Cảm
nghĩ:
Đọc
xong những câu chuyện của các phụ nữ ở Hoa Kỳ và kinh
nghiệm của các vị đối với đạo Phật, chúng tôi đã rất
hoan hỷ và xúc động trước những nhận thức sâu xa của
họ về cuộc sống, con người và môi trường chung quanh...
Những
lời dạy của đức Phật vừa nhiệm màu vừa thực tiễn
đến làm sao! Những lời giảng dạy ấy đã chữa lành,
loại bỏ những khổ đau và đem lại sự bình an, hạnh phúc
đến hàng vạn con người trong nhiều thế kỷ qua.
Sau
đây là các câu chuyện của những phụ nữ người Hoa Kỳ
từ các nguồn gốc khắp nơi trên thế giới. Những
câu chuyện về hạnh phúc và sự sống trong tỉnh thức của
họ qua sự tu tập và trở về với Đạo Phật.
Chúng
tôi xin hân hạnh giới thiệu và chia xẻ cùng bạn đọc.
Chương
1
Lòng
Từ Bi Trong Thời Đại Xa Lánh
Tất
cả những ai đã sống tại Los Angles trong thời kỳ bạo động
năm 1982, chắc sẽ nhớ về sự xa lánh, ngờ vực, giận dữ,
chán nản và sợ hãi khủng khiếp trong cộng dồng và mọi
tầng lớp xã hội.
Sự
chán nản đã đóng một vai trò chính trong kinh nghiệm này:
noí rõ hơn đó là một niềm tuyệt vọng, một sự khủng
hoảng khôn cùng trong hiện tại và lo âu về sau.
Tuy
nhiên, sau các cuộc bạo động và sau khi đã trải qua nhiều
suy tư lẫn bàn luận với bạn bè, tôi tin chắc rằng các
nguyên tắc về sự hòa giải không những có thể chỉ áp
dụng trong gia đình mà còn cho cả thành phố chúng ta nữa.
Gíao lý của Đạo Phật dạy rõ rằng lòng từ bi là liều
thuốc hóa giải những thái dộ xa lánh và giận dữ - trong
mọi trường hợp cá nhân, tập thể hay cho cả thế giới.
Có
hai nguyên tắc hoà giải trong Phật Giáo và điều này rất
quan trọng đối với tất cả Phật tử. Nguyên tắc thứ
nhất được tìm thấy trong kinh Pháp Cú là:
‘Hận
thù diệt hận thù
Đời
này không có được
Không
hận diệt hận thù
Là
định luật ngàn thu’
Nguyên
tắc thứ hai được tìm thấy ở trong kinh Đại Bi là:
‘Như
một người mẹ sẵn sàng hy sinh bản thân
Để
bảo vệ đứa con duy nhất của mình
Con
người hãy nuôi dưỡng một trái tim vô bờ bến đối với
tất cả mọi chúng sanh
Hãy
trải rộng tình thương đến khắp nơi
Và
vượt qua mọi chướng ngại
Ở
trên, dưới và chung quanh
Để
không còn sự căm thù và oán giận’
Tôi
đã được khích lệ bởi Đại Đức Maha Ghosananda, người
thầy kính yêu, đã có lần huấn từ trong buổi lễ cầu nguyện
hòa bình cho Cam-bốt và thế giới. Tôi xin được trích
dẫn những lời phát nguyện theo truyền thống Phật giáo Tây
Tạng này:
Với
sự kiên tâm hoàn toàn niềm hạnh phúc vô biên cho mọi chúng
sanh, vượt lên cả sự cầu mong tận tụy, tôi xin luôn luôn
giữ niềm kiên quyết này!
Mỗi
khi tiếp xúc với một người, tôi xin nguyện mình là kẻ
thấp hèn nhất và tôn quí người ấy trong tận đáy của
trái tim tôi!
Trong
mọi hành động tôi xin được suy nghĩ kỹ và mỗi khi sự
mê muội khởi lên, làm phương hại đến tôi và kẻ khác,
tôi xin được trực diện và loại bỏ nó!
Mỗi
khi tôi thấy một chúng sanh hung dữ, gây nên tội lỗi và
phiền não, tôi xin dược trân quí họ như khi tôi tìm thấy
một bảo châu.
Khi
có người vì sự ganh ghét đối với tôi một cách tệ hại,
lạm dụng tôi, nói xấu tôi, vân vân, tôi xin được chiến
bại và cầu nguyện sự chiến thắng đến các vị ấy!
