QUYỂN
THỨ HAI MƯƠI SÁU
PHẨM
LỤC DỤ
THỨ
BẢY MƯƠI BẢY
Ngài
Tu Bồ Ðề bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là
ở trong các pháp vô tướng tự tướng không chẳng phân biệt
mà trọn vẹn tu sáu ba la mật, đó là Thí la ba la mật, Giới
ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tiến ba la mật, Thiền ba la mật
và Bát nhã ba la mật?
Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là ở trong pháp không biệt dị mà
phân biệt nói tướng dị biệt?
Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là Bát nhã ba la mật nhiếp lấy thí,
giới, nhẫn, tiến và thiền?
Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là hành pháp có tướng biệt dị
rồi dùng đạo nhứt tướng mà đắc quả?”.
Ðức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Ðề: “Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát
an trụ trong năm ấm như mộng, như hưởng, như ảnh, hư diệm,
như huyễn, như hóa mà thật hành bố thí, trì giới, mà tu
nhẫn nhục, tinh tiến, mà nhập thiền định, mà rèn trí huệ,
biết năm ấm này như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm,
như huyễn, như hóa, biết năm ấm vô tướng như mộng cho
đến biết năm ấm vô tướng như hóa.
Tại
sao? Vì mộng không tự tánh, hưởng, ảnh, diệm, huyễn, hóa
đều không tự tánh. Nếu pháp không tự tánh thì là pháp
vô tướng. Nếu pháp vô tướng thì là pháp nhứt tướng,
đó là vô tướng.
Này
Tu Bồ Ðề! Do nhơn duyên như vậy nên biết Bồ Tát bố thí
vô tướng: người thí vô tướng, người thọ cũng vô tướng.
Có thể biết bố thí như vậy thì hay đầy đủ Bố thí ba
la mật nhẫn đến hay đầy đủ Bát nhã ba la mật, hay đầy
đủ tứ niệm xứ đến bát thánh đạo, hay đầy đủ nội
không đến vô pháp hữu pháp không, hay đầy đủ không, vô
tướng, vô tác tam muội, hay đầy đủ bát bội xả, cửu
thứ đệ định, năm thần thông, năm trăm môn đà la ni, hay
đầy đủ mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại,
mười tám pháp bất cộng.
Bồ
Tát này an trụ trong pháp báo đắc vô lậu hay quán vô lượng
cõi nước phương Ðông, nhẫn đến bay qua vộ lượng cõi
nước mười phương, cúng dường chư Phật và lợi ích chúng
sanh. Chúng sanh nào nên dùng bố thí để nhiếp thì dùng bố
thí nhiếp họ, nên dùng trì giới để nhiếp thì dùng trì
giới để dạy họ, nên dùng nhẫn nhục, tinh tiến, thiền
định, trí huệ để nhiếp thì dạy họ nhẫn nhục, tinh tiến,
thiền định, trí huệ, nhẫn đến nên dùng các thứ pháp
lành để nhiếp thì dùng các thứ pháp lành để nhiếp lấy
họ.
Bồ
Tát này thành tựu tất cả pháp lành như vậy thọ thân thế
gian chẳng bị thế gian sanh tử làm vô tướng, vô tác, vô
đắc nhiễm. Do vì chúng sanh nên Bồ Tát ở trên trời, trong
Người thọ sự tôn quý giàu vui, đem sự tôn quý giàu vui
này nhiếp lấy chúng sanh.
Vì
Bồ Tát này biết tất cả pháp vô tướng nên biết quả Tu
Ðà hoàn mà chẳng an trụ trong đó, biết quả Tư Ðà Hàm,
quả A Na Hàm, quả A La Hán, đạo Bích Chi Phật mà chẳng an
trụ trong đó. Tại sao? Vì Bồ Tát này dùng nhứt thiết chủng
trí biết tất cả pháp rồi sẽ phải được nhứt thiết
chủng trí nên chẳng cùng đồng với hàng Thanh Văn, Bích Chi
Phật.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát biết tất cả pháp vô tướng như
vậy rồi biết sáu ba la mật vô tướng nhẫn đến biết tất
cả Phật pháp vô tướng.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong năm ấm như
mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa
thì hay đầy đủ Giới ba la mật vô tướng. Giới này chẳng
thiếu, chẳng hư, chẳng tạp, chẳng chấp, là giới vô lậu
mà thánh nhơn khen ngợi vào tám phần thánh đạo. An trụ trong
giới này trì tất cả giới, đó là danh tự giới, tự nhiên
giới, luật nghi giới, tác giới, vô tác giới, oai nghi giới,
phi oai nghi giới.
Ðại
Bồ Tát này thành tựu các giới chẳng nguyện cầu sanh vào
dòng lớn Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, Cư Sĩ, cung chẳng nguyện
cầu sanh vào nhà Tiểu Vương hay Chuyển Luân Thánh Vương,
chẳng nguyện cầu sanh các cõi Trời, chẳng nguyện cầu được
quả Thanh Văn, đạo Bích Chi Phật. Tại sao? Vì tất cả pháp
vô tướng đó là nhứt tướng, pháp vô tướng không thể
được pháp vô tướng, pháp hữu tướng không thể được
pháp hữu tướng, pháp hữu tướng không thể được pháp
vô tướng, pháp vô tướng không thể được pháp hữu tướng.
Này
Tu Bồ Ðề! Bồ Tát này lúc hành Bát nhã ba la mật như vậy
hay đầy đủ Giới ba la mật mà vào Bồ Tát vị, vào Bồ
Tát vị rồi được sanh vô pháp nhẫn, hành đạo chủng trí,
được báo đắc năm thần thông, an trụ năm trăm môn đà
la ni, được bốn trí vô ngại, từ một cõi Phật đến một
cõi Phật cúng dường chư Phật, thành tựu chúng sanh, thanh
tịnh Phật độ, dầu vào trong năm đường chúng sanh mà nghiệp
báo sanh tử không làm nhiễm vô tướng, vô tác, vô đắc được.
Này
Tu Bồ Ðề! Ví như hóa Chuyển Luân Thánh Vương dầu ngồi,
nằm, đi, đứng chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi,
chẳng thấy chỗ đứng, chỗ ngồi, chỗ nằm mà hay lợi ích
chúng sanh, cũng chẳng thấy có chúng sanh. Bồ Tát này cũng
như vậy.
Này
Tu Bồ Ðề! Ví như Tu Phiến Ða Phật được Vô Thượng Bồ
Ðề vì ba thừa mà chuyển pháp luân, không có ai được thọ
ký Bồ Tát, hóa làm Phật rồi xả thọ mạng nhập vô dư
Niết Bàn. Bồ Tát lúc hành Bát nhã ba la mật cũng như vậy,
hay đầy đủ Giới ba la mật. Ðầy đủ Giới ba la mật rồi
nhiếp tất cả pháp lành.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ
Tát an trụ trong năm ấm như mộng, như hưởng, như ảnh như
diệm, như huyễn, như hóa, đầy đủ Nhẫn ba la mật vô tướng.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong hai thứ nhẫn thì có
thể đầy đủ Nhẫn ba la mật, đó là sanh nhẫn và pháp nhẫn.
Từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng, nếu có
bất luận chúng sanh nào đến mắng chửi, đánh đập, chém
giết Bồ Tát, Bồ Tát này vì muốn đầy đủ Nhẫn ba la mật
nên chẳng sanh lòng giận thù, dầu chỉ một niệm.
Bồ
Tát này suy nghĩ như vầy: Ai mắng ta? Ai đánh ta? Ai chém ta?
Tại
sao vậy? Vì Bồ Tát này ở trong tất cả pháp được vô tướng
nhẫn, nên chẳng bao giờ nghĩ rằng người đó mắng ta, hại
ta.
Nếu
thật hành như vậy, Ðại Bồ Tát hay đầy đủ Nhẫn ba la
mật. Do đầy đủ Nhẫn ba la mật nên được vô sanh pháp
nhẫn”.
Ngài
Tu Bồ Ðề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là vô sanh
pháp nhẫn? Nhẫn này đoạn dứt những gì và biết những
gì?”.
Ðức
Phật bảo Ngài tu Bồ Ðề: “Này Tu Bồ Ðề! Ðược pháp
nhẫn, nhẫn đến chẳng sanh mảy may pháp chẳng lành nên gọi
là vô sanh pháp nhẫn. Tất cả phiền não sở đoạn của Bồ
Tát đều hết, đó gọi là đoạn dứt. Dùng trí huệ biết
tất cả pháp chẳng sanh, đây gọi là biết”.
- Bạch
đức Thế Tôn! Vô sanh pháp nhẫn của hàng Thanh Văn, Bích
Chi Phật cùng vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát có gì khác nhau?
-
Này Tu Bồ Ðề! Hoặc trí hoặc đoạn của Tu Ðà Hoàn gọi
là nhẫn của Bồ Tát, hoặc trí hoặc đoạn của Tư Ðà Hàm
gọi là nhẫn của Bồ Tát, hoặc trí hoặc đoạn của A Na
Hàm gọi là nhẫn của Bồ Tát, hoặc trí hoặc đoạn của
A La Hán gọi là nhẫn của Bồ Tát, hoặc trí hoặc đoạn
của Bích Chi Phật gọi là nhẫn của Bồ Tát, đó là sai khác.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát thành tựu nhẫn này hơn cả hàng
Thanh Văn, Bích Chi Phật.
An
trụ trong báo đắc vô sanh nhẫn này, Ðại Bồ Tát hành Bồ
Tát đạo đầy đủ đạo chủng trí. Vì đầy đủ đạo chủng
trí nên thường chẳng rời lìa ba mươi bảy phẩm trợ đạo
nhẫn đến không, vô tướng, vô tác tam muội, thường chẳng
rời lìa năm thần thông. Vì chẳng rời lìa năm thần thông
nên hay thành tựu chúng sanh, thanh tịnh Phật độ. Thành tựu
chúng sanh, thanh tịnh Phật độ xong sẽ được nhứt thiết
chủng trí.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát đầy đủ Nhẫn ba la mật vô tướng
như vậy.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát an trụ trong năm ấm vô tướng
như mộng, như hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như
hóa mà thật hành tinh tiến và tâm tinh tiến.
Do
thân tinh tiến mà khởi thần thông. Do khởi thần thông mà
đến thế giới mười phương cúng dường chư Phật, lợi
ích chúng sanh. Dùng sức thân tinh tiến mà giáo hóa chúng sanh
cho họ an trụ nơi ba thừa.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật hay đầy
đủ Tinh tiến ba la mật vô tướng như vậy.
Bồ
Tát này do tâm tinh tiến, tinh tiến vô lậu của bực thánh
mà nhập trong tám phần thánh đạo, hay đầy đủ Tinh tiến
ba la mật. Tinh tiến ba la mật này nhiếp hết tất cả pháp
lành, những là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc,
ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo, tứ thiền,
tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, bát bội xả, cửu
thứ đệ định, mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô
ngại, mười tám pháp bất cộng. Bồ Tát thật hành những
pháp lành trong đây tất phải đầy đủ nhứt thiết chủng
trí.
Ðầy
đủ nhứt thiết chủng trí rồi dứt tất cả tập chủng
phiền não, đầy đủ ba mươi hai tướng, thân phóng vô lượng
vô đẳng quang minh.
Phóng
quang minh rồi chuyển ba lần mười hai hành pháp luân.
Do
chuyển pháp luân nên Ðại Thiên thế giới chấn động sáu
cách, quang minh chiếu khắp Ðại Thiên thế giới.
Chúng
sanh trong Ðại Thiên thế giới nghe âm thanh thuyết pháp đều
được do ba thừa mà được độ thoát.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ trong Tinh tiến ba la mật
hay lợi ích lớn cho chúng sanh, hay đầy đủ nhứt thiết chủng
trí như vậy.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Bồ Tát an trụ trong năm ấm vô tướng
như mộng, như hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như
hóa, hay đầy đủ Thiền ba la mật.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát nhập sơ thiền nhẫn đến nhập
đệ tứ thiền, nhập tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỉ, xả,
nhập hư không vô biên xứ nhẫn đến nhập phi tưởng phi
phi tưởng xứ, nhập không tam muội đến nhập vô tướng,
vô tác tam muội, nhập điện quang tam muội, nhập như kim cang
tam muội, nhập thánh chánh tam muội. Trừ tam muội của chư
Phật, những tam muội khác, hoặc những tam muội cùng đồng
Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát này đều chứng, đều nhập.
Dầu nhập nhưng cũng chẳng thọ mùi vị tam muội, cũng chẳng
thọ quả tam muội.
Tại
sao? Vì Bồ Tát này biết những tam muội ấy không tướng,
không tánh sở hữu thì có đâu lại ở trong pháp không tướng
mà thọ mùi vị pháp không tướng mà thọ mùi vị pháp không
tướng, ở trong pháp vô sở hữu mà thọ mùi vị pháp vô
sở hữu.
Nếu
chẳng thọ mùi vị thì chẳng theo sức của thiền định sanh
trời cõi Sắc hay Vô sắc.
Tại
sao? Vì Bồ Tát này chẳng thấy hai cõi ấy, cũng chẳng thấy
thiền định ấy, cũng chẳng thấy người nhập thiền, cũng
chẳng thấy ngươi dùng pháp ấy nhập thiền, chẳng thấy
chỗ nhập thiền.
Nếu
ở nơi pháp ấy mà chẳng có được. Bấy giờ Bồ Tát liền
hay đầy đủ Thiền na ba la mật vô tướng.
Bồ
Tát dùng Thiền na ba la mật vô tướng này có thể vượt hơn
bực Thanh Văn, Bích Chi Phật.
- Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát do đầy đủ Thiền ba
la mật vô tướng mà hay vượt hơn bực Thanh Văn, Bích Chi
Phật.
- Này
Tu Bồ Ðề! Bồ Tát này khéo học nội không, khéo học ngoại
không, nhẫn đến khéo học vô pháp hữu pháp không. Nơi các
thứ không ấy, không có pháp để làm chỗ an trụ được,
như hoặc là quả Tu Ðà Hoàn, hoặc là quả Tư Ðà Hàm, nhẫn
đến nhứt thiết chủng trí. Những pháp không này cũng không.
Ðại
Bồ Tát thật hành những pháp không như vậy hay vào trong bực
Bồ Tát.
- Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là bực đại Bồ Tát? Thế nào là
chẳng phải bực?
- Này
Tu Bồ Ðề! Tất cả sở hữu đắc là chẳng phải bực Bồ
Tát. Tất cả vô sở đắc là bực Bồ Tát.
- Bạch
đức Thế Tôn! Những gì là hữu sở đắc? Những gì là vô
sở đắc?
- Này
Tu Bồ Ðề! Sắc là hữu sở đắc, thọ, tưởng, hành, thức
là hữu sở đắc. Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý là hữu
sở đắc, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí là hữu sở đắc.
Ðây là chẳng phải bực Bồ Tát.
Này
Tu Bồ Ðề! Bực Bồ Tát là các pháp ấy chẳng chỉ bày được,
chẳng nói phô được.
Các
pháp nào chẳng chỉ bày được? Ðó là sắc nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí.
Tại
sao?
Này
Tu Bồ Ðề! Sắc tánh là chẳng chỉ được, chẳng nói được,
nhẫn đến nhứt thiết chủng trí tánh là chẳng chỉ được,
chẳng nói được. Như thế gọi là Bồ Tát.
Bồ
Tát vào trong bực Bồ Tát rồi, tất cả thiền định tam muội
đầy đủ còn chẳng theo sức của thiền định để sanh,
huống là an trụ trong tham, sân, si, để sanh khởi những tội
nghiệp ư?
Bồ
Tát an trụ trong pháp như huyễn lợi ích cho chúng sanh, nhưng
cũng chẳng thấy có chúng sanh, cũng chẳng thấy có huyễn.
Nếu tất cả không thấy có được thì hay thành tựu chúng
sanh, thanh tịnh Phật độ.
Này
Tu Bồ Ðề! Như thế gọi là Bồ Tát đầy đủ Thiền ba la
mật vô tướng hay chuyển pháp luân, đó là pháp luân không
có được.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật
biết tất cả pháp như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm,
như huyễn, như hóa.
- Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là Ðại Bồ Tát biết tất cả pháp
như mộng, như hưởng, như ảnh như diệm, như huyễn, như
hóa?
- Này
Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát chẳng
thấy mộng, chẳng thấy người thấy mộng, chẳng thấy hưởng,
chẳng thấy người nghe hưởng, chẳng thấy ảnh, chẳng thấy
người thấy ảnh, chẳng thấy diệm, chẳng thấy người thấy
diệm, chẳng thấy huyễn, chẳng thấy hóa, chẳng thấy người
thấy hóa.
Tại
sao? Vì những mộng, hưởng, ảnh, diệm, huyễn và hóa ấy
là pháp điển đảo của kẻ phàm, người ngu vậy.
A La
Hán chẳng thấy mộng, chẳng thấy người thấy mộng, nhẫn
đến chẳng thấy hóa, chẳng thấy người thấy hóa.
Bích
Chi Phật, Ðại Bồ Tát và chư Phật đều cũng chẳng thấy
mộng, chẳng thấy người thấy mộng, nhẫn đến chẳng thấy
hóa, chẳng thấy người thấy hóa.
Tại
sao? Vì tất cả pháp không có tánh sở hữu, chẳng sanh, chẳng
định.
Nếu
là pháp không có tánh sở hữu, chẳng sanh, chẳng định thì
thế nào Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật lại ở trong
ấy nắm lấy tướng sanh, tướng định, việc ấy chẳng phải
vậy.
Thiệt
vậy, này Tu Bồ Ðề! Hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát chẳng
trước chấp nơi sắc nhẫn đến chẳng trước chấp nơi thức,
chẳng trước chấp Dục, Sắc, Vô sắc ba cõi, chẳng trước
chấp các thiền, các giải thoát tam muội, chẳng trước chấp
tứ niệm xứ nhẫn đến bát thánh đạo, chẳng chấp trước
không tam muội, vô tướng tam muội, vô tác tam muội, chẳng
chấp trước Ðàn na ba la mật nhẫn đến Bát nhã ba la mật.
Do
vì chẳng chấp trước nên hay đầy đủ Bồ Tát sơ địa.
Trong sơ địa cũng chẳng trước chấp.
Tại
sao? Vì Bồ Tát này còn chẳng thấy có được địa ấy, huống
là sanh lòng trước chấp! Nhẫn đến thập địa cũng vậy.
Ðại
Bồ Tát này hành Bát nhã ba la mật cũng chẳng thấy có được
Bát nhã ba la mật.
Nếu
lúc hành Bát nhã ba la mật chẳng thấy có được Bát nhã
ba la mật, thì lúc ấy thấy tất cả pháp đều vào trong Bát
nhã ba la mật, cũng chẳng thấy có được các pháp ấy. Vì
các pháp ấy cùng Bát nhã ba la mật không hai, không khác.
Tại
sao? Vì các pháp vào trong như, pháp tánh, thiệt tế nên là
vô phân biệt.
- Bạch
đức Thế Tôn! Nếu các pháp vô tướng, vô phân việt sao
lại nói là thiện, là bất thiện, là hữu lậu, là vô lậu,
là thế gian, là xuất thế gian, là hữu vi là vô vi?
- Này
Tu Bồ Ðề! Theo ý ông thế nào? Trong thiệt tướng của các
pháp, có pháp nào nói được là thiện, là bất thiện, nhẫn
đến hữu vi, vô vi chăng? Có pháp nào nói được là quả
Tu Ðà Hoàn, nhẫn đến A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Vô
Thượng Bồ Ðề chăng?
- Bạch
đức Thế Tôn! Chẳng nói được.
- Này
Tu Bồ Ðề! Vì nhơn duyên như vậy nên phải biết tất cả
pháp vô tướng, vô phân biệt, không sanh, không định, chẳng
chỉ bày, nói phô được.
Này
Tu Bồ Ðề! Ngày trước lúc ta hành Bồ Tát đạo, cũng không
có pháp nào có tánh được hoặc là sắc, hoặc là thọ, tưởng,
hành, thức nhẫn đến hoặc là hữu vi hoặc là vô vi, hoặc
là quả Tu Ðà Hoàn nhẫn đến Vô Thượng Bồ Ðề.
Như
vậy, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật
từ lúc mới phát tâm đến lúc thành Vô Thượng Bồ Ðề
phải khéo học các pháp tánh.
Vì
khoa học các pháp tánh nên gọi là đạo Vô Thượng Bồ Ðề.
Hành
đạo ấy hay đầy đủ sáu ba la mật, thành tựu chúng sanh,
thanh tịnh Phật độ.
An
trụ trong pháp ấy được Vô Thượng Bồ Ðề, dùng pháp tam
thừa độ thoát chúng sanh, cũng chẳng chấp trước pháp tam
thừa.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát dùng pháp vô tướng phải học Bát
nhã ba la mật như vậy”.
PHẨM
TỨ NHIẾP
THỨ
BẢY MƯƠI TÁM
Ngài
Tu Bồ Ðề bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu
các pháp như như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như
huyễn, như hóa, không có thiệt sự, không có tánh, tự tướng
rỗng không, thì làm thế nào phân biệt là pháp lành, pháp
chẳng lành, là pháp thế gian, là pháp xuất thế gian, là pháp
hữu lậu, là pháp vô lậu, là pháp vô lậu, là pháp hữu
vi, là pháp vô vi, là pháp hay được quả Tu Ðà Hoàn, quả
Tư Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, là pháp hay được
đạo Bích Chi Phật, là pháp hay được Vô Thượng Bồ Ðề?”
Ðức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Ðề: “Kẻ phàm, người ngu có mộng,
có người thấy mộng, nhẫn đến có hóa, có người thấy
hóa. Họ phát khởi thân, khẩu, ý gây nghiệp thiện, nghiệp
bất thiện, nghiệp vô ký, nghiệp phước, nghiệp tội, nghiệp
bất động.
Ðại
Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật an trụ trong hai thứ không:
tất cánh không và vô thỉ không, vì chúng sanh mà thuyết pháp
rằng:
Các
chúng sanh này! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức rỗng không,
không có sở hữu; thập nhị thập, thập bát giới rỗng không,
không có sở hữu.
Sắc
thọ, tưởng, hành, thức, thập nhị thập, thập bát giới
là mộng, là hưởng, là ảnh, là diệm, là huyễn, là hóa.
Trong
đó không có năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, không
có mộng cũng không có người thấy mộng, không có hưởng
cũng không có người nghe hưởng, không có ảnh cũng không
có người thấy ảnh, không có diệm cũng không có người
thấy diệm, không có huyễn cũng không có người thấy huyễn,
không có hoá cũng không có người thấy hóa.
Tất
cả pháp không có căn bổn, thiệt tánh vô sở hữu.
Các
người ở trong không có ấm lại thấy có ấm, không có nhập
lại thấy có nhập, không có giới lại thấy có giới.
Tất
cả pháp ấy đều từ nhơn duyên hòa hợp mà sanh. Do tâm điên
đảo mà khởi, thuộc nghiệp quả báo.
Tại
sao các người ở trong những pháp rỗng không, không có căn
bổn mà lại nắm lấy tướng căn bổn?
Lúc
bấy giờ Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật dùng sức phương
tiện ở trong pháp xan tham mà cứu thoát chúng sanh ra, dạy
họ thật hành Ðàn na ba la mật, giữ công đức bố thí này
được phước báo lớn. Từ nơi phước báo lớn cứu thoát
ra, dạy họ trì giới, nương công đức trì giới, được
sanh chỗ tôn quý trên Trời. Rồi lại cứu thoát ra, dạy họ
an trụ sơ thiền, do công đức sơ thiền, sanh Trời Phạm Thiên,
nhẫn đến dạy họ an trụ nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,
không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi
phi tưởng xứ cũng như vậy.
Chúng
sanh thật hành bố thí ấy và quả báo bố thí, trì giới
và quả báo trì giới, thiền định và quả báo thiền định,
từ nơi đó mà cứu thoát họ, đặt họ nơi vô dư Niết Bàn,
đó là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn,
ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo phần, không, vô
tướng, vô tác giải thóat môn, bát bội xả, cửu thứ đệ
định, thập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí, thập bát
bất cộng pháp.
Bồ
Tát làm an ổn chúng sanh, cho họ an trụ trong pháp vô lậu
của bực thánh, không sắc, không hình, không đối.
Có
ai có thể được quả Tu Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A Na Hàm,
quả A La Hán, đạo Bích Chi Phật thì Bồ Tát an ổn giáo hóa,
làm cho họ an trụ quả Tư Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La
Hán, đạo Bích Chi Phật.
Có
ai có thể được Vô Thượng Bồ Ðề thì Bồ Tát an ổn giáo
hóa làm cho họ an trụ Vô Thượng Bồ Ðề”.
- Bạch
đức Thế Tôn! Chư Ðại Bồ Tát là hi hữu khó theo kịp.
Các Ngài hay thật hành Bát nhã ba la mật sâu xa này.
Các
pháp không có tánh là rốt ráo không, vô thỉ không, mà các
ngài phân biệt các pháp là thiện, là bất thiện, là hữu
lậu, là vô lậu, nhẫn đến là hữu vi là vô vi.
- Ðúng
như vậy. Này Tu Bồ Ðề! Chư Ðại Bồ Tát rất là hi hữu
khó theo kịp, hay thật hành Bát nhã ba la mật sâu xa này. Các
pháp không có tánh, rốt ráo không, vô thỉ không, mà các Ngài
phân biệt các pháp.
Này
Tu Bồ Ðề! Nếu các ông biết pháp của Ðại Bồ Tát này
là rất hi hữu khó theo kịp, thì biết rằng tất cả hàng
Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng có thể được, huống là người
khác.
- Bạch
đức Thế Tôn! Những gì là pháp hi hữu khó theo kịp của
Ðại Bồ Tát mà tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật không
thể có được?
- Này
Tu Bồ Ðề! Nên nhứt tâm lắng nghe. Có Ðại Bồ Tát hành
Bát nhã ba la mật an trụ trong báo đắc sáu ba la mật, và
an trụ rong báo đắc ngũ thần thông, ba mươi bảy phẩm trợ
đạo, các đà la ni, các trí vô ngại, đi qua đến cõi nước
mười phương, có ai đáng dùng bố thí được độ thì dùng
bố thí nhiếp họ, có ai dùng trì giới được độ thì dùng
trì giới nhiếp họ, có ai đáng dùng nhẫn nhục, tinh tiến,
thiền định, trí huệ để nhiếp họ. Có ai đáng dùng sơ
thiền được độ thì dùng sơ thiền để nhiếp họ. Có ai
đáng dùng nhị thiền, tam thiền nhẫn đến phi phi tưởng
xứ được độ thì theo chỗ thích ứng mà nhiếp lấy họ.
Có ai nên dùng từ, bi, hỉ, xả được độ thì dùng từ bi
hỉ xả để nhiếp họ. Cá ai nên dùng tứ niệm xứ, tứ
chánh cần, có ai nên dùng tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ
như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo
phần, không tam muội, vô tác tam muội được độ thì theo
chỗ thích ứng để nhiếp lấy họ.
- Bạch
đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát dùng bố thí lợi ích chúng sanh
thế nào?
- Này
Tu Bồ Ðề! Lúc hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát bố thí tùy
chỗ chúng sanh cần dùng mà cung cấp tất cả cho họ, như
là thức ăn, món uống, Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, y phục,
xe ngựa, hương hoa, anh lạc v.v… đồng như cúng dường chư
Phật, A La Hán, A Na Hàm, Tư Ðà hàm, Tu Ðà Hoàn không khác.
Hoặc bố thí cho bực đã nhập chánh đạo, người phàm, dưới
đến chim thú đều không phân biệt sai khác, bố thí đồng
đẳng.
Tại
sao? Vì tất cả pháp chẳng khác, chẳng phân biệt nên Bồ
Tát này không khác, không phân biệt.
Bố
thí như vậy rồi sẽ được báo pháp vô phân biệt, đó là
nhứt thiết chủng trí.
Này
Tu Bồ Ðề! Nếu Ðại Bồ Tát thấy kẻ ăn xin mà quan niệm
rằng: Phật là phước điền, ta nên cúng dường, chim thú
chẳng phải là phước điền, ta chẳng nên bố thí thì chẳng
phải là pháp Bồ Tát.
Tại
sao? Ðại Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề chẳng nghĩ
rằng: Chúng sanh này nên bố thí lợi ích, chúng sanh này chẳng
nên bố thí, do vì bố thí chúng sanh này được sanh dòng lớn
Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, Cư Sĩ, nhẫn đến do vì bố thí
nên dùng pháp tam thừa độ họ vào vô dư Niết Bàn.
Nếu
có chúng sanh đến xin, Bồ Tát chẳng sanh lòng phân biệt sai
khác: nên cho người này, không nên cho người này.
Tại
sao? Vì Bồ Tát vì những chúng sanh này mà phát tâm Vô Thượng
Bồ Ðề, nếu còn phân biệt chọn lựa thì sa vào chỗ quở
trách của chư Phật, Bồ Tát, Bích Chi Phật, Thanh Văn và tất
cả Trời, Người, thế gian.
Ai
thỉnh Ngài cứu tất cả chúng sanh! Ngài là nhà của tất
cả chúng sanh, là chỗ hỗ trợ tất cả chúng sanh, là chỗ
nương tựa của tất cả chúng sanh mà lại phân biệt, lựa
chọn nên cho, chẳng nên cho.
Lại
nữa, lúc Ðại Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật, hoặc có người
hay Phi Nhơn đến muốn cầu xin thân thể, tay chưn của Bồ
Tát, bấy giờ Bồ Tát chẳng nên sanh hai lòng: nên cho hay chẳng
nên cho.
Tại
sao? Vì Ðại Bồ Tát vì chúng sanh mà thọ thân, nay chúng sanh
đến lấy đâu nên chẳng cho. Bồ Tát phải quan niệm rằng
tôi vì lợi ích chúng sanh mà thọ thân này, chúng sanh chẳng
xin còn phải cho họ, huống là xin mà lại chẳng cho!
Ðại
Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật phải học như vậy.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Nếu thấy có người đến xin, Ðại
Bồ Tát phải quan niệm: Trong đây ai cho, ai nhận, gì là vật
cho? Tất cả pháp ấy đều không có tự tánh, vì là rốt
ráo không vậy. Pháp không tướng thì không có cho, không có
giựt. Tại sao? Vì là rốt ráo không, là nội không, là ngoại
không, là nội ngoại không, là đại không, là đệ nhứt nghĩa
không, là tự tướng không. An trụ trong các thứ không ấy
mà bố thí thì đầy đủ Ðàn na ba la mật. Vì đầy đủ
Ðàn na ba la mật nên nếu bị đâm chém thân thể hay bị cướp
giựt tài vật, Bồ Tát này liền nghĩ rằng: Chặt chém ta
là ai? Cướp giựt của ta là ai?
Này
Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy phương Ðông
có hằng sa Ðại Bồ Tát, vào địa ngục làm cho lửa tắt,
nước sôi lạnh, dùng ba sự để giáo hóa: một là thần thông,
hai là biết tâm niệm kẻ khác, ba là thuyết pháp.
Bồ
Tát này dùng sức thần thông làm cho trong Ðịa ngục lửa
tắt, nước sôi lạnh, biết tâm niệm kẻ khác, dùng từ bi
hỉ xả tùy ý thuyết pháp. Những chúng sanh ấy ở nơi Bồ
Tát sanh lòng thanh tịnh, thoát khỏi địa ngục rồi lần lần
do pháp tam thừa mà được hết khổ sanh tử.
Như
phương Ðông, chín phương kia cũng vậy.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn quan sát trong hằng
sa quốc độ mười phương, thấy chư Bồ Tát hầu hạ chư
Phật, cung cấp đồ cần dùng, mến kính chư Phật. Nếu chư
Phật có dạy bảo thì chư Bồ Tát ấy đều hay thọ trì tất
cả nhẫn đến lúc thành Vô Thượng Bồ Ðề trọn chẳng
quên sót.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn quan sát mười phương
hằng sa quốc độ, thấy chư đại Bồ Tát vì Súc sanh mà
xả thân thể phân tán các nơi, có Súc sanh nào ăn thịt của
Ðại Bồ Tát ấy đều sanh lòng mến kính. Do có lòng mến
kinh Bồ Tát nên thoát ly loài Súc sanh, được gặp chư Phật,
nghe pháp tu hành, do ba thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật và Phật
pháp mà nhập vô dư Niết Bàn.
Như
vậy, này Tu Bồ Ðề! Chư Ðại Bồ Tát làm lợi ích chúng
sanh rất nhiều, giáo hóa chúng sanh khiến phát tâm Vô Thượng
Bồ Ðề, đúng pháp tu hành nhẫn đến nhập vô dư Niết Bàn.
Lại
này Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy chư Ðại
Bồ Tát trong hằng sa quốc độ mười phương trừ những khổ
đói khát của hàng Ngạ quỉ. Hàng Ngạ quỉ này đều kính
mến Bồ Tát. Do sự kính mến Bồ Tát này mà được thoát
ly Ngạ quỉ, gặp Phật nghe pháp, tu hành đúng pháp, lần lần
do ba thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật, Phật thừa mà nhập vô
dư Niết Bàn.
Ðại
Bồ Tát vì độ chúng sanh mà thật hành tâm đại bi như vậy.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy chư
Ðại Bồ Tát ở trên Trời Tứ Thiên Vương thuyết pháp. Cũng
thuyết pháp tại cung trời Ðao Lợi, Trời Dạ Ma, Trời Ðâu
Suất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa. Chư Thiên nghe Bồ Tát
thuyết pháp, lần lần do ba thừa mà được diệt độ.
Này
Tu Bồ Ðề! Trong hàng Thiên chúng này, nếu có ai say mê ngũ
dục, Bồ Tát hiện lửa nổi dậy đốt cháy cung điện họ
rồi thuyết pháp cho họ: Này chư Thiên! Tất cả pháp hữu
vi đều vô thường, đâu có an ổn được.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðức Như Lai dùng Phật nhãn thấy hàng
Phạm Thiên trong hằng sa quốc độ ở mười phương thế giới
chấp lấy tà kiến. Chư Bồ Tát dạy họ xa rời tà kiến
mà bảo rằng: Sao các Ngài ở trong các pháp hư vọng không
tướng mà lại sanh tà kiến!
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát an trụ tâm đại từ vì chúng sanh
mà thuyết pháp.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðó là pháp hi hữu khó theo kịp của Ðại Bồ
Tát vậy.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Ðức Như lai dùng Phật nhãn thấy chư
Ðại Bồ Tát trong hằng sa quốc độ mười phương thế giới
dùng bốn sự để nhiếp lấy chúng sanh. Ðó là bố thí, ái
ngữ, lợi ích và đồng sự.
Thế
nào là Bồ Tát dùng bố thí để nhiếp lấy chúng sanh?
Này
Tu Bồ Ðề! Bồ Tát dùng hai thứ bố thí để nhiếp lấy
chúng sanh. Ðó là tài thí và pháp thí.
Những
gì là tài thí nhiếp lấy chúng sanh?
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát đem các thứ bảo vật: vàng, bạc,
lưu ly, pha lê, chơn châu, kha bối, san hô v.v…, hoặc đem đồ
uống ăn, Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý phục, mền mùng,
phòng nhà, đèn đuốc, hoa hương, anh lạc, hoặc con trai, con
gái, hoặc bò, dê, voi, ngựa, xe cộ, hoặc đem thân thể mình
mà cung cấp cho chúng sanh. Bồ Tát bảo chúng sanh rằng: Các
ngươi nếu có cần dùng gì thì đến lấy như đến lấy vật
của mình chớ có nghi ngại. Bố thí xong, Bồ Tát này dạy
cho họ pháp tam quy: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Hoặc
dạy họ thọ ngũ giới, thọ bát trai giới, hoặc dạy sơ
thiền, nhẫn đến phi tưởng, phi phi tưởng định, hoặc dạy
từ bi hỉ xả, hoặc dạy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
niệm giới, niệm xả, niệm Thiên, hoặc dạy quán bất tịnh,
quán xuất nhập tức, hoặc tướng hoặc xúc, hoặc dạy họ
tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ
lực, thất giác phần, bát thánh đạo phần, không tam muội,
vô tướng tam muội, vô tác tam muội, bát bội xả, cửu thứ
đệ định, thập lực, tứ vô úy, tứ vô ngại trí, thập
bát bất cộng pháp, đại từ đại bi, ba mươi hai tướng,
tám mươi tùy hình hảo, hoặc dạy quả Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà
Hàm, A Na Hàm, A La Hán, đạo Bích Chi Phật, hoặc dạy Vô Thượng
Bồ Ðề.
Như
vậy, này Tu Bồ Ðề! Hành Bát nhã ba la mật, Ðại Bồ Tát
dùng sức phương tiện giáo hóa chúng sanh: tài thí xong lại
dạy cho họ được Niết Bàn an ổn vô thượng. Ðây gọi
là pháp hi hữu khó theo kịp của Ðại Bồ Tát.
Này
Tu Bồ Ðề! Thế nào là Bồ Tát dùng pháp thí nhiếp chúng
sanh?
Này
Tu Bồ Ðề! Pháp thí có hai thứ: một là thế gian, hai là
xuất thế gian?
Những
gì là pháp thí thế gian?
Trình
bày dạy rõ pháp thế gian như là quán bất tịnh, quán xuất
nhập tức, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định.
Những pháp thế gian như vậy với những pháp cùng đồng với
pháp sở hành của phàm phu, thì gọi là pháp thí thế gian.
Bồ
Tát này pháp thí thế gian như vậy rồi dùng nhiều các giáo
hóa cho họ xa rời pháp thế gian. Xa rời pháp thế gian xong,
Bồ Tát dùng sức phương tiện làm cho họ được pháp vô
lậu của bực Thánh và quả vô lậu của bực Thánh.
Những
gì là pháp vô lậu của bực Thánh?
Những
gì là quả vô lậu của bực Thánh?
Pháp
vô lậu của bực Tháh là ba mươi bảy phẩm trợ đạo và
ba môn giải thoát.
Quả
vô lậu của bực Thánh là quả Tu Ðà Hoàn, nhẫn đến quả
A La Hán, đạo Bích Chi Phật, Vô Thượng Bồ Ðề.
Lại
nữa, này Tu Bồ Ðề! Pháp Thánh vô lậu của Ðại Bồ Tát
còn có trí huệ trong quả Tu Ðà Hoàn nhẫn đến trí huệ
trong quả A La Hán, trí huệ trong đạo Bích Chi Phật, trí huệ
trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trí huệ trong sáu ba la
mật nhẫn đến trí huệ trong đại từ đại bi.
Tất
cả pháp như vậy, hoặc pháp thế gian, xuất thế gian, trí
huệ, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc vô
vi, nhứt thiết chủng trí trong pháp ấy thì gọi là pháp Thánh
vô lậu của Ðại Bồ Tát.
Những
gì là quả Thánh vô lậu?
Dứt
tất cả chủng tập phiền não thì gọi quả Thánh vô lậu.
- Bạch
đức Thế Tôn! Ðại Bồ Tát có được nhứt thiết chủng
trí chăng?
- Này
Tu Bồ Ðề! Ðúng như vậy, Ðại Bồ Tát được nhứt thiết
chủng trí.
- Bạch
đức Thế Tôn! Bồ Tát với Phật có những gì khác?
- Này
Tu Bồ Ðề! Có khác. Ðại Bồ Tát được nhứt thiết chủng
trí thì gọi là Phật.
Tại
sao? Vì tâm Bồ Tát cùng tâm Phật không khác.
Bồ
Tát an trụ trong nhứt thiết chủng trí, đối với tất cả
pháp không pháp nào chẳng soi sáng.
Ðây
gọi là Ðại Bồ Tát thế gian pháp thí.
Này
Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát nhơn thế gian pháp thí mà được
xuất thế gian pháp thí.
Như
vậy, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ Tát giáo hóa chúng sanh cho
họ được pháp thế gian, dùng sức phương tiện dạy cho họ
được pháp xuất thế gian.
Này
Tu Bồ Ðề! Những gì là pháp xuất thế gian của Bồ Tát?
Những pháp chẳng cùng đồng với pháp phàm phu. Ðó là tứ
niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực,
thất giác phần, bát thánh đạo phần, tám giải thoát môn,
bát bội xả, cửu thứ đệ định, thập lực, tứ vô úy,
tứ vô ngại trí, thập bát bất cộng pháp, ba mươi hai tướng,
tám mươi tùy hình hảo, năm trăm đà la ni môn. Ðây gọi là
pháp xuất thế gian.
Này
Tu Bồ Ðề! Thế nào là tứ niệm xứ?
Ðại
Bồ Tát quán nội thân theo thân mà quán sát, quán ngoại thân
theo thân mà quán sát, siêng năng tinh tiến dùng nhứt tâm trí
huệ quán sát, quán tập nhơn của thân do nhơn duyên sanh, quán
thân diệt, quán sát hành sanh diệt của thân tập, đạo này
không sở Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, nơi thế gian không
sở thọ. Ðó là thân niệm xứ.
Thọ
niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ cũng như vậy.
Này
Tu Bồ Ðề! Thế nào là tứ chánh cần?
Những
pháp ác bất thiện chưa sanh nên siêng năn tinh tiến.
Những
pháp ác bất thiện đã sanh, vì dứt trừ nên siêng năng tinh
tiến.
Những
pháp thiện chưa sanh, vì sanh khởi nên siêng năng tinh tiến.
Những
pháp thiện đã sanh, vì thêm lớn đầy đủ nên siêng năng
tinh tiến. Ðây gọi tứ chánh cần.
Này
Tu Bồ Ðề! Thế nào là tứ như ý túc?
Nguyện
dục tam muội quyết đoán thật hành thành tựu.
Tinh
tiến tam muội quyết đoán thật hành thành tựu.
Nhứt
tâm tam muội quyết đoán thật hành thành tựu.
Tư
duy tam muội quyết đoán thật hành thành tựu.
Ðây
gọi là tứ như ý túc.
Này
Tu Bồ Ðề! Thế nào là ngũ căn? Ðó là tín căn, tinh tiến
căn, niệm căn, định căn và huệ căn.
Này
Tu Bồ Ðề! Thế nào là ngũ lực? Ðó là tín lực, tinh tiến
lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
Thế
nào là thất giác phần? Ðó là niệm giác phần, hỉ giác
phần, khinh an giác phần, định giác phần và xả giác phần.
Thế
nào là bát thánh đạo phần? Ðó là chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến,
chánh niệm và chánh định.
Thế
nào là tam tam muội? Ðó là không tam muội môn, vô tướng
tam muội môn và vô tác tam muội môn.
Thế
nào là không tam muội? Dùng không hành và vô ngã hành để
nhiếp tâm gọi là không tam muội.
Thế
nào là vô tