng vẫn không làm mất
tánh cách vừa đánh đố, thách thức, vừa hấp dẫn sự nghi
ngờ, vừa để mời gọi sự tò mò, khám phá; bằng nếu lời
nói hoặc chữ nghĩa khô khan, đơn điệu, tẻ nhạt như lời
trong kinh điển thì đâu còn gì là ngôn ngữ và tánh cách
độc đáo, lạ lùng của công án Thiền nữa.
Riêng
trong trường hợp này, nếu ta xoay ngược câu hỏi lại, rằng,
nếu trò đã tự có cái nhìn thấu suốt được qua tấm da
trâu như thầy (đã nói), thì tới chừng ấy ai còn cần xem
nữa, và xem để làm gì khi mà cái thấy thứ hai đã sờ sờ
trước mỏ ác của trò (vì đã suốt qua tấm da trâu như thầy
rồi), chẳng phải đối lập, chẳng phải hai, chẳng phải
một, lại cũng chẳng phải khác với cái thấy thường tình
như của phàm phu như bây giờ? Tới chừng ấy thầy trò đã
bên nhau một chỗ, đã tự đồng hội đồng thuyền thì cần
gì phải dụng ngôn cho rắc rối? Tới chừng ấy, chỉ một
cái vung tay, liếc mắt trong chỗ tâm tâm khế hợp làm một,
thì cần gì có chuyện hỏi có đáp lôi thôi như trên nữa?
Cho
nên theo tôi nghĩ, cùng một ý của câu nói, nhưng nếu chữ
nghĩa quá nghiêm túc, quá ngay thẳng, dẫn đến khô khan, gãy
gọn, mẫu mực thì tự nó đánh mất đi cái tánh cách thách
đố, hấp dẫn, mời gọi, gợi sự tò mò của người khác
đối với công án Thiền, khiến cái nghi của người đối
diện nó hay đọc nó sẽ mất tác dụng, chí ít là không còn
tác động mạnh mẽ hay tha thiết.
Một
sự thật quá rõ ràng, cùng là mật ngọt cả, nhưng một đàng
thì thong chai nhét nút, dán nhãn "mật ngọt" đàng
hoàng cẩn thận, thoạt mới nhìn ai cũng biết đó là mật
ngọt, để trước mặt. Còn một đàng cũng là thứ mật ngọt
đó không sai khác, được đổ trần ra bát, được minh hoạ
thêm một miếng bánh tráng mè dày nướng vàng rộm hay mấy
khúc khoai lang luộc chín, ruột vàng ươm để bên cạnh; dĩ
nhiên chỗ hấp dẫn, chỗ mời gọi để ai đó có nhiều cơ
hội rón rén thọc một ngón tay vào bát mật rồi cho vô miệng
mút (thử một lần coi thế nào), hay bẻ miếng bánh tráng
nướng, hoặc cầm một củ khoai luộc quết thật sâu vào
bát mật, rồi cho vào mồm nhai ngon lành. Đương nhiên chỗ
bắt mắt, mời gọi, khiến cái tay phải táy máy, ắc là cái
bát mật để trần kia rồi.
Trong
đây, cái chỗ mà ta cần phải ghé mắt tới chính là câu
nói rất chân thật "mượn kinh che mắt" của ngài
Duy-Nghiễm, mà ít người mới nghe qua có thể tin làm thật
được. Việc Ngài xem kinh được coi là thật, hoặc như Ngài
nói, chỉ mượn kinh che mắt, thiệt ra cả hai sự việc ấy
đối với Ngài đều thật cả, không có gì sai hay ngăn ngại
trong đây. Lời Ngài nói ra hoàn toàn chân thật. Ngài mượn
kinh che mắt thật đấy nhưng mà hai con mắt bị che của Ngài
không gì không thấy; vạn sự vạn vật trôi chảy trước
mắt, nhưng thấy đó mà thiệt chẳng có chỗ lấy làm đích
thấy, mà tất thảy như như không gì can hệ. Đó cũng là
cái thấy của con mắt đạo học, thấy bằng tánh thấy uyên
nguyên của con mắt, cái thấy toàn thể, xuyên suốt, bao trùm,
không dừng lại vào bất cứ gì, không trụ vào bất cứ gì;
nghĩa là có đối tượng để thấy cũng thấy mà không có
gì hết cũng thấy, mở mắt cũng thấy mà nhắm mắt cũng
thấy, tức cái chỗ thấy "nhược tâm hữu trụ tức
vi phi trụ - bằng tâm có chỗ trụ tức chẳng phải (thường)
trụ" mà Phật đã dạy trong Kim-cang kinh . Đó mới chính
là chỗ đáng nghi, đáng tham hỏi, đáng để cho những ai có
duyên với pháp môn này dốc sức trì mài cho tới khi nào vỡ
ra lẽ thật.
Nhân
đây anh cũng cho phép tôi lan man ra ngoài lề một chút, là
không ít người đã dịch câu kinh trên như thế này: "bằng
tâm có trụ tức chẳng phải trụ".
Dịch
kinh nghĩa mà như thế là chỉ biết dịch từng chữ, từng
lời, từng câu căn cứ từ Hán tự dịch ra Quốc-ngữ bằng
sự đặt tên lên khái niệm của chữ nghĩa, hoàn toàn xa lìa
tâm ý của chư Phật, làm cho câu kinh tắt nghĩa, khiến không
ai hiểu Phật muốn nói gì trong tám chữ ấy. Dịch như thế
là không biết vận dụng ngôn ngữ một cách rổng rang, vượt
thoát để có thể gói gọn tinh ba, tâm ý của cái ông "Phật-Việt"
muốn gởi gắm Pháp-âm bằng tiếng Việt cho những người
Việt nói chung và những ai rành tiếng Việt và chữ Quốc-ngữ
nói riêng, có duyên với Đại-thừa chánh pháp. Nghĩa là phải
chọn chữ làm sao để cho Pháp-âm, cũng là ánh sáng giải
thoát, (đương nhiên ở đây là bằng chữ Việt,Tiếng Việt)
ẩn chứa trong từng lời Việt kia, thường trú trong tánh Phật,
luôn sẵn sàng để được chuyển tải, ùa vào, tuông chảy,
tang lỗng, thông thấu vô ngại vào tâm người khi những ai
đối diện với Pháp-âm biết tiếp nhận nó hoặc bằng cái
tánh thấy tự nhiên của mắt hoặc bằng cái tánh nghe tự
nhiên của tai, nghĩa là tiếp pháp bằng cái tánh thấy nghe
nguyên ủy của tai mắt, trong trẻo, rổng rang, tự nhiên, vô
phân biệt.
Ta
gọi là Phật pháp vì đó là những phương tiện thiện xảo
mà đức Phật đã phát minh nhằm chỉ cho chúng sanh nhận ra
cái chỗ mà ngay đó bản thể chân thật của mọi loài đang-là
"một" tuyệt đối, cùng Phật không khác không hai. Và những
phương tiện chỉ vẽ ấy, dù bằng lời nói, bằng chữ, hoặc
bằng động thái thì cũng phải từ thể tánh tuyệt đối
mà xuất sanh, tức không lìa tự tánh mà nói, không lìa Phật
tâm mà chỉ. Bằng lìa tự tánh mà thuyết, mà dịch, cũng
như người nghe pháp lìa tánh nghe tự nhiên (vô phân biệt)
mà nghe, mà hiểu thì chỗ thuyết ấy, chỗ dịch ấy, chỗ
nghe ấy cũng đều là tri kiến sanh diệt, là theo nghĩa chữ
trói buộc khái niệm nhị nguyên, nếu không muốn nói là vừa
mở miệng thì đã như tên bắn đi vào cảnh giới sanh tử.
Điều
ấy có nghĩa là, trong khi dịch những lời rổng rang thanh tịnh,
cũng là ánh sáng giải thoát, không có một chút giây mơ rễ
má nào ràng buộc với bất cứ gì, hốt nhiên xuất sanh từ
chỗ không gốc gác của tự tánh duyên thành, không vướng
mắc khái niệm đối đãi, thì người vẽ lại ánh sáng pháp
âm bằng ký tự cũng phải biết vượt lên trên chữ nghĩa
mà vẽ (tức dịch); cũng có nghĩa là khi ấy tự tâm
người dịch phải rổng rang thanh tịnh đồng một tự tánh,
tức nên không lìa Phật tâm mà dịch, nên không lìa tự tánh
mà chuyển nghĩa tâm ý của Phật muốn gởi gắm ra thành lời
Việt, khiến chỗ tâm ý kia có thể soi rọi thấu suốt vào
tánh trí của người nghe pháp hay đọc pháp. Một khi người
đối diện gặp duyên lành, tiếp nhận được ánh sáng ấy,
tức khắc ánh sáng kia bao trùm, làm tan biến cái tăm tối
của tập nhiễm vô minh, cũng là làm bùng vỡ tánh biết bổn
lai, cũng là hoà "một" bản tánh nguyên uỷ của người ấy,
cũng là bừng sáng tánh Phật chúng sanh của người ấy.
Bất
cứ Kinh điển Đại-thừa nào cũng đều có công năng vi diệu
là làm chuyển cái thấy biết phàm tình câu hữu vô minh, có
đến đi, sống chết, trói buộc thời-không, nhơn quả trở
về cái biết nguyên ủy, cái biết toàn thể, tuyệt đối,
không có năng biết sở biết, cũng là "Giác" cái tánh bổn-lai
tự thuỷ.
Thế
nên, người dịch lời Phật cần phải hết sức cẩn trọng,
để từng lời từng câu cấu thành tâm ý của đức Phật
đều trở thành những lời vượt thoát hệ lụy khái niệm,
cũng tức là nên không ra ngoài tự tánh Phật mà dịch vậy.
Dịch được như vậy mà vẫn còn bị cho là gãi ngứa ngoài
giày đối với tánh thật cái chỗ mà đức Phật muốn trỏ
về, huống là lìa tự tánh mà dịch thì biết phải gọi là
sao đây?
Điều
ấy chứng tỏ những lời cảnh báo của người xưa đối
với vạn đời sau phải nên thật cẩn trọng trong việc diễn
giải kinh điển, thuyết pháp cũng như nghe pháp là cần thiết,
vì rằng chỉ cần thêm một chữ, bớt một chữ hoặc hiểu
sai một chữ cũng đủ dẫn mình và dắt người lìa xa Trung-đạo,
như tên bắn trói buộc vào nhơn quả. Thế nên, việc mỗi
người trong chúng ta thuộc nằm lòng lời nhắc nhở thi thiết
chân tình của người xưa:"Ly kinh nhứt tự tức đồng
ma thuyết. Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan" là điều
không bao giờ thừa vậy.
Cho
nên, dịch như câu trên "Bằng tâm có trụ tức chẳng
phải trụ" xuất hiện trong một số kinh sách bằng
chữ Quốc-ngữ, khiến không ai hiểu đức Phật muốn nói
gì. Nghĩa là người dịch đã dùng tri thức hữu vô, sanh diệt
để nói, để chỉ về chỗ phi hữu phi vô, không hư không
thật, nên không biết đường nào, chỗ nào mà chỉ (không
biết dùng từ ngữ thích hợp) mới khiến câu trên thành
tắt nghĩa, tối nghĩa. Bỡi vì trong khi dịch, người ta có
tự làm "một" tự tánh đâu, có làm một với Phật tâm đâu,
có làm một trong tánh sáng của Bát-nhã trí đâu! Vì cốt
tuỷ của Kim-Cang Bát-nhã là Bát-nhã-trí, mà khi dịch, khi
giảng giải không đồng làm một với tánh trí này thì làm
sao chỗ dịch ấy có thể gọi là như thật như tánh Bát-nhã
Kim-cang, có thể đúng như thật cái chỗ mà ông Phật-Việt
muốn chỉ, khiến ánh sáng của tánh trí này dễ dàng thâm
nhập và làm bừng sáng cái tâm (đang bị tập nhiễm vô
minh che lấp) của người học đạo.
Đành
rằng chữ nghĩa không thể dính dấp được tới "nó", miệng
mồm tri thức không thể với được tới nó, nhưng không phải
như thế là không có cách chỉ ra để người ta có thể tự
nhận biết nó, tự thâm nhập nó, tự làm một với nó. Đức
Phật đã dùng trí huệ của bậc toàn giác phát minh các "pháp"
phương tiện hy hữu để chỉ cho chúng sanh biết đường tự
giải thoát mình khỏi cái biết trói buộc nhị nguyên, luân
hồi nhơn quả, bằng cách giác ngộ tánh biết bổn lai,
cũng là thể nhập Phật tri kiến. Những pháp ấy không từng
lìa Phật tánh mà thuyết nên người dịch pháp âm kia cũng
phải nên không ra ngoài Phật tâm mà dịch, tức không lìa
tự tánh Phật mà dịch; riêng trường hợp này nên không lìa
trí Bát-nhã mà dịch Kim-Cang thì mới không mắc lỗi với
người xưa, cũng như mới có thể biết như thật chỗ dịch
đó không làm mất ý chỉ của chư Phật, chắc chắn có thể
dùng làm phương tiện để độ người, cũng là thành tựu
chút công đức nhỏ nhoi để đền ơn ba đời chư Phật.
Ở
đây, chữ hữu trụ có ý nghĩa rất rõ ràng và phải được
hiểu là chỗ có "năng trụ sở trụ" của bản ngã trói buộc
nhơn quả, trói buộc sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; còn
phi trụ phải được hiểu là "thường trụ" pháp
giới, thì mới thấy được câu kinh ngắn gọn, súc tích ấy
hàm chứa một ý nghĩa to lớn, sâu rộng, rõ ràng và sáng
trong là không nên trụ vào bất cứ gì; một khi không trụ
vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì hành giả ắc dễ
trực ngộ cái chỗ "không chỗ trụ" kia, là "thường
trụ pháp giới", là tự tại, là giải thoát, cũng tức
là đồng một ý nghĩa như câu "Ly nhứt thiết tướng
tức danh chư Phật" ở trong kinh …vv.
Thứ
hai : Tánh biết, Tri-thức phân biệt và Pháp Phật.
Những
lời dạy của đức Phật trong ba tạng kinh điển, cũng như
của chư Tổ trong các ngữ-lục, ta gọi là Pháp Phật, là
chân lý, đúng đắng trăm phần. Tuy nhiên, những thứ đó
cũng đều là sản phẩm tinh thần của các Ngài, được các
Ngài vận dụng trí huệ một cách tài tình thành thứ ngôn
ngữ rốt ráo, vượt thoát sự trói buộc của khái niệm nhị
nguyên, để dùng làm phương tiện cho những người căn cơ
bậc cao, biết trên lời vượt ý mà thâm nhập làm một cùng
chỗ các Ngài, cũng là chỉ về Phật tri kiến. Nghĩa là cũng
bao nhiêu chữ nghĩa ấy, nhưng nó chỉ riêng dành cho những
người căn cơ trí tuệ, phước đức sâu dày, biết vận dụng
trực giác để thâm nhập cái chỗ ẩn áo bên trong mặt chữ
nghĩa kia để khám phá chỗ các Ngài ngay ấy đang-là, cũng
là trực ngộ tánh biết bổn lai, là diệu nhập Phật tri kiến.
Còn
nếu không được như vậy, tức những người trung hạ căn,
không có trực giác mạnh mẽ, tuy vẫn đối diện với bao
nhiêu chữ nghĩa ấy, nhưng chỉ biết dùng tri thức được
tích góp bằng kinh nghiệm hay dùng tình tưởng giác quan để
tìm hiểu nó, thì sự hiểu biết này cùng "chỗ các Ngài"
không dính dấp.
Các
bậc thượng thủ ngày xưa mượn chữ nghĩa, tức những ký
hiệu nhằm biểu thị trí huệ, hồn thiêng linh động muôn
năm của các Ngài thành lời, thành chữ, rồi ghi chép, kết
tập để lại cho đời sau làm phương tiện tự độ, như
mượn tay chỉ trăng, mà ta gọi là có pháp để học, để
tu. Những ai biết vận dụng căn trí và tâm tu để nương
theo các pháp ấy mà thâm nhập làm một hồn thiêng linh động
muôn năm ấy thì thành công, liền cùng các Ngài một chỗ
đang-là. Nhưng cũng tức khắc ngay đó, người ấy liền cười
ồ, bỡi vừa chợt biết như thật, những pháp kia chỉ là
phương tiện quyền xảo, được các Ngài vận dụng trí huệ
giải thoát mà giả lập để độ người căn cơ, chứ không
phải thật có. Tuy nhiên, ta cũng không thể nói là không có
pháp. Bỡi nếu không mượn ngón tay kia chỉ chỏ thì làm sao
ta thấy được trăng, không có thuyền bè kia thì làm sao ta
qua sông được. Nhưng cái ý cốt lõi mà Tổ, Phật thường
nhắc nhở chúng ta, đó là, tất thảy pháp cũng đều là phương
tiện, qua được bờ kia mới là cứu cánh, nên không nên chấp
trước vào pháp, dù là pháp tối ưu của Phật.
Pháp
là những sản phẩm tinh thần của các Ngài, và chúng ta không
thể chấp thủ được, mà dù có chấp thủ được (tức
được hiểu bằng tri thức phân biệt, hệ lụy lên khái niệm
của những ký tự, chữ nghĩa được đặt tên) thì cũng
chỉ là thu lấy được cái xác khô chết mà thôi, còn cái
hồn thiêng linh động muôn năm, không sống không chết biểu
hiện con đường "Trung-đạo" mà các Ngài đang-là, thì nó
vẫn là của các Ngài, luôn đi theo các Ngài, là một với
các Ngài. Tuy nhiên, dù biết tất thảy các pháp thiện xảo
kia cũng chỉ là những phương tiện quyền biến của các Ngài,
không phải thật có, nhưng với những người đang cầu đạo
như chúng ta, cũng không nên phủ nhận triệt để là không
có pháp. Nghĩa là cho đó là thật pháp, thì tức là chấp
thường; hoặc phủ nhận những pháp ấy, tức chấp đoạn;
chấp nào cũng đều vướng mắc nghị nguyên nhơn quả cả.
Chỉ chừng nào chúng ta được như các Ngài, tức biết như
thật nhứt thiết pháp không, vô ngã rốt ráo, thì tới lúc
ấy nói "thật không một pháp nào" cũng chưa muộn.
Vào
thời Chánh-pháp, Đệ-nhị Tổ Thiền-tông Aán-độ, ngài A-Nan,
trong một bài kệ truyền pháp "pháp-không-pháp" (Chánh pháp
nhãn tạng - trực chỉ nhơn tâm) ấn tâm cho đệ tử của
mình là Đệ-Tam Tổ Thương-Na-Hoà-tu, đã nói một cách rõ
ràng, giản dị cái ý "có- không, không-có" pháp ở trên.
Bổn
lai truyền hữu pháp
Truyền
liễu ngôn vô pháp
Các
các tu tự ngộ
Ngộ
liễu vô vô pháp.
*
Xưa
nay truyền có pháp
Truyền
xong nói không pháp
Mỗi
người cần tự ngộ
Ngộ
rồi không không pháp.
Cho
nên, điều mà chúng ta cần làm ở đây là biết mượn những
pháp phương tiện thiện xảo ấy của các Ngài (tức tri
kiến giải thoát) rồi lọc lựa (trạch pháp) từng
pháp thích hợp với căn cơ của mỗi người để tự chèo
chống mà qua bờ kia. Qua được bờ kia rồi thì phải biết
bỏ nó lại sau lưng, phải biết quên nó đi (giải thoát
tri kiến giải thoát) thì mới thật sự được việc, mới
có thể tự thăng hoa rốt ráo, mới có thể đồng hội đồng
thuyền với các Ngài.
Thế
nào là chỗ đồng hội đồng thuyền với các Ngài? Chỗ đồng
hội đồng thuyền ấy, là chỉ khi nào ta tự "một" trong chỗ
mà các Ngài ngay ấy đang-là, vượt quá thời-không, khái niệm
nhơn-quả, cũng là trong cái tâm thể linh động, rổng rang,
trụ vô sở trụ, đắc vô sở đắc, không một niệm khởi
sanh, không một niệm khởi diệt. Đồng hội đồng thuyền
cũng là tự trọn một trong nhứt niệm chơn thường sáng trong,
không một vật, cũng là đồng "một" tánh biết bổn lai sáng
suốt tuyệt đối; hay cũng có thể nói là đồng "một" tánh
không-biết bổn lai, "tánh không-biết-toàn-thể-độc-hữu-chính-nó",
tức cái "không biết hoàn-toàn không có đối tượng
để không biết", cũng là nhất hợp tướng "vô-tri
toàn-thể chính nó". Nói là vô tri mà thật ra đó là
chơn tánh vô tri-toàn thể độc nhất chính nó, là tuyệt "một"
diệu mầu, cũng tức là tánh sáng suốt của cái "một" vô
tri tuyệt đối, tức là "vô sở bất tri" - hoàn toàn không
có đối tượng để không biết, cũng là nhất-thể toàn-biết,
cũng là đồng "một" pháp tánh vậy. Tới đây thì miệng lưỡi
và cái biết cạn cợt của tôi không thể hình dung ra bằng
lời, bằng ký hiệu được nữa.
Chỗ
đồng hội đồng thuyền ấy, có thể ví dụ. Như có người
đang tắm trong một giòng sông. Những gì về giòng sông, về
nước mát anh ta đều biết rành; anh ta bơi lội, lặng ngụp,
thậm chí uống cả nước mát của giòng sông ấy. Anh ta cảm
thấy tắm táp trong nó thật mát mẻ, sảng khoái, hạnh phúc
vô cùng. Thế nhưng dù tắm thế nào, lặn ngụp bao lâu, uống
nước ấy bao nhiêu đi nữa, anh ta vẫn là anh ta mà giòng sông
vẫn là giòng sông, là hai là khác. Muốn không phải là hai
là khác, tức tự "một", đồng một thể bất phân ly, thì
chỉ có một con đường là anh ta phải thật sự như là nước
mát của giòng sông ấy. Chỉ có nước của giòng sông tắm
mát cho chính giòng sông ấy, khi đó tự giòng sông biết như
thật rằng, quả thật nước tắm mát giòng sông và chính
giòng sông cũng đang tắm mát nước trong nó, mà không ai ngoài
giòng sông có được cái cảm giác như thật như chính nước
mát của giòng sông. Giòng sông và nước của giòng sông chỉ
một. Nếu có thể mượn lời để hình dung ra, thì theo tôi,
tạm gọi đó là chỗ đồng hội đồng thuyền.
Nghĩa
là cũng những lời ấy quảng diễn về tâm thể (nào là vô
trụ, vô đắc, vô biên, vô hạn lượng, …vv..), nhưng tự
chúng ta lúc đó cùng tánh nó phải không khác không hai, phải
không có chỗ cùng nó đối đãi năng tri sở tri, tức không
dụng tri thức hoặc cảm nhận của giác quan hay trí tưởng
tượng để hiểu biết về một đối tượng nào, cũng là
chúng ta phải tự hoà một với chính nó, thì liền ngay đó
bặt ngôn ngữ, lìa tri kiến, nói không thể tới vì trong đây
tuyệt vô đối đãi. Nghĩa là sao?
Nghĩa
là cái mà chúng ta cần là ánh sáng bùng vỡ từ kinh nghiệm
thực chứng của bản thân, tức cái biết toàn thể chính
nó mà không có một đối tượng nào được biết trong đây.
Hoặc cũng có thể nói ngược lại, là "cái không-biết toàn-thể
chính nó mà không có một đối tượng nào được không-biết
trong đây", chứ chẳng phải là kinh nghiệm của tri thức,
hoặc tình tưởng góp nhặt được từ trong sách vở hệ luỵ
khái niệm nhị nguyên, đối đãi nhơn quả. Ngoài ánh sáng
thực chứng, cũng là tánh biết hiện tiền, những thứ khác
trong đây đều là tạp chất, sẵn sàng làm vẩn đục cái
tánh biết trong trẻo uyên nguyên, dễ làm cho ta tự lìa cái
"một" tuyệt đối, tịch lặng, toàn thể, để trở thành
cái "đa - nhiều" trùng trùng sanh khởi, tương quan, tương tác,
đối đãi cột buộc, hệ lụy khái niệm, cũng là tự bắn
mình như tên vào cảnh giới nhơn quả nhị nguyên. Vì tri thức
hoàn toàn không thể giải quyết được việc sanh tử hoặc
những vấn đề phức tạp trong cuộc sống là phiền não,
nếu như không muốn nói chính nó (tri thức chứ không là
gì khác) mới là thủ phạm số một gây nên sự hỗn độn,
rắc rối thêm cho cuộc sống (vì cái biết luôn phân biệt),
cũng như chính nó trói buộc với nhơn quả trong hiện tại
và vị lai, cũng như nó đã từng là nhân tạo tác trong vô
lượng quá khứ để có cái quả mà chúng ta đang phải đối
mặt trong cuộc trần này. Đó là điều mà đức Phật
thường nhắc nhở, cảnh giác loài người trong suốt bốn
mươi chín năm thuyết pháp của Ngài, được gói ghém trong
bốn chữ "Duy Tuệ Thị Nghiệp".
Cũng
ví như chỉ một tiếng Phật thôi, ai cũng có thể nói ra được;
nhưng với người bình thường thì khi nói tiếng "Phật" cũng
có nghĩa là có "ta" biết (năng tri) và Phật được biết (sở
tri) như một khái niệm mà con người mượn tên đặt cho Phật
mà không đúng như thật như bổn tánh của "Phật" là. Còn
người đã sáng con mắt đạo học, thì chợt mở miệng nhắc
đến tiếng Phật, ngay đó cái thấy biết tự trọn nơi Phật
tâm, Phật tánh, "trọn nơi thể tánh như tánh thanh tịnh tuyệt
đối", đúng như tánh chơn thật của Phật là, cũng là tự
"một" pháp thân thường trụ Phật.
Nhân
đây tôi cũng xin kể cho anh nghe về một tiếng Phật mà nhiều
Phật tử lên diễn đàn Phật pháp, hỏi rằng, có nên dùng
chữ Bụt thay cho chữ Phật như có một số người đang cổ
xuý hay không ? Và hầu hết các ý kiến trên diễn đàn đều
đã nghiêng về việc nên dùng chữ "Phật" như từ xưa nay.
Theo
tôi, sự tán thành dùng chữ Phật của số đông Phật tử
là điều tất nhiên, không cần bàn cãi . Tuy nhiên, tôi muốn
bổ túc thêm một ý. Tiếng Việt và chữ Việt mà ta đang
dùng hàng ngày, trong giao tiếp lẫn trong văn học, gần một
nửa là chữ Hán-Việt, còn hơn một nửa kia là chữ thuần
Việt. Chữ Hán-Việt ảnh hưởng rất lớn trong đời sống
chúng ta, vì nó được dùng nhiều đến mức đôi khi ta quên
mất nó là gốc Hán-Việt. Người Trung-hoa đặt ra một chữ
viết nào đó thường căn cứ vào chỗ tượng Thanh hoặc tượng
Hình hoặc tượng Ý. Ở chữ Phật () thì người Trung-hoa
cổ ghép từ hai chữ lại mà thành, là chữ nhân
() chỉ người, và chữ phất
() (vừa tượng thanh, vừa tượng ý), là chẳng, tức
không phải là gì cả. Điều ấy có thể hiểu
được ý nghĩa khi những nhà đạo học, những nhà ngôn ngữ
học và bác học Trung-hoa cổ đặt ra chữ Phật. Nghĩa là
Phật là bậc không phải là
gì cả, không phải thánh không phải phàm, không phải trời
không phải đất, không phải phải, không phải trái, không
hơn không thua, không sanh không diệt, không nhân không quả,
không tốt không xấu, không có không không, không hư không
thật ….v.v nói chung là không
chỗ hệ lụy vào bất cứ một khái niệm nhị nguyên nào
do loài người đặt tên theo luật tắc nhơn quả. Người tu
Phật, một khi nói đến tiếng Phật là nghĩ ngay tới phía
đằng sau cái lớp hình hài cũng là báo thân của Ngài; chỗ
đằng sau rổng rang, thanh tịnh ấy cũng là chơn thân, là pháp
thân, là Phật tánh, là Niết-bàn thanh tịnh, là pháp thân
thường trụ Phật. Chữ Phật dùng đã hơn hai ngàn năm nay
ở nước ta, ý nghĩa minh bạch từ trong cách phát âm cho tới
chữ viết có hồn (Hán tự) nên không cớ gì chúng ta phải
chạy theo ý kiến của một vài người hứng chí trong nhứt
thời mà sửa đổi.
Chữ
Bụt
không phải là chữ thuần Việt, mà nó cũng chỉ là sự vay
mượn từ xa xưa theo cách phát âm từ chữ Buddha. Chữ Bụt
cũng chỉ là một tiếng đại biểu
cho một vùng hay một số vùng nhất định trong lãnh thổ Việt-nam
mà thôi. Đối với văn hóa dân gian,
tiếng Bụt thường mang ý nghĩa như là một ông Tiên, ông
Thánh, ông Thần, có râu dài, cầm phất trần, chuyên hiện
ra giúp người nhân hiếu gặp nạn trong những truyện cổ
tích, chứ không phải có tính cách như một bậc Toàn-Giác,
giải thoát rốt ráo. Lại nữa, suy cho cùng, nếu dùng tiếng
Bụt thì thấy có tánh cách o ép, cục bộ, địa phương tính,
không được thông lưu quảng đại và thân thiết bằng tiếng
Phật đã ăn sâu vào tận tim óc, máu thịt của người Việt-nam
tự muôn đời nay. Chợt mở miệng nói đến tiếng Phật là
ngay đó Pháp giới thanh tịnh hiện tiền trước mỏ ác. Còn
tiếng Bụt thì không được như thế, mà thường gợi lên
hình ảnh Thần, Thánh, phép tắc siêu hình nhiều hơn, cũng
là điều hoàn toàn trái với ý nghĩa và tính cách vô ngã
của tiếng Phật.
Lại
nữa, nếu như sau này có thêm vài vị đại cao kiến khác
hứng chí làm nổi cho rằng, phải nên gọi là Giác
mới đúng, mới phải, mới hợp với ý nghĩa tối thượng
của tâm giải thoát, thì tới chừng ấy phải tính sao đây
? Lại bỏ Bụt theo Giác chăng?
Thời
gian như bóng câu qua khe cữa, mà hành trình tới bờ kia thì
mù mịt ngút ngàn. Cả một đời nỗ lực tu hành để mong
sáng mắt, thoát khỏi nghiệp tội vô minh, tự thăng hoa vượt
lìa trói buộc của luân hồi sanh tử còn sợ không kịp, sao
người ta lại cứ mãi dắt người khác chạy theo cái "tướng"
như thế thì biết đến bao giờ mới giải thoát, mới thành
"Bụt" được đây?
Hoá
ra người ta đang dẫn dắt chúng sanh tu theo pháp Đại-thừa
của Phật mà bản thân họ lại quên mất bài học nhập môn
cốt yếu và nằm lòng của hàng Đại-thừa là:
"Nhược
dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thinh cầu ngã, thị nhơn hành tà
đạo, bất năng kiến Như-lai".(Kim-cang kinh - Pháp
thân phi tướng - Phần 26). .
Cái
biết của tri thức phàm tình sanh diệt, cũng là cái biết
hệ lụy phân biệt, năng sở đối đãi, hoàn toàn khác với
cái biết của đạo học, ở đây tạm gọi là cái biết thứ
hai, tức cái biết chân thật, cái biết có được nhờ
tự trải nghiệm và thực hành tuần tự một cách rốt ráo
qua 5 pháp-yếu (là Giới, Định, Huệ, Tri-kiến giải-thoát
và Giải-thóat Tri-kiến giải-thoát) để có thể
tự trở thành trọn vẹn trong chỗ hoàn thành duy nhất
"Một". Đó là cái biết tuyệt đối, như như thường
hằng, bao trùm, xuyên suốt, không gì che dấu, nhưng hoàn toàn
không thể nói là một, là hai hay là khác với cái biết thường
tình thứ nhất. Đó là chỗ diệu mầu được thừa ân đối
với những người thiết tha cầu đạo giải thoát, được
những bậc đắc pháp dẫn dắt, hành trì đúng như pháp, ở
trong đó với cái tâm chân chính, thấy nghe, tu hành, giới
hạnh nghiêm túc. Tới đây thì không thể nói thêm nữa, và
đương nhiên là, nếu ai chưa tự mở con mắt thứ hai thì
có thể cho những lời trên là nói mông lung, nói mơ hồ, nói
vô căn cứ, nói không có tính xác thực. Và chúng ta cũng
đành phải chấp nhận những lời chê trách ấy thôi, vì ngay
cả trí tuệ và ngôn ngữ siêu việt của các bậc giải thoát
còn không thể nói tới, và lẽ tất nhiên là như thế (vì
trong chỗ phi năng-sở, tuyệt đối đãi, thì làm sao nói, ai
nói được và ai nghe được đây) huống là miệng mồm
chữ nghĩa phàm tình của chúng ta. Cho nên, dẫu chúng ta có
nói năng mô tả "nó" ra sao, miệng lưỡi nói huyền nói diệu
như thế nào đi nữa thì người nói đó cũng chỉ là làm
cái việc gãi ngứa ngoài giày, còn người hiểu "nó" thì cũng
chẳng khác những người mù sờ voi, người đui nghe tả cảnh
mà thôi, không phải thật như tánh tuyệt đối nó là.
Chỉ
phải tự thể nhập "một" nó thì mới biết được nó như
thật, nhưng cũng ngay tại chỗ này, mọi khái niệm hệ lụy
nhơn quả nhị nguyên đều triệt tiêu, cũng là ngay đó bặt
ngôn ngữ, nói không thể tới, vì chỗ này năng sở chỉ một,
hay nói chính xác là ở chỗ "tướng thật không một tướng
nào", là Không, tức diệu tánh "không" chơn như, là tánh thấy
biết tuyệt đối vậy. Đã thế thì làm sao mở miệng, mà
dẫu có nói thì cũng chỉ là nói chỗ tương đối có thể,
không đúng như thật như tánh nó-là.
Ở
trên tôi có nói với anh, "nó" là cái tuyệt đối, một, thường
hằng …vv…và vv. Thật ra, nói sao thì tự thân chỗ nói này
cũng đều là tương đối cả. Bỡi vì nói tuyệt đối cũng
chỉ là do cái thấy thứ nhất bằng tri thức, bằng sự suy
luận, hay mường tượng của ta nhìn vào cái bóng, cái mặt
ngoài của "nó" mà nghĩ nghị là như vậy, tạm đặt tên cho
nó, nên ta mới tạm mượn từ ngữ mà nói nó là tuyệt đối.
Nói "một", "độc hữu" cũng là dùng cái thấy thứ nhất,
cái thấy của tâm ý thức, giàu tưởng tượng trong ta nhìn
cái bóng "như hư như thật" nó mà thấy, mà đặt tên cho nó
(lẽ dĩ nhiên là thấy bằng phạm trù khái niệm, phân biệt,
là hai là khác, không đúng như thật như tánh nó là), chứ
không phải như tánh của chính nó là. Nói nó là thường hằng,
nhưng tự chính nó không phải thường hằng, mà chỉ vì con
mắt thứ nhất của ta có giới hạn trong chỗ thấy biết
hay nghĩ suy, mường tượng về nó mà thôi, chứ trong chỗ
linh diệu như tánh của nó, thì tuy"một" nhưng tự thể
lại nhiều, "tuyệt" mà lại ẩn chứa cái tương, "hằng" mà
luôn khéo sanh muôn pháp. Đó chính là chỗ linh diệu của tánh
biết bổn lai.
Tóm
lại, chủ đích của những người tu Phật như chúng ta là
làm sao mở cho được con mắt thứ hai, cũng là con mắt của
đạo học. Có mở được con mắt này thì mới không uổng
phí công phu tu hành trong đời. Nếu tôi nhớ không lầm thì
hình như Lục tổ Huệ- Năng có nói trong Pháp-Bửu-Đàn kinh,
đại khái rằng, tu hành mà không sáng bổn tâm tỏ bổn
tánh thì uổng phí công phu trong đời. Tuy nhiên, về
phần những người tu học như chúng ta, cần phải biết một
điều là, sáng mắt tâm, tỏ bổn tánh cũng chỉ mới là
"bước đầu" thành công trên con đường tu học mà
thôi. Phía trước mặt còn cả một con đường
dài mà người tu Phật từ đó bắt đầu thực hành vạn hạnh
lành để dọn sạch nhiễm ô cấu trước từ thô tới tế,
trong chỗ vi nhiệm không thể nghĩ bàn để hoàn thành trọn
vẹn "một" tuyệt đối. Vì vậy chúng ta không nên chấp lên
chữ nghĩa của các Ngài, rằng, hễ kiến tánh là thành Phật
ngay, như trong câu Tông chỉ của Thiền tông. Bỡi vì đó cũng
chỉ là một cách nói vượt thoát, được áp dụng lên chính
các Ngài, những bậc vốn sẵn chứa cái nhân đại từ bi,
đại trí tuệ mà khó lòng chúng ta bắt kịp. Lại nữa, còn
phải hiểu pháp của các Ngài là pháp đốn giáo, nghĩa là
đốn ngộ rồi tiệm tu cho đến giải thoát rốt ráo.
Cho
nên chợt mở con mắt thứ hai cũng chỉ mới là bước đầu
sáng tánh biết, biết như thật để không lầm nhơn quả,
biết nẻo đi về để tránh ba đường khổ, cũng là biết
lựa đường lựa chỗ để có thể tiếp tục tu hành cho đến
giải thoát thật sự, chứ chưa phải "XONG" như
nhiều người trong các bạn của chúng ta thường hay nói. Chưa
xong đâu, ngàn vạn lần chưa xong mà, sự thật là như thế.
Còn nếu ai đó nói mình đã xong trong đời này rồi, thì
đến lúc phải đối mặt Diêm vương, xong hay không người
ấy liền tự khắc biết.
Bỡi
thế nào là xong? Xong là thế nào?. Một khi ai đó nói "tôi
xong rồi" cũng đồng nghĩa "tôi được giải thoát rồi", thì
ngay chính cái chỗ nghĩ tưởng là xong đó, là giải thoát
đó lại là sợi dây trói buộc họ với nhơn quả. Tại sao
như vậy? Vì một niệm "xong" khởi sanh, thì ngay chỗ xong đó
đã trở thành một "sở xong" làm đối đãi cho một "năng
xong" là ngã kiến hiện tiền vì cái tâm chấp khởi sanh. Cũng
như nói "tôi đã được giải thoát" thì ngay trong cái tướng
giải thoát kia đã sẵn chứa cái tôi của bản ngã hiện tiền
trói buộc với nhơn quả, có tướng năng biết "biết" cái
sở biết là tướng giải thoát. Thật tướng của tướng
giải thoát, tức tịch diệt, là "chơn không", là Niết-bàn.
Bằng còn biết tới cái "không" của mình là "không" thì còn
chưa phải thật không, chưa phải tự đồng "một" chơn không
trong trẻo, tuyệt đối, không một pháp. Nghĩa là, nghĩ có
chỗ xong, thì ngay chỗ xong là cái chưa xong, vì suy cho tới
chỗ vô cùng, vô tận, bản tánh chân thật của "xong" là vô
chung vô thỉ, phi thời phi không, bặt ngôn ngữ, tuyệt đối
đãi; thế nên nói rằng "xong" thì cũng là hiện tướng của
chưa xong trói buộc nhơn quả vậy.
Trong
kinh Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật, Tôn giả Tu-Bồ-đề đã tỏ
bày trước đức Phật thế nào là trí huệ giải thoát của
mình (Bát-nhã Ba-la mật) cũng là chỗ "giải thoát tri
kiến giải thoát" mà Ngài sở đắc.
Phật
hỏi Tôn-giả Tu bồ-đề, rằng, bậc A-la-hán có tưởng như
vầy, tưởng mình được đạo A-la-hán. Ý ông nghĩ sao?
Và
ngài Tu-Bồ-đề đã trả lời :
"Thế-tôn
! Nhược A-la-hán tác thị niệm, ngã đắc A-la-hán đạo, tức
vi trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.
Thế-tôn
! Phật thuyết ngã đắc Vô tranh Tam muội, nhơn trung tối vi
đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A-la-hán. Thế tôn ! Ngã
bất tác thị niệm, ngã thị ly dục A-la-hán.
Thế
tôn ! Nhược ngã tác thị niệm, ngã đắc A-la-hán đạo, Thế-tôn
tức bất thuyết Tu-bồ-đề thị nhạo A-lan-na hánh giả. Dĩ
Tu Bồ-đề thật vô sở hành, nhi danh Tu-bồ-đề thị nhạo
A-lan-na hánh.
-
Bạch đức Thế tôn ! Nếu bậc A-la-hán có tưởng như vầy:
Tưởng mình được đạo A-la-hán, tức trước tướng ngã,
nhơn, chúng sanh, thọ giả.
Bạch
Thế-tôn ! Phật nói con là người được pháp Vô tranh Tam
muội, thiệt đúng bậc nhất trong loài người mà cũng là
bậc nhất Ly dục A-la hán nữa.
Bạch
đức Thế-tôn ! Con chẳng nghĩ tưởng như vậy, con mới phải
là bậc Ly dực A-la hán.
Bạch
đức Thế tôn ! Bằng con có tưởng như vầy: con được đạo
A-la-hán thì Thế-tôn ắc chẳng nói Tu-bồ-đề này ưa làm
theo hạnh A-lan-nhã. Bỡi tu Bồ đề này thiệt không có sở
hành, nên mới gọi Tu-bồ đề là ưa làm theo hạnh A-lan-nhã".
(Kim-Cang
kinh - Nhứt tướng vô tướng - Phần đệ cửu) .
Một
vị đệ nhất Ly dục A-la-hán, bậc đại trí huệ, đệ
nhất Giải-Không trong thời Chánh-pháp mà ngôn-hành còn như
vậy, huống là trong thời mạt pháp đen đúa này, người tu
học tại gia như chúng ta còn biết ăn ngon mặc đẹp, hằng
ngày còn tạo nghiệp lành, nghiệp dữ, mà sao lại dám đại
ngôn nói "xong" được. Xong là xong làm sao? Nếu quả thật
có chỗ xong đó, thì cái xong ấy thiệt ra là cái tướng "xong"
vi tế mà người ấy không thể nhận biết . Cái tướng "xong"
nhỏ nhoi vi tế mà ta không thể nhận biết kia, chính là cái
mầm của vọng thức vô minh, là mầm của vọng nghiệp nhơn
quả. Với người đã sáng tánh biết thì lúc bình thường
cái mầm này lặng yên như ngủ kỹ, như không hiện diện,
nhưng khi có điều kiện tác động để phát triển thì nó
vùng lên chỉ trong sát na không gì cản nổi, hoàn toàn khác
với tánh thật xong rốt ráo, vô tướng, vô hạn, vô cùng,
vô tận, vô thỉ, vô chung, bất khả thuyết, bất khả tư
nghì của pháp giới chơn nguyên, tịch tịnh.
Cho
nên, theo chỗ thấy biết cạn cợt của tôi thì, trong đời
mạt pháp đầy nhiễu nhương trí trá này, những người cư
sĩ tu Phật tại gia như chúng ta, còn biết ăn, biết thở,
còn biết ghét, biết thương mà nói "tôi đã xong" rồi, thì,
một, hoặc đó là việc hy hữu, đại phước đức của một
chúng sanh trong đời mạt pháp khỏi phải nói (nhưng hiếm
khi xảy ra lắm); hai, đó là điều không tưởng, không
phải như thật, cũng là vọng tưởng; ba, đó là mê ngủ nói
mớ nên mới có những lời đại ngôn như thế. Theo tôi, với
những cư sĩ tu hành như chúng ta, thì, trăm ngàn vạn lần
chưa xong, chưa thể gọi là xong, là giải thoát hoàn toàn được.
Bỡi
cớ sao? Giả sử lời nói ấy nếu đặt vào miệng của các
Thiền sư đắc pháp (mà phải là thời xa xưa kìa, chứ
bây giờ thì thiệt ra cũng hiếm lắm, chỉ đếm được trên
hai bàn tay) đã sạch hết lậu hoặc, một chút nhiễm ô
vi tế cũng không còn, thì ta có thể tin là "xong" được. Chứ
với những hàng tu Phật tại gia như chúng ta ngày nay, lòng
từ nhỏ nhoi còn chưa bộc phát, (nói nhỏ nhoi là nói quá
sức nhỏ sánh với tứ vô lượng tâm của chư Phật và mười
phương Bồ tát đắc giải thoát môn), còn sống trong mê
nhiều hơn lúc tỉnh, còn biết ăn ngon ngũ kỹ, còn biết "có
mình đã xong" thì làm sao gọi là xong, là giải thoát được.
Đến các bậc chứng một trong tứ thánh quả của Tiểu thừa,
từ Tu-đà-hoàn cho đến A-la hán, khi còn biết mình đắc quả
thì ngay cái chỗ "biết" ấy đã trói buộc với tứ tướng
rồi, vì chỗ biết này cũng là một cái tên gọi khác của
vọng thức nhơn quả, là nghiệp tội vô minh, huống là những
người như chúng ta.
Tại
sao ở đây lại đem cái lòng từ nhỏ nhoi của chúng ta sánh
với tứ vô lượng tâm của Bồ tát? Đó là vì, cái việc
tu hành của chúng ta mà còn giới hạn chỉ trong chính chúng
ta thì đó chưa phải là giải thoát rốt ráo. Chỉ khi nào
cái tâm tu của ta quảng đại, vượt quá không ngằn mé, thương
khắp chúng sanh, coi cái khổ sanh tử, phiền não của chúng
sanh cũng là cái khổ của chính mình, tu cho mình mà cũng là
tu vì chúng sanh trong cái tâm từ vô lượng, vô biên, bất
khả thuyết, bất khả tư nghì, thì mới gọi là cái tâm "xong"
rốt ráo.
Nghĩa
là, dù cho anh có sáng tỏ được tánh biết cũng là ánh sáng
giải thoát, mà đem ánh sáng ấy so với tâm lượng giải thoát
của hàng Bồ-tát giải thoát môn, thì cái chỗ biết kia của
anh cũng chỉ nho nhoi như một áng mây lành so với cả bầu
trời trong veo, tịch lặng.
Chỗ
"xong" của người đó hiện giờ cùng lắm cũng mới chỉ là
có được một thân tâm thư thái, tỉnh táo, an ổn, vô ưu,
diệu lạc nhờ sống vô phân biệt, không dính dấp nhiều
tới chuyện trần thế, không tạo thêm nghiệp báo (cả nghiệp
lành lẫn nghiệp dữ), không lầm nhơn quả, cũng như do được
hưởng nhiều phúc đức nhờ nhân lành đã gieo và đang gieo,
chứ đối với chủng tử vi tế của thức biết câu hữu
vô minh thì chúng sanh đời này khó bề chỉ mới kiến tánh
mà đã thành Phật ngay, nếu ngay lúc này đây không lo tẩy
trừ các lậu hoặc, cũng như các tập nhiễm vi tế khác.
Chư
Tổ thật có nói rằng, kiến tánh thì thành Phật. Hoặc nói,
chợt kiến tánh thì nhìn lại tội phước liền tiêu. Theo
lý mà nói thì lời chư Tổ ở trên cũng là chân lý, đúng
đắng trăm phần, vì nhờ công đức tu hành mà các Ngài chứng
nhập cái lý ấy một cách tròn trịa, rốt ráo, nên mới nói
như thế.
Các
Ngài nói là một chuyện, còn việc tu hành của chúng ta có
được trăm phần như các Ngài hay không lại là một việc
khác. Nghĩa là, với các Ngài, chợt kiến tánh thì liền sạch
tội sạch phước, vì theo lý, vô minh tan biến thì liền biết
như thật, thật tánh của tội phước cũng là không. Thế
nhưng ta cũng phải nương theo lý mà hỏi ngược lại, rằng
chỗ ngộ tánh của người bạn đạo kia có triệt để hoàn
toàn chưa, có "rốt ráo không ta" (vô ngã rốt ráo) chưa,
để thấy biết một cách chân thật tất thảy đều
không mới là điều đáng nói, đáng bàn. Nếu ai đó
tự cho mình là xong, là ngộ tánh triệt để (triệt ngộ
rốt ráo), hoàn toàn lìa tứ tướng, thì chắc rằng đó
là vị thánh sống trong đời này và ở đây ta không cần
phải bàn nữa.
Còn
nếu chưa được rốt ráo như thánh sống thì người ấy cũng
nên biết tự nhìn vào mình xem có còn cái tâm chấp mà mình
chưa phát hiện ra được hay không vì, hoặc là nó quá vi tế
nên không thể nhận biết, hoặc là mình còn đang trong chiêm
bao nói mớ, để không còn nói "xong" nữa, kẻo làm rối loạn
tâm tu của những người khác.
Hoặc
như trong các kinh có nói, hễ sám hối xong là tội phước
đều tiêu, liền thành Phật ngay. Thật ra, đó cũng chỉ là
một cách nói, một phương tiện dạy người, như lập ra hoá
thành để khéo dỗ dành người ta gắng sức tu hành mà đến
bờ kia vậy.
Không
làm gì có chuyện dễ dàng như mấy ông bạn của anh nói đâu.
Nếu cứ tu hành đến chỗ kiến tánh thì liền thành Phật
ngay trong đời này, thì hồ dễ từ thời Đạt-ma Tổ sư Đông
độ đến nay ắc phải có rất nhiều vị thành Phật phải
ghi trong Phật sử ? Tôi không tin chuyện "xong" dễ dàng như
thế.
Cũng
do tưởng mình đã xong, đã đắc pháp, trong khi tánh biết
chưa thật sáng suốt, còn cái chỗ chấp ngã chấp pháp
vi tế mà tự thân không nhận ra là đã có chấp, cũng như
do ngã mạn tự coi mình đã thành Thánh, thành Phật nên trong
thời gian qua mới xảy ra những quái thai trong đạo Phật khi
có người tự xưng là Phật này, Thánh nọ. Thậm chí có người
còn tự tôn mình là bậc thầy cao ngất không ai bằng, lại
cũng có người đem miệng lưỡi của kiến giải sanh
diệt ra lý luận thấp cao phải trái, rồi phủ nhận
tất cả kinh điển Đại thừa, phủ nhận các vị Tổ Thiền-tông,
làm rối loạn nhân tâm, huỷ Phật báng pháp, thật tội lỗi
vô cùng.
Ngày
xưa, Nhị tổ Huệ khả là bậc đại từ bi, đại trí tuệ,
giữ 250 giới vẹn tròn, suốt một đời tận tuỵ vì Phật
đạo, mà trước khi vào tịch diệt còn phải đem thân cho
người ta đâm chém tới chết mà đền nợ tiền sanh; Tổ
Sư tử, vị tổ thứ 24 của Thiền tông Thiên trúc, trước
khi nhập diệt còn phải đưa đầu cho người ta chém bay để
được sạch nợ đã vay; Tôn giả Mục-kiền-liên ngay trong
thời chánh pháp Phật, còn phải bị người đâm chém tới
chết hầu trả hết sạch nghiệp mà giải thoát, huống là
chúng sanh trong đời mạt pháp đầy nhiễm ô, trọng trược
này, chưa gì đã nói xong. Đâu có thể dễ gì giải thoát
chóng vánh như vậy khi mà nghiệp thức vô minh có biết hay
không biết, có nhớ hay không nhớ, có nghi hay không nghi vẫn
còn phải oằn vai mang gánh vì đang mê mờ trong nhơn quả.
Làm sao chúng ta có thể so sánh chỗ tu hành của mình với
các Thiền-sư đắc pháp được, nên cũng đừng chấp vào
ngôn ngữ, văn tự dạy người của các Ngài, mà phải biết
hiểu vượt lên trên nó, phải tự chính mình biết rõ có
hay không có, còn hay không còn tội phước đang đeo mang mới
là điều đáng nói, đáng bàn. Thật sự thấy tánh mới chỉ
là thành công bước đầu trong đời tu học, mới chỉ không
lầm nhơn quả, mới chỉ tự sáng mắt biết thế nào là tội
vô minh, chỉ mới biết đường đi tiếp mà không sợ bị
lạc trên con đường mà mình đã từng theo đuổi, để được
tự lợi lợi tha, cho đến cứu cánh vô sanh.
Đọc
Thiền-sử Trung-hoa kể về các vị đắc pháp ngày xưa có
nói : các Thiền-sinh sau khi được điểm nhãn, được sáng
tánh biết, thường rời lìa Thiền-đường, bỏ chốn ồn
ào náo nhiệt, tìm vào hang sâu, hay núi cao, hoặc những nơi
tịch tĩnh ít người lui tới để tiếp tục tu hành. Tại
những chốn này, có thể trong nhiều chục năm trời, các vị
ấy sống đồng với thiên nhiên, một mình soi rọi thân tâm,
tẩy trừ lậu hoặc cho đến khi tự thấy thân tâm trọn thanh
tịnh, mới xuống núi giáo hoá, cứu độ chúng sanh.
Tại
sao như vậy? Bỡi vì đối với các Ngài, về lý, các Ngài
đã thể nhập bổn tánh chơn thường tự tại, nhưng về sự
ở trước mắt thì các Ngài còn phải mất hàng chục hay nhiều
chục năm nữa để tiệm tu khiến cho cái cái chỗ lý nhập
kia dung thông vô ngại lên mọi sự, vượt quá thời không,
thì chỗ tu hành ấy mới có thể gọi là hoàn mỹ.
Còn
những người cư sĩ tại gia như chúng ta ngày nay thì sao? Chỉ
vừa mới sáng cái biết một chút đã vội khởi tâm cao ngạo
ngã mạn, chấp trước lên chữ nghĩa của người xưa mà không
biết rằng mình đã chấp, nào là bản thể xưa nay vốn luôn
như vậy không cần tu không cần chứng, nào là kiến tánh
thì thành Phật ngay, nào là không chay không mặn, Phật chẳng
cần làm ta, ta chẳng cần làm Phật (dẫn câu chuyện của
Tuệ-Trung Thượng-sĩ ra làm chứng vv….và vv). Những người
ấy đâu biết rằng cái tâm họ chứa "chấp" không còn chỗ
chứa mà cứ nghĩ, cứ nói là mình vô chấp, vô ngã, là thành
thánh rồi không bằng. Làm sao những người tu Phật tại gia
như chúng ta ngày nay có được cái thấy biết hoàn toàn vô
ngã như ngài Tuệ-Trung Thượng-sĩ mà dám bắt chước Ngài
lớn giọng như thế. Thật tội lỗi vô cùng.
Các
bậc thánh trí mà còn phải tiệm tu hàng nhiều chục năm sau
khi đã được điểm nhãn mà chưa dám cho mình đã xong, huống
là trong đời mạt pháp đen đúa này, có ai trong chúng ta làm
được như các Ngài đâu mà nói "xong" dễ dàng như vậy ?.
Tôi
nhớ không lầm có một chuyện vui trong rừng thiền.
Một
vị tú tài mà cũng là cư sĩ tại gia đến hỏi Thiền sư
Trí tạng Tây-đường : Bạch Hòa thượng, có thiên đường,
có địa ngục không?
Ngài
Trí tạng trả lời : Có !
Vị
cư sĩ cãi lại : Không đúng, không đúng. Tôi đã từng tham
hỏi Hoà-thượng Kính-sơn nhiều lần, thì ngài Kính sơn đều
bảo là không, không có thiên đường địa ngục gì cả .
Hoà
thượng Tây đường hỏi lại : Thế ông có vợ, có con không
?
Cư
sĩ đáp : Có. Một vợ hai con.
Tây
đường lại hỏi : Thế Hoà thượng Kính-sơn có vợ có con
không ?
Cư
sĩ đáp : Không. Ông ta xuất gia tu hành cầu thành Phật thì
làm gì có vợ con !
Tây-đường
nói : Vì hoà thượng Kính-sơn không có vợ con, nên mới nói
là không. Vì ông có vợ con nên ta mới nói là có.
Chừng nào ông được như Kính-sơn kia thì khi ấy tất thảy
mới đều "KHÔNG". A di đà Phật !
Thứ
Ba : Anh nói anh có pháp tu của riêng anh.
Trong
thư anh có nói với tôi rằng : "Nói thật với N.B là tôi
có pháp tu của riêng tôi. Pháp ấy là từ sự tổng hợp
giáo lý của các kinh luận, cùng sự chỉ dẫn của các đạo
hữu chứ không có được Bổn-sư và Pháp sư dẫn dắt như
ở N.B". Hoặc anh nói rằng, anh luôn hành trì tinh tấn,
không lúc nào là không công phu thiền định.
Tôi
biết về anh rất rõ cũng như dám khẳng định là anh đã
đi đúng đường, thích hợp với căn cơ của riêng mình, và
tôi thật lòng mong anh cứ nên như thế mà dấn thân đến
bước cuối cùng. Việc anh nhận thật cái điều mà rất ít
người trong anh em bạn hữu chúng ta can đảm thừa nhận, rằng
"Pháp của tôi là từ sự tổng hợp giáo lý của các kinh
luận, cùng sự chỉ dẫn của các đạo hữu", là vì người
ta chối bỏ chính mình, cho rằng mình tu theo Thiền-tông thay
vì sự thật là tu theo sự tổng hợp giáo lý của các kinh
điển như anh đã làm. Nghĩa là, rất nhiều bạn bè bên cạnh
chúng ta ham thích Thiền Tông (vì họ đều là những người
trí thức) tự nhận mình là người của Thiền tông,
nhưng thật ra, tự thân họ trong chỗ tiếp nhận và thực
hành pháp môn trực chỉ thì rất ít có điều can hệ tới
Tông môn này. Nghĩa là sao? Là trong việc tu học, một sự
thật hiển nhiên là, ai trong chúng ta bước đầu cũng đều
tự mày mò nghiên cứu, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm tu
tập thông qua gíao lý của đức Phật hay ngữ lục của chư
Tổ. Bên cạnh đó, chúng ta thường học hỏi lẫn nhau, rất
giống như anh đã bộc bạch ở trên chứ không nhất thiết
được khai thị bằng "mặt đối mặt" trực tiếp với các
Thiền-sư, hay đả thất, hành tham thoại đầu Tổ-sư Thiền
trong các Thiền-đường có các Thiền-sư trực tiếp dẫn dắt.
Đa phần chúng ta tự nghiên cứu học hỏi trên tinh thần của
Giáo-tông là chính, nhưng cũng không thể phủ nhận vẫn có
một một vài trường hợp ngoại lệ, là cũng có người may
mắn hơn, được trực tiếp tham vấn, học hỏi ở các Thiền-sư,
nhờ đó trí huệ sáng dần lên. Ở đây tôi không phân biệt
Tông hay Giáo gì cả, vì tu học Pháp môn nào, theo Tông-phái
nào cũng đều tốt, bỡi tuỳ căn cơ phước đức của từng
người mà có chỗ trạch pháp thích hợp. Tuy nhiên, với cái
học như chúng ta vừa đề cập ở trên thì không thể cho
đó là Thiền tông, để rồi hễ có chút sáng thì liền tự
coi mình là người tu theo Không-pháp cũng là Chánh-pháp Nhãn
tạng của đức Phật, nghĩ ngay là đã kiến tánh (mặc
dù chưa phải là đốn ngộ bản thể, nghĩa là chỉ mới sáng
bổn tâm, chứ chưa thật tỏ rõ bổn tánh, chưa thấu suốt,
chưa tự một với nguồn tâm). Thậm chí có người cho
rằng mình đã "xong", đã giải thoát hoặc nghĩ
tưởng đã thành Phật ngay trong đời này như họ đã chấp
lên chữ nghĩa của Tông chỉ Bồ-đề Đạt-ma (thấy Tánh
thành Phật). Thậm chí có người còn mạnh mẽ tuyên bố
và chê bai người khác rằng, ông theo Giáo tông thì biết đến
trăm đời ngàn kiếp nào mới có thể thành Phật được?
Nói như thế là ta hoàn toàn không biết gì về hai chữ "nhơn
duyên" của nhà Phật; nói như thế là do ta còn nặng chấp
ngã chấp pháp, mà không tự biết rằng mình có chỗ chấp
vì đang tự trôi chảy trong dòng tâm thức mờ mịt của vô
minh. Nói như thế là do ta chưa tỉnh mộng nhân quả, quên
mất trước mỏ ác hiện hữu một kho tàng trí huệ khổng
lồ của Tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo do chính
đức Phật và những bậc đệ tử A-la-hán của Ngài để
lại, mà nếu không có nó, làm gì ta được mở trí như hôm
nay.
Thật
ra, Giáo hay Tông cũng đều là Phật pháp cả, sao lại khởi
phân biệt rằng theo Giáo thì khó bề thành Phật mà theo Tông
thì mới thành Phật được. Tuỳ căn cơ, duyên phước, trí
tuệ thấp cao của từng người mà Phật dùng tất thảy các
phương tiện thiện xảo để chỉ cho chúng sanh biết đường
ngộ nhập Phật tri kiến, mà nói có Tam thừa. Chứ chung qui
cũng chỉ Nhất thừa, cũng là Phật thừa. Mà nói Phật thừa
cũng chỉ là giả danh, là phương tiện tạm mượn như mượn
tay chỉ trăng; chỗ cùng tột của các pháp thì rốt ráo không
một pháp nào, không một thừa nào. Nên hễ còn nhận ra có
một chút pháp để được tức là không phải Phật pháp,
mà đó là pháp theo đường ma, lối quỉ. Phải biết 49 năm
Phật thuyết hằng vạn pháp môn, nhưng vừa thuyết xong thì
Phật cũng phủ nhận ngay rằng đó cũng chỉ là phương tiện
quyền biến giả lập để chỉ cho chúng sanh trực ngộ bổn
tánh, như mượn tay chỉ trăng, mượn bè để qua sông mà thôi.
Đã biết thế thì sao lại vọng khởi phân biệt cho rằng
chỉ có Tông mới thành Phật mà Giáo thì không thành. Lại
nữa, nếu nói tu Tông dễ thành Phật, vậy thử hỏi trong
anh em chúng ta có ai dám đứng ra tự nhận mình là người
của Thiền tông chân truyền và đã lọt vào cữa Tổ?
Tôi
rất tâm đắc với câu nói chơn thật của anh ở trên. Không
có thầy trực tiếp dẫn dắt mà anh được như thế (tức
những gì tôi biết rõ về anh qua trực tiếp trao đổi, nói
chuyện, qua thư từ, cũng như biết việc thực hành
công phu của anh) thì cả lý nhập và hạnh nhập, anh đều
gần trọn đủ. Bốn nguyên tắc cơ bản phải thực hành của
người tu Phật không phân biệt là tại gia hay xuất gia, đó
là Giáo-Lý-Hạnh-Quả (ở đây tôi không
đề cập gì tới Tông hay Giáo mà chỉ nói chung về việc
tu Phật mà thôi) thì anh đã được 3 phần tự chủ, còn
lại phần cuối đó là công đức cuối cùng, cũng là cái
quả (ở đây tôi không có ý chỉ về quả vị
trong tứ thánh quả) tức là cái quả tất yếu của sự
tu hành là tự chứng giải thoát.
Con
đường anh đã đi như thế, và nếu có thể cho phát biểu,
thì theo chỗ hiểu biết cạn cợt của tôi, tôi cho là đúng
hướng, là hợp với căn cơ phước đức của riêng anh. Còn
việc anh nói, "mỗi khi bày tỏ chỗ thấy biết của mình
thì thường bị anh em bạn đạo phê bình, không chấp nhận"
thì mong anh hãy nên quên điều ấy đi, cứ coi như gió thoảng
mây bay, chẳng gì dính dấp tới chỗ thật trong anh. Bỡi cớ
sao? Bỡi những gì nói ra được, như tôi đang nói với anh
đây từ đầu thư tới giờ, cũng chỉ là chỗ hai ta đang
trong chiêm bao và tôi đang nói mớ với anh mà thôi, có dính
dấp gì tới cái chỗ chơn thật của anh hay của tôi đâu
mà anh phải nhọc tâm lo được chấp nhận hay không được
người khác chấp nhận. Anh tự hiểu đường đi nước bước
của anh đúng hướng là được rồi. Nay có tôi "hoạ" thêm
một tiếng "đúng hướng" nữa thì anh cứ thế mà tiến. Bốn
con mắt không bị mù chột đương nhiên phải ít nhìn lầm
hơn hai con mắt chứ, phải không anh. Mình tự biết mình, tự
tin mình và tuỳ duyên như pháp mà hành trì là tốt rồi.
Nếu
không lầm thì trong một thư trước tôi có khuyên anh đừng
tự ràng buộc mình là người theo Giáo hay Tông, cũng chính
là ý đó. Có thể, với những cư sĩ tại gia như chúng ta,
thì theo tôi, chúng ta đang tu cả Giáo lẫn Tông như người
ta thường đề cập, là Thiền-Giáo song tu cũng nên? Cũng có
thể là như vậy chăng? Theo tôi thì nói sao cũng được miễn
là mượn được giáo pháp của Như-lai và ngữ-lục chư Tổ
để có thể làm sáng được tánh biết bổn lai thì thành
công bước đầu, không lầm nhơn quả, biết pháp khổ là
không, sáng tỏ lối đi nẻo về để tuỳ duyên hành Bồ tát
đạo, cứu độ chúng sanh như đại nguyện khi xưa là được
rồi.
Lại
nữa, theo tôi nhận thấy, chỉ mỗi một việc là tuổi anh
đã cao, sức đã yếu mà từ hàng chục năm nay cho tới bây
giờ còn ráng ngồi viết các ngữ lục của chư Tổ cũng như
những lời dạy của đức Phật trong các bộ kinh Đại thừa
mà anh tâm đắc, rồi dùng tiền mà các con cháu cho anh tiêu
vặt để phô-tô cô-py ra thành nhiều tập rồi tặng cho anh
em bạn đạo. Theo tôi, việc làm đó nếu không phải là hạnh
lành cứu độ của Bồ-tát-đạo, không phải là công đức
trợ đạo trong đời này, thì phải nên gọi là gì đây?
Rồi
sẽ có một lúc nào đó anh choàng tỉnh và nhớ ra, à, duyên
đến đi trong các cõi nhơn quả đều xuất sanh từ đại nguyện
lâu xa trong tánh biết tuyệt đối; chỉ vì tập nhiễm
vô minh trong đời này và nhiều đời trước chập chùng như
những con sóng trên đại hải mênh mông đã làm mình quên
hết đường đi nẻo về. Giờ đến lúc tròn duyên, bất chợt
nhớ ra, cười khà nhẹ nhỏm, quên cả sống chết là gì !
Thứ
Tư : Anh hỏi về kinh nghiệm tu trì của tôi.
Xin
nói trước là, trả lời câu hỏi của anh ắc phải đụng
chạm đến cái tôi của tôi, nếu có ai đó khởi tâm chấp
trước. Còn cái tiếng tôi đó có thật là của tôi hay không
thì chỉ có riêng tôi biết .
Anh
Tâm-Như thân mến.
Anh
em mình trước đây từng sống gần gũi bên nhau nên đương
nhiên là anh biết rất rõ về gia đình tôi rồi. Ông cha tôi
không có ai theo Phật, ngược lại chịu ảnh hưởng sâu đậm
triết giáo học làm người của Khổng-Mạnh, nên với tôi,
đứa con trai độc nhất của gia đình, dĩ nhiên là không thể
ra ngoài cái vòng lễ giáo ấy. Chỉ có mẹ tôi là theo Phật,
bà qui y từ thuở trung niên. Và có lẽ nhờ lúc nhỏ được
ông cha uốn nắn để thích nghi cho khuôn mẫu làm người theo
Triết-giáo "nhập-thế" của Khổng-Mạnh, lớn lên lại ham
chuộng cái tư tưởng "xuất thế" để trở về lại cội
nguồn theo tinh thần "phản phục" của Lão-Trang sau một thời
gian dài đọc và nghiên cứu Đạo-đức kinh cùng Nam-hoa kinh,
trong đó không biết tại sao lúc nào tôi cũng thấy lảng-vảng
một bóng hình của nghiệp thức trả vay, nhơn quả. Tuy
vậy hơn nửa cuộc đời tôi vẫn chưa thực sự có được
một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho riêng mình. Từ tuổi
bốn mươi chín trở về trước, thân tâm tôi chẳng khác như
người lữ khách lang thang vô định trên dặm dài cát bụi,
chỉ biết ngày ngày bương chải để tìm cái sống trước
mắt mà thôi. Còn nội tâm thì thường ray rứt, xung đột
vì chỗ phức tạp của cuộc sống nhị nguyên, bỡi thấy
trong cái thiện luôn luôn sẵn chứa mầm ác, trong cái ác vẫn
sẵn chứa cái mầm thiện, cũng là cái lẽ tương đối và
tự nhiên như nhiên ắc phải như thế trong Dịch lý. Cho nên
có đôi lúc tôi cảm thấy thất vọng cho chính mình vì không
thể giải quyết được những xung đột của nội tâm, vì
lúc nào cũng có hai con người cùng chi phối trong ta, một con
người thiện và một con người ác, nhưng cả hai đều tác
động mạõnh mẽ và ảnh hưởng đối đầu trực tiếp như
nhau trong cuộc sống.
Thí
như thấy con rắn độc nửa muốn giết, nửa muốn không,
vì không dứt khoát.
Bỡi
biết con rắn ấy có thể cắn chết người, nhưng nếu mình
giết nó thì lại sợ tội báo riêng mang, mà không giết nó
thì hình ảnh cái con người quằn quại rồi tắt thở do bị
nó cắn, cứ chờn vờn trước mắt. Hoặc chỉ cần làm ngơ
như không biết để không trả lại tiền cho người đưa nhầm
thì chắc chắn các con mình sẽ có được một bữa ăn ngon,
và lòng mình sẽ vui sướng biết bao khi thấy con mình no nê,
vui vẻ hơn mọi ngày. Thế nhưng tức khắc ngay đó, hình bóng
thẫn thờ như mất hồn của cái người đưa nhầm tiền hiện
ra trước mắt, nên liền tiếc cho các con không có được
một bữa ăn ngon, đồng thời lại nhận được cái nụ cười
vui sướng và tràn đầy biết ơn của người kia. Cái thiện
và cái ác, cái vui và cái buồn vv…và vv…tức những cái
tương đối, luôn theo đuổi nhau. Đó chính là cái lẽ âm
dương tương sanh, tương diệt của Dịch lý và cũng là cái
lẽ nhị nguyên sanh diệt trong cảnh giới nhơn quả theo Phật
lý. Do xung đột nội tâm, lại không có cách giải quyết rốt
ráo, đôi lúc tôi muốn buông tay đến đâu thì đến, vì trước
mắt mịt mờ, không biết đâu là chân lý của cuộc đời,
không biết đâu là quê xưa, không biết đâu là nẻo về chốn
cũ mà từ đó mình đã ra đây, để có thể định hướng
mà biết chỗ dừng bước an thân. Mãi đến khi tròn năm mươi
tuổi, được gặp duyên lành, tôi mới qui y Tam-Bảo. Đến
lúc này, hoảng hốt ngoảnh đầu nhìn lại cuộc trần đã
đi qua, thấy thời gian còn lại quá eo hẹp, mà hình dung con
đường đạo phía trước thì xa thẳm mịt mù, tâm trạng
dấn thân đến với đạo thì lại như giục giã, cấp bách,
nên mới đặt hết lòng tin tưởng vào Pháp-sư, và y cứ theo
lời Thầy dạy, nhứt tâm hành trì kinh Kim-Cang Bát-nhã Ba-la-mật
không phút giây chễnh mãn. Lúc nào tâm ý tôi cũng hướng
vào chỗ Phật chỉ trong kinh mà tự soi rọi, tìm tòi ở chính
tâm mình. Bên cạnh đó, vâng lời Thầy, thi thiết tham học
đoạn công án này, rằng, trước khi cha mẹ còn chưa
sanh, thì ta ra sao?
Tôi
về nhà tự chế ý tứ trên thành hai câu thơ lục bát mà
tham ngày tham đêm.
Trước
khi cha mẹ chưa sinh,
Bổn
lai diện mục của mình ra sao?
Thế
là ròng rã trong mấy năm trời, không màn thế sự, trai tịnh
hoàn toàn, vừa tụng kinh Kim-Cang Bát-nhã, vừa đào sâu nghiên
cứu chỗ tâm ý đức Phật muốn chỉ thẳng trong kinh, vừa
ngày đêm tham hỏi công án tới chỗ thế trí mịt mù, ăn
cơm cứ và lên mũi, mắt mở trừng trừng giữa ban ngày mà
đi cứ tông bàn đụng ghế, người trong nhà cần nói với
thì phải xách tai hét to hồi lâu mới hiểu. Cứ thế mà ròng
rã đánh vật với nó mấy năm trời, trước mắt như một
khoảng rỗng không nhưng tối đen, mù mịt. Một hôm ra thăm
Thầy, tâm trí đang vần vũ với cái cảnh ở hội Linh-sơn,
ngoại đạo dâng hoa vấn Phật, cũng là một công án Thiền.
Phật
dạy ngoại đạo : - Buông hoa xuống.
Ngoại
đạo buông hoa!
Phật
dạy tiếp : - Buông tay xuống.
Ngoại
đạo buông tay !
Phật
dạy tiếp : - Buông thân xuống.
Ngoại
đạo lừng khừng không quyết.
Phật
dạy tiếp : -Không buông thì gánh nó lên.
Ngay
đó ngoại đạo hốt nhiên đại ngộ !
Chỗ
nghi của tôi từ lâu được chú tâm đặt vào công án này.
Và trong lúc tâm trí tôi cũng lừng khừng, mù mịt như kẻ
ngoại đạo kia trong hội Linh-sơn (do tôi vừa đi vừa tham)
thì trước mắt tôi, bóng dáng thầy đứng bất động xem
hoa ở đằng xa đã làm tôi sực tỉnh. Tôi té ngồi xuống
đất; trước mắt tôi cái thấy biết hốt nhiên rộng lớn
không chỗ dừng, không còn chỗ phân biệt không gian mà là
xuyên suốt, bao trùm và thời gian thì hoàn toàn bình đẳng,
tịch tĩnh, lặng yên, ngừng đọng, không trôi chảy. Hư không
rộng lớn mênh mông mà tưởng chừng không chỗ nào mắt mình
không hiện diện, hay nói đúng hơn cái thấy của mắt là
cái thấy toàn thể, chỉ "một thấy" trong "tất cả toàn-thể"
mà thôi. Không biết bao lâu, tôi tĩnh trí, đứng dậy,
tưởng như một sát na trước, mình là cái cột đá bê tông,
vô tri thức. Sau đó tôi nghiệm lại cái thấy bằng con
mắt thứ hai chợt vừa mới mở này, nó cùng con mắt thường
dung thông nhau, vô ngại nhau, láy đi láy lại, thử nghiệm
nhiều lần và tôi vui mừng tự hỏi đó có phải là con mắt
đạo chăng? Tôi vào trình thầy mọi diễn tiến tâm linh. Thầy
chăm chú lắng nghe. Sau đó, Thầy vui mừng dạy, được rồi,
từ nay ông hãy sống với chính nó, đừng lìa nó.
Tôi
lấy những công án thiền mà trước đây tôi cho là khó ra
đọc, đem những bộ kinh Viên giác, Duy ma, Kim-Cang, Niết bàn….vv
mà trước đây không hiểu nổi, ra xem lại. Và một điều
thật không ngờ, tôi khám phá ra những công án kia đều là
những lời nói, những cử chỉ, hành động hoàn toàn chân
thật, là điều "tất nhiên phải là" như thế, mà trước
đây do mình chỉ có con mắt bình thường với cái tâm hễ
chợt thấy, chợt nghe là phân biệt, biện luận, cân đong,
đo đếm theo khái niệm đúng sai, phải trái, có không, tốt
xấu cột buộc nhị nguyên từ nhiều đời, nhiều kiếp lâu
xa, nên mới không thể hiểu được tâm ý các Ngài. Tôi
biết, do trước đây mình không có được con mắt để thấy
biết như các Ngài nên mới cho những lời chân thật kia là
những công án khó, những lời nói, những hành động dở
hơi, hay như nhiều người còn cho là quái dị nữa vv….,
Cũng
như với những bộ kinh Đại thừa, sau đó đọc đâu rõ đó,
tất cả chỉ gom về một mối là mượn tay chỉ trăng, thấy
trăng rồi liền nên quên tay, vì tất thảy đều không ngoài
phương tiện thiện xảo mà chư Phật muốn ẩn dụ để dắt
người thâm nhập Phật tri kiến. Chỉ có điều, vì căn cơ,
duyên phước của chúng sanh thấp cao, ngu trí, tội phước
khác nhau, sống trong từng thời và điểm khác nhau mà mới
có ba thừa giáo pháp, có đốn ngộ tiệm ngộ khác nhau, chứ
chỗ cần mở và đích tới chỉ một, đó là ngộ nhập Phật
tri kiến.
Tôi
khám phá ra một điều nữa, là từ đây, nếu tôi không khởi
niệm một niệm phân biệt thì mọi hành động, ngôn ngữ
thường nhựt liền cùng đạo tương ưng, những gì nói ra
không lìa tự tánh đều trở thành công án, vì không chấp
trước, cột buộc vào khái niệm nhị nguyên, nhơn quả phân
biệt. Nghĩa là cứ sống tự nhiên như nhiên mà không khởi
tâm hệ luỵ khái niệm, không khởi vọng tưởng hay phân biệt
chấp trước, thì mọi điều xảy ra trong tâm mà cũng là trước
mắt mình, đều chân thật cả.
Nay
anh đã tin tưởng cái bụng tôi mà hỏi, tôi vì Phật tâm
này mà nói. Thời giờ cấp bách lắm rồi, anh không nên bỏ
công sức để nghiên cứu kinh này điển nọ nữa. Tri kiến
giải thoát thật ra đã quá đầy đủ trong anh, đã đưa anh
lại gần, mấp mé cái cữa không cữa của Thiền học. Bây
giờ anh chỉ cần dùng một công án nào đó, càng thật khó
càng tốt mà trì mài tham hỏi để giải thoát khỏi hết những
tri kiến giải thoát kia, thì liền tự thăng hoa. Nghĩa là mượn
việc tham hỏi để mài mòn thế trí, tức làm triệt tiêu
tri thức phân biệt hệ lụy khái niệm nhị nguyên, cũng là
nghiệp thức vô minh. Đập bể nát nó cũng có nghĩa là tự
bùng vỡ cái ánh sáng chơn thật của tánh thấy biết vô phân
biệt, cũng là con mắt đạo học bừng sáng ra vậy. Đó là
kinh nghiệm của chính bản thân tôi đã từng trì mài, mà
ở đây tôi thấy căn duyên, trí tuệ và phúc đức của anh
em ta đối với con đường đạo học có nhiều chỗ giống
nhau. Thật ra, mở được con mắt thứ hai này chẳng phải
là xong việc, chí ít là đối với tôi, điều ấy cũng chỉ
là sự bắt đầu trên con đường thực hành Bồ-tát đạo,
cũng là cách để đền ơn ba đời chư Phật vậy.
Cuối
cùng, về định nghĩa của hai chữ vô minh. Theo tôi, dùng tri
thức, chữ nghĩa để định nghĩa vô minh thế nào cũng được,
vì sách vở đã có sẵn, và tuỳ trí tuệ căn cơ của từng
người tự hiểu về nó. Riêng tôi, vô minh chính là cái tập
mà từ thuở vừa mới sinh mình đã nhiễm (chỉ nói trong hiện
đời mà không cần đề cập tới quá khứ xa xôi vô lượng
kiếp trước làm gì) cộng thêm sự học tập và kinh nghiệm
"phân biệt" theo thế trí, cân đong đo đếm trói buộc nhị
nguyên nhơn quả, càng làm cho cái biết của tri thức càng
cao dày thêm lên, càng che lấp thâm sâu cái tánh biết tự
nhiên vô phân biệt luôn tự sẵn có trong từng mỗi chúng
sinh. Đó là tự tôi trải nghiệm mà thấy thế. Còn định
nghĩa này trúng hay sai tôi không cần biết, chỉ biết đó
là chỗ tự tâm khám phá và thể nghiệm. Với tôi, hễ mài
cùn mòn được cái thấy biết thứ nhất, tức cái biết mà
hễ chợt thấy, chợt nghe là phân biệt, thì cái biết thứ
hai ắc sẽ lộ diện.
Đó
là kinh nghiệm của riêng tôi trên con đường cầu học, có
thể sẽ rất khác với nhiều người. Vả lại Phật pháp
có hằng vạn pháp môn, mà pháp tôi học cũng chỉ là một
pháp trong hằng vạn diệu pháp của Như-lai. Lại nữa, tất
thảy pháp đó còn tuỳ thuộc vào một chữ "duyên" đối với
mỗi người nữa, chứ chẳng phải pháp nào hay hơn pháp nào.
Nếu
anh thấy những gì tôi trình bày có chỗ tương hợp, có thể
tin tưởng được, cũng như có thể thực hành được thì
cứ thử nghiệm một lần xem sao, biết đâu, may ra có duyên
với nó.
Chúc
anh hữu duyên chóng được pháp lạc. Thân kính. NB.