Khi
có một người dã cho tôi niềm tin và hy vọng làm tôi bị
tổn thương, tôi xin được tôn quí người ấy như một vị
Thầy!
Một
cách ngắn gọn, xin cho tôi được một cách trực tiếp hay
gián tiếp, đem sự lợi lạc và hạnh phúc đến tất cả
những người Mẹ của tôi; xin cho tôi một cách kín đáo thọ
lãnh mọi sự tổn thương và đau khổ của các bà Mẹ!
Nguyện
xin tất cả những tâm nguyện này mãi trong sạch, không bị
ô uế bởi Bát Chánh Đạo; xin cho tôi biết rằng tất cả
các Pháp đều hư ảo và không dính mắc, được giải thoát
ra khỏi vòng luân hồi.
Những
từ ngữ giản dị đến độ người đọc rất có thể bị
lừa dối này, thật sự rất khó hiểu và hơn thế nữa rất
khó thực hiện. Vào năm 1972, khi chồng tôi và tôi vừa
thành hôn và sống tại Ấn Dộ, Đức Đại-Lai-Lạt-Ma dã
trao cho chúng tôi quyển kinh này. Tôi vẫn trân quí quyển
kinh nhỏ này trong hơn hai mươi năm qua và đã nghiền ngẫm
nó qua nhiều giai đoạn trong cuộc sống. Đến nay, tôi
vẫn không chắc rằng mình có thể hoàn toàn hiểu nó hay không,
nhưng tôi tin rằng đó là một lời dạy quí báu cần được
thực hiện và là một lý tưởng rất đáng noi theo.
Thiền
Tập
Không
một chút nghi ngờ nào rằng sự thiền tập là một đòi hỏi
căn bản cho mọi sự hoà giải. Tôi e rằng sẽ không
có người nào có thể hàn gắn lại các mối quan hệ mà không
cần đến sự thiền tập. Dĩ nhiên, tâm lý trị liệu
vẫn là một sự giúp đỡ to lớn đối với những trường
hợp mà con người bị hà hiếp hoặc lệ thuộc vào nhau.
Tuy nhiên, ngày càng dông, các nhà trị liệu tâm lý hoặc tâm
thần đã bắt đầu nhận thấy giá trị của sự thiền tập
- rằng nó là một phương pháp dễ hiểu và trị liệu cho
những động lực trong gia đình.
Qua
kinh nghiệm bản thân, tôi hoàn toàn tin rằng nếu không nhờ
vào sự thiền tập, thì tôi đã không thể nào thực hiện
được sự hoà giải giữa tôi và cha tôi.
Câu
chuyện hoà giải giữa tôi và cha tôi, một người suốt đời
nghiện ngập và đã qua đời vào tháng ba năm 1991 là sự thật.
Lời tường thuật ngắn gọn về mối quan hệ dó sau đây,
sẽ cho thấy được vai trò và sự thực tiển của Đạo Phật
về sự hoà giải trong gia đình, hay hơn các lối giảng giải
lý thuyết nào khác.
Điểm
đầu tiên thiết yếu trong qúa trình hoà giải này là vai trò
quan trọng của sự thực tập về lòng từ bi. Chính
thầy tôi, ngài Balangoda Anandamaitreya (người mà bây giờ (năm
1995) đã gần 98 tuổi) đã không ngừng nhắc nhở đến sức
mạnh và tầm quan trọng về sự thực hành lòng từ bi này,
đặc biệt giữa các mối quan hệ cá nhân. Mỗi khi tôi
tiếp chuyện với Thầym, người đều nhắc nhở tôi về việc
thực tập lòng từ bi này đối với chồng tôi và cha mẹ
tôi.
Trong
quá khứ sự thiếu liên lạc là điều khiếm khuyết giữa
cha tôi và tôi. Đến nỗi mỗi khi chúng tôi nói chuyện
với nhau, sự trao đổi đã rất hời hợt và không bao giờ
thực tâm. Mặc dù tình trạng giữa cha tôi và tôi đã
tuyệt vọng, Thầy Anandamaitreya đã đảm bảo với tôi rằng
nếu tôi thực hành và hướng lòng từ bi về cha tôi liên
tục mỗi ngày thì tình trạng giữa chúng tôi sẽ được cải
thiện.
Một
Kết Qủa Không Ngờ
Chỉ
một vài tháng sau lời chỉ dạy cùa Thầy tôi và sau khi Thầy
đã trở về Tích Lan, gia đình tôi đã bất ngờ biết được
cha tôi đã lâm trọng bệnh. Quả thật vậy, cha tôi đang
chết dần vì bệnh lao phổi và bệnh đã tới thời kỳ thứ
ba. Mặc dù cha tôi biết mình mang bệnh khá lâu,
nhưng ông dấu không cho tôi, mẹ tôi, chồng và con tôi biết.
Cho dến khi tôi khám phá ra bí mật này thì cha tôi đã đi
vào giai đoạn cuối của cuộc dời. Chúng tôi chỉ còn
khoảng một tuần để nói những lời vĩnh biệt, để hiểu
và chấp nhận sự việc đã an bày.
Một
sự việc trọng đại đã xảy ra khoảng 12 ngày trước khi
cha tôi qua đời. Hôm dó, tôi dến thăm người tại bệnh
viện VA ở Los Angeles, tại dãy phòng dành riêng cho các bệnh
nhân nội trú. Như thường lệ, cha tôi đang giận dữ
về mọi thứ và mọi người, nhưng hình như là trừ tôi.
Bãt thình lình cha tôi quay sang tôi và hỏi với cặp mắt đờ
đẫn vì những cơn dau liên tục và những liều thuốc ngày
càng tăng và cực mạnh rằng: ‘Điều mà cha không hiểu
là tại sao lại là cha? Cha chưa từng làm tổn thương
ai trong suốt cuộc đời của cha!’
Dĩ
nhiên, tôi đã sững sờ vì câu hỏi dột ngột đó và cần
một hồi lâu dể suy nghĩ. Tôi phải trả lời làm sao
đây? Trong quá khứ, có lẽ phản ứng đầu tiên của
tôi là giận dữ. Cha tôi là một người dã đem sự đau
khổ liên tục đến nhiều người trong suốt cuộc đời ông,
đặc biệt là mẹ tôi và tôi. Thế thì làm sao bây giờ
ông có thể nói rằng ông chưa từng gây tổn thương đến
cho một ai? Dù vậy trong lúc ấy, tôi nhận thức được
rằng cha tôi đang bệnh nặng, tuy tôi chưa hoàn toàn hiểu
được rằng cha tôi đang dần đi vào cửa tử. Tôi
biết rằng sự trả thù của tôi cũng sẽ không đem lợi ích
gì cho cha tôi lẫn chính tôi. Tôi cũng có thể chọn con
đường khác bằng cách đóng vai trò ‘cô Mary vui vẻ’, một
mẫu tính mà tôi đã học được từ khi còn bé. Cách
này sẽ giúp cho cha tôi sống trong cảnh than thân trách phận
cùng một lúc bảo với ông rằng, quả thật ông đã chưa
hề làm một việc gì gây hại đến ai và ông không đáng
lãnh chịu sự khổ đau này.
Tuy
nhiên trong lúc đó tôi dã chọn con đường ở giữa.
Có lẽ, đây là lần đầu tiên tôi đã thành thật với cha
tôi. Tôi hít vào một hơi thật sâu và nói với một
giọng bình tĩnh: ‘Cha ơi, con không nghĩ sự đau khổ này
có liên quan gì đến quá khứ đâu. Tất cả mọi người
đều phải trải qua khổ đau và bệnh hoạn. Chúng ta
đều dễ nhiễm bệnh. Đây chỉ là một trong những
định luật của kiếp người’. Cha tôi yên lặng
nhìn tôi với một chút ngạc nhiên. Nhìn cha có vẻ bình
tĩnh hơn trước. Đây là biến cố đầu tiên cho một
loạt biến cố dẫn đường cho sự hoà giải giữa tôi và
cha tôi.
Trong
ngày sinh nhật 67 tuổi, cha tôi được chuyển ra khỏi dãy
phòng dành cho bệnh nhân thường xuyên cư trú đến dưỡng
đường dành riêng cho những bệnh nhân mang bệnh trầm trọng,
ở vài tầng dưới. Cuộc nói chuyện với vị giám dốc
của viện dưỡng đường giúp tôi đối phó với sự khích
động, sau khi tôi được hiểu tường tận hơn về sự việc
đang xảy ra. Chỉ mới đêm hôm trước cha tôi đã gọi
tôi và say sưa nói về một cuộc giải phẩu mà các bác sĩ
sẽ thực hiện cho cha, như là một cơ hội cuối cùng.
Sự
việc cha tôi sống trong một trạng thái không hiện thực thật
ra không lạ gì đối với những bệnh nhân nan y.
Những người này đôi lúc chỉ bám víu vào những cộng rơm
và hy vọng rằng mình sẽ được cứu vớt. Sự mơ hồ
cuả tôi càng bị phức tạp hoá bởi khuynh hướng lâu đời
của cha tôi là thích mơ mộng và ngụy tạo ra một thực tại
cho riêng mình. Vị giám đốc điều hành viện dưỡng
đường chắc chắn với tôi rằng cha tôi biết ông sắp mất
và tự quyết dịnh nhập viện này. Bà giám đốc
còn nói thêm rằng dù vậy, cha tôi vẫn cần sự ủng hộ
của tôi để ông củng cố thêm quyết định của mình.
Chiều
hôm đó, chồng và con trai tôi cùng tôi dến thăm cha tôi tại
dưỡng đường để ăn mừng sinh nhật cuối cùng của người,
trong một bầu không khí yên bình. Cha tôi đã nói chuyện
với một trạng thái khẩn trương và đã yêu cầu tôi trông
nom một vài việc cá nhân cần thiết. Tôi cũng đã gọi
ngay cho mẹ tôi ở Sacramento và nhỏ nhẹ nói với mẹ rằng,
nếu mẹ muốn nói lời vĩnh biệt với cha thì mẹ cần đến
ngay lập tức. Cha mẹ tôi ly dị nhau đã 20 năm và cha
tôi vẫn là mối tình đầu và duy nhất của mẹ, dù cho có
biết bao khổ đau mà cuộc hôn nhân này đã đem đến cho mẹ
tôi.
Vì
thế, mẹ tôi và tôi đã có thể ở bên cạnh cha vào những
ngày cuối của cuộc đời ông. Bây giờ nhìn lại thì
sự hối hận lớn nhất của tôi là trong lúc vì bị choáng
ngợp bởi những sự việc thiết thực, tôi đã hoàn toàn
không có cơ hội để hồi tưởng về một sự việc phi thường
đã xảy ra. Dù vậy, mỗi khi có cơ hội, thường
là về khuya thì tôi tọa thiền, cầu nguyện và suy nghĩ bằng
cách nào hay nhất để giúp cha tôi trải qua sự chuyển tiếp
mà cha sắp đi qua. Cũng trong thời gian này, tôi đã tìm
được sự giúp đỡ qua một quyển sách nhỏ mà một người
bạn là thiền sư đã tặng cho tôi khoảng 15 năm trước: Bánh
Xe Của Tử Thần (The Wheel of Death), tác giả là Philip Kapleau.
Qua quyển sách nhỏ nhưng rất mạch lạc này, tôi đã tìm
thấy sức mạnh và sự giúp đỡ cần thiết để sửa soạn
cho sự ra đi của cha tôi. Đặc biệt là mười lời khuyên
răn tôi tìm thấy trong đoạn có tên là ‘Những lời chỉ
dẫn thiết thực cho sự ra đi’:
Tôi
nguyện không giết hại và yêu thương mọi chúng sanh
Tôi
nguyện không lấy cắp những của không cho và tôn trọng những
sỡ hữu của người khác
Tôi
nguyện không tà dâm và giữ cho tinh thần dược thanh khiết
và thiểu dục
Tôi
nguyện không nói dối mà chỉ nói lời những lời thật
Tôi
nguyện không tác động những người khác dùng các thứ rượu
hoặc ma tuý để tinh thần bị suy giảm - và cũng nguyện cho
chính bản thân tôi như vậy để giữ cho tinh thần được
trong sáng
Tôi
nguyện không nói về những lỗi lầm của người khác mà
chỉ nên hiểu biết và thông cảm cho các vị ấy
Tôi
nguyện không tự ngợi khen hoặc lên án người nào mà chỉ
cố gắng vượt qua những yếu kém của bản thân
Tôi
nguyện không tích trữ mọi tài sản vật chất hay tinh thần
nào mà sẽ tặng cho tất cả khi họ cần đến
Tôi
nguyện không giận dữ mà chỉ luyện tập sự kềm chế
Tôi
nguyện không phỉ báng ngôi Tam Bảo (đó là Phật, Pháp và
Tăng) mà luôn quí trọng và bảo vệ Chánh Pháp.
Đây
là những nguyên tắc hướng dẫn cho tôi trong lúc tôi tụng
bài kinh Bát Nhã và sửa soạn mỗi ngày để đến và ở với
cha tôi và an ủi cha trong lúc tất cả chúng tôi chờ đợi
một biến cố trọng đại và rất gần kề.
Cũng
trong thời gian này, lòng từ bi của tôi dối với cha tôi lớn
dần, và tôi cũng bắt đầu nhìn thấy cha tôi như một người
mà cả cuộc đời từ khi còn bé đã bị khổ dau chiếm ngự.
Sự khổ đau này khiến cha tôi trả thù trên những người
khác và tạo ra nhiều đau khổ liên tiếp mà người không
thể hiểu được và vì thế không có khả năng để chấm
dứt. Trong tôi, thời kỳ buộc tội, vu cáo lẫn
nhau và phán xét đã mất tự bao giờ. Tôi nhận thức
được trọng trách giúp đỡ cho cha tôi để người được
ra đi với một trái tim càng an bình càng tốt.
Một
sự việc nữa đã xảy ra là cuối cùng tôi đã có thể cảm
nhận một tình thương sâu xa đối với cha tôi, một tình
thương tiềm tàng đã ở trong tôi tự bao lâu nay nhưng không
được phát triển vì bị bỏ rơi và sợ bị từ chối.
Đây là một món quà rất lớn - sự không-khiếp-sợ - mà
tôi đã thu lượm được khi tụng kinh Bát Nhã. Dây là
sự không sợ hãi mà tôi cần có để chứng kiến cảnh cha
tôi đi qua cửa ải mà tất cả mọi người đều hãi hùng.
Ngày
cuối
Tinh
thần của cha tôi khá tốt. Cha đã được vị giáo sĩ
Thiên Chúa giáo tại bệnh viện dến thăm thường xuyên và
đã đón nhận nghi lễ cuối cùng nhiều lần. Ngày trước
khi cha mất, mẹ tôi và tôi đã dẫn một người bạn là một
vị linh mục đến thăm cha. Đó cũng là một điều may
mắn, vì vị linh mục này cũng là vị chủ lễ tang của cha
tôi. Tôi đã thỉnh cho cha một vài quyển kinh nhỏ và
một quyển kinh cầu nguyện vì cha đã đánh mất quyển cũ.
Cho dù vậy, tôi vẫn biết rằng cha đang sợ hãi và đơn độc.
Ngày
ông mất, một sự việc lạ lùng dã xảy ra. Cha
tôi đã mạnh mẽ từ chối tất cả các thứ thuốc.
Dường như cha đã quyết tâm trải qua sự chuyển tiếp với
một đầu óc sáng suốt. Buổi sáng hôm đó, khi tôi đến
thăm cha một mình, trông thấy hình dáng của cha thật ghê
sợ. Cơ thể của cha co rúm lại và gương mặt tiều
tụy, hốc hác. Người nhìn giống như một xác chết
dù người vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Tôi cảm thấy
bất lực. Tôi không muốn làm bất cứ chuyện gì làm
cho người buồn lòng hoặc thêm đau khổ. Tôi đã nói
chuyện với người và chạm vào tay người một cách nhẹ
nhàng. Người vui vì tôi dã ở đó dù người không thể
nói chuyện dược nữa.
Cuối
cùng tôi đã hỏi cha rằng tôi có thể đọc một thời kinh
Phật cho cha nghe hay không. Tôi vẫn không hiểu tại sao
tôi lại hỏi như vậy, tuy tôi ý thức được rằng việc
dọc kinh chính là để cho tôi hơn là cho cha tôi. Cha tôi
gật dầu một cách nhiệt tình, và vì thế một cách chầm
chậm và bình tĩnh, tôi đã đọc bài kinh Bát Nhã gần kề
tai cha tôi. Tôi sững sờ khi nhìn thấy trong lúc tôi đọc,
cha tôi dã nhắm nghiền mắt lại và những giọt nước mắt
đã tuôn trào chảy xuống mặt người.
Khi
tôi chấm dứt, bất thình lình tôi cảm thấy một tình thương
tràn ngập dành cho cha tôi, cùng với sự can đảm để mở
khóa chiếc lưỡi của tôi và tôi đã nói tất cả những
điều mà tôi chưa bao giờ nói với cha. Hiện tại cha
là một người đã bị buộc lại và trong tôi là sự không-sợ-hãi
đang hoạt động. Một cách từ tốn, tôi đã nói với
cha rằng tôi rất thương cha và tôi mang ơn cha vì tất cả
những chuyện tốt mà cha đã làm cho tôi. Tôi hứa với
người rằng tôi sẽ luôn luôn cầu nguyện và làm bất cứ
chuyện gì cho người được bình an. Những giọt
nước mắt tiếp tục tuôn trào xuống gương mặt cha.
Sợ vì đã làm cho cha buồn, tôi hỏi nếu cha muốn tôi rời
khỏi phòng. Cha tôi lắc đầu một cách mạnh mẽ: ‘Không’.
Sau đó tôi hỏi nếu cha muốn tôi im. Cha gật dầu: ‘Muốn’.
Và vì thế trong sự yên lặng, tôi đã đứng bên cha hồi
hướng lòng từ bi và thiền định phương pháp hàn gắn (healing
meditation) mà tôi dã thực hành mỗi ngày.
Sau
một lúc tôi nói với cha rằng tôi phải ra về nhưng sẽ trở
lại sớm. Tôi đã cùng mẹ và con trai tôi đến thăm
cha vào buổi trưa. Biết rằng chồng tôi cũng muốn đến
để nói lời vĩnh biệt nên chúng tôi đã đến đón anh và
cùng trở lại bệnh viện. Chồng và con tôi dã tiếp
chuyện với cha tôi và sau một vài phút chồng và con tôi cùng
ra xe. Mẹ tôi và tôi ở lại, cảm thấy hơi mơ hồ và
nôn nóng. Chúng tôi nhìn nhau trong sự bất lực.
Sự ra đi của cha tôi dường như rất gần kề, tuy nhiên chúng
tôi cũng không biết một cách chính xác khi nào tử thần sẽ
đến, và vì thế chúng tôi không muốn rời xa cha lúc này.
Bất
thình lình trước tám giờ tối, cha tôi ngồi bật dậy với
cả một sự cố gắng. Lập tức chúng tôi biết rằng
người sắp ra đi. Người nhìn chúng tôi với cặp mắt
mở to, dù nhãn lực của người đã ngừng hoạt dộng, và
cố gắng nói chuyện một cách tuyệt vọng. Cả hai, mẹ
tôi và tôi có một phần nào đó hơi kinh khiếp với sự việc
nghiêm trọng đang xảy ra, và bởi nguồn sống bất ngờ mà
cha tôi đang có và cố gắng xử dụng để liên lạc.
Dù vậy chúng tôi vẫn đứng tại chỗ, bằng một cách dịu
dàng nhưng vững chải chúng tôi nói chuyện với cha. Chúng
tôi cam đoan với cha rằng chúng tôi yêu thương cha, sẽ ở
bên cạnh cha và cầu nguyện cho cha. Một cách chân thành,
tôi dã nói với cha rằng cha không có gì để lo lắng và sợ
hãi cả. ‘Đây là lần dầu tiên cha sẽ vui vẻ thật
sự’. Mẹ tôi và tôi vẫn dịu dành lập di lập
lại rằng chúng tôi yêu thương cha. Tôi cũng nói với
cha rằng không một việc gì mà không thể tháo gỡ được.
Cha không nói ra tiếng nào nhưng vẫn mở miệng và phát ra
qua hơi thở câu nói ‘Tôi thương yêu em và con’. Sau
một vài phút cố gắng, cha nằm xuống lại trên gối, nhắm
mắt và sau một vài hơi thở với một chút khó khăn, người
ra đi. Người chỉ mới ở viện dưỡng dường dược
tám ngày.
Sự
hoà giải và công phu hàng ngày
Những
ngày và tuần sau cái chết của cha tôi, tôi đã thành tâm
trì niệm mười lời nguyện trong quyển ‘Bánh Xe Của Tử
Thần’ của thiền sư Philip Kapleau, theo sau là bài Bát Nhã
và những lời Bồ Tát nguyện. Trong tuần sau khi cha mất,
chúng tôi dã làm nhiều lễ cho cha, gồm một lễ Mi-sa (Mass)
của Thiên Chúa Giáo (trong dịp này tôi đã đọc lời tán
tụng cha), một lễ Phật Giáo tại ngôi chùa tôi thường dến
và một lễ tang theo kiểu quân đội tại nghĩa trang.
Có nhiều vị Tăng d㠬àm lễ trong ngày thứ bốn-mươi-chín.
Cũng đã có một buổi lễ tại chùa vào ngày thứ mười chín,
theo phong tục của người Tích Lan. Chồng tôi và gia dình
anh đã cầu nguyện theo phong tục của người theo dạo Sikh
và những người bạn cùng bà con theo dạo Hồi Giáo (Hindu)
cũng dã làm lễ puja cho cha tôi.
Dối
với bản thân, sự thực về cái chết của cha tôi đã tăng
cường và làm sâu sắc thêm công việc công phu tu tập của
tôi, đặc biệt là các lời nguyện mà tôi thay cha trì niệm.
Những ngày đầu tiên sau khi cha mất, tôi đã hết sức quyết
tâm giúp cha đi qua sự chuyển tiếp với tất cả những gì
mà tôi có thể làm, và cam đoan với cha rằng tất cả chúng
tôi đều cố gắng hết sức mình để giúp cha. Những
lời chỉ bảo rành mạch của Tôn Sư tôi và những tháng nỗ
lực thực tập đã chuẩn bị tinh thần tôi, mặc dù lúc dó
tôi không mảy may biết rằng tôi đang sửa soạn cho việc
gì.
Giờ
dây nhìn lại, tôi thấy rằng con đường hoà giải đã dược
khai phóng bởi sự chấp nhận trong tôi về cha tội.
Khoảng một năm rưỡi về trước, chúng tôi đã liên lạc
lại với nhau. Tôi đã chấp nhận những cuộc thăm viếng
kỳ lạ và các món quà của cha tôi mà không mang sự oán hận
nào, và đã nỗ lực xum họp lại với nhau để tạo sự vui
vẻ dù khá căng thẳng, trong những dịp nghĩ hè và sinh nhật.
Cha cũng đã dem nhiều nỗ lực để gặp tôi và chỉ sau khi
cha mất, tôi mới ý thức dược sự khẩn cấp mà cha đã
hành động vào những dịp ấy. Tôi hối tiếc đã không
biết rằng cha sắp mất. Tuy nhiên vì tôi đã không biết,
nên có thể sự chấp thuận của tôi về người đã đem đến
cho người chút ngọt ngào trong tình cha con của chúng tôi.
Hai
tác giả Bloomfield và Felder, trong quyển sách của họ ‘Giảng
Hoà Với Cha Mẹ’ dã tóm tắt bằng một lý luận có sức
thuyết phục mạnh, về sự nỗ lực dể giải hoà rằng:
‘Để
tạo sự hoà bình với cha mẹ của bạn, có thể bạn sẽ
phải dứt bỏ nhiều thứ. Bạn phải bỏ đi sự oán
thù, giận dữ, khó chịu, ý muốn trừng phạt và trách móc.
Cò thể bạn sẽ phải bỏ ý chống đối cha mẹ bạn và còn
phải chuẩn bị cho những lúc dường như các vị ấy thắng
và bạn thua. Có lẽ bạn phải học cách ngưỡng mộ
và kính trọng cha mẹ bạn, các vị mà có thể bây giờ bạn
có chút ít khinh rẻ và chán ghét. Quả thật vậy, bạn
phải học để chấp nhận cha mẹ bạn như là con người thật
của các vị ấy, thay vì bạn nghĩ rằng các vị ấy phải
trở thành những người mà bạn mong muốn’.
Bạn
có thể nói ‘Tại sao phải cần làm chuyện đó?’ hoặc
‘Tôi cần gì đến chuyện ấy chứ?’ Điều đó không
phải cho cha mẹ bạn mà chính là cho bạn. Vì nếu không,
tinh thần an vui, tình thương yêu, tình bạn hữu và tình trạng
sống trong từng giây phút của bạn có thể bị nguy hiểm.
Có
nhiều cách để hoà giải. Một cách là làm sao hiểu
được sự giận dữ của bạn, nhưng cách đó cũng không đủ.
Quả thật như Thầy Nhất Hạnh quan sát, chúng ta cần hiểu
tường tận nguồn gốc của sự giận dữ và biết được
sự biến đổi qua sự hiểu biết và quan tâm. Thầy Nhất
Hạnh cũng nói bằng một lối đã làm tôi xúc dộng một cách
sâu xa rằng, sự hòa giải thật sự có thể được phát triển
qua sự nẩy nở của lòng từ bi:
‘Chúng
ta có thể thiền định trên sự dau khổ mà người khác đã
mang dến cho ta. Người nào mang đến sự đau khổ cho
ta thì chắc chắn rằng người ấy cũng đang đau khổ.
Chúng ta chỉ cần theo dõi hơi thở và nhìn sâu vào một cách
tự nhiên thì chúng ta sẽ thấy sự đau khổ của các vị
ấy. Một phần của sự khó khăn và đau buồn này
đã có thể được tạo ra bởi cha mẹ các vị ấy vì họ
đã thiếu khả năng dạy bảo các vị ấy khi còn nhỏ.
Tuy nhiên chính cha mẹ các vị ấy có thể đã là nạn nhân
của ông bà họ; sự dau khổ đã được truyền từ đời
này sang đời khác và dã dược tái tạo nơi các vị ấy.
Nếu chúng ta thấy được điều dó, chúng ta sẽ không còn
trách móc các vị ấy bởi vì chính họ cũng là những nạn
nhân. Khi nhìn thật sâu, chúng ta sẽ hiểu. Một
khi chúng ta hiểu ra những lý do dã làm cho các vị ấy hành
động thiếu suy nghĩ, sự cay đắng của chúng ta đối với
các vị ấy sẽ mất đi, và chúng ta sẽ cầu mong các vị
ấy bớt khổ! Chúng ta sẽ cảm thấy mát mẻ, nhẹ nhàng
và chúng ta sẽ mĩm cười. Chúng ta không cần có sự
hiện diện của những người đã làm chúng ta đau khổ để
đạt được sự hòa giải. Khi chúng ta nhìn thật sâu,
chính chúng ta sẽ hòa giải với bản thân mình và đối với
chúng ta sự khúc mắc sẽ không còn hiện hữu. Sớm hay
muộn, các vị ấy sẽ thấy được thái độ của chúng ta
và sẽ cùng chia xẻ dòng tình thương tươi mát đang chảy
ra một cách hết sức tự nhiên từ trong tim chúng ta’.
Đối
với tôi, sự hòa giải đã không thể nào hoàn thành nếu
không nhờ vào tất cả những yếu tố sau: thiền tập, tụng
kinh, đọc kệ, học tập và nghiền ngẫm những giới nguyện.
Tất cả những công phu này đều làm việc với nhau để tạo
thành một trái tim từ bi, một trái tim mà tất cả chúng ta
đều muốn có. Tất cả những thành phần của sự luyện
tập này dẫn đường cho sự giải thoát của chúng sanh, giải
thoát chúng ta ra khỏi sự thù hằn, oán giận và mê muội.
Chúng ta sẽ giúp nhiều người ra khỏi sự đau khổ, đặc
biệt đối với các vị mà chúng ta có một mối quan hệ duyên
kiếp trực tiếp với nhau.
Chỉ
một vài tuần sau khi cha tôi mất, thầy trụ trì ngôi chùa
tôi thường đến viếng đã gọi và hỏi tôi rằng tôi có
muốn giữ tám giới nguyện mãi mãi không. Sau khi Thầy
giải thích cặn kẽ hơn, tôi dã trả lời ‘Thưa vâng’.
Tôi cũng đã yêu cầu Thầy thêm vào một vài giới nguyện
nữa. Tôi đã cùng ba vị tu sĩ-học giả uyên thâm
người Tích Lan khai triển một cách thức phong chức mới cho
các mục sư, bao gồm mười hai giới nguyện và nhấn mạnh
con đường Bồ Tát hạnh theo truyền thống Phật Giáo , con
đường mà từ lâu đã bị bỏ quên. Trong buổi
lễ Phật Đản năm 1991, tôi đã được thọ giới Bồ Tát
cùng với hai vị khác tại ngôi chùa ở Los Angeles. Tôi
tin rằng sự thọ giới của tôi là một món quà mà cha tôi
đã trao cho tôi. Như Ngài Shobogenzo (the Shobogenzo) nói:
‘Bằng
cách chấp nhận và giữ gìn những giới nguyện sâu thẳm
trong trái tim ta, cuối cùng ta cũng sẽ đạt được sự giác
ngộ rốt ráo.....Ai lại có thể khước từ công việc này?
Đức Phật đã dạy cho chúng sanh rằng khi chúng ta toàn tâm
toàn ý giữ những giới hạnh trong cuộc sống, qua thời gian
chúng ta sẽ thành Phật, trở thành bậc Giác Ngộ.... Gió và
lửa tạo thành nguồn sống trong ta sẽ được thổi lên bởi
ảnh hưởng sâu xa của các vị Phật qua những hạnh nguyện
của chúng ta, sẽ đưa ta dến sự giác ngộ. Đây chính
là sự tỉnh thức đạt được từ một tâm hồn minh mẫn’.
Dịch
theo bài ‘Forging a Kind Heart in an Age of Alienation’ của Heidi
Singh, từ quyển ‘Buddhism Through American Women’s Eyes, edited
by Karma Lekshe Tsomo, nhà xuất bản Snow Lion Publications, Ithaca,
New York, ấn loát năm 1995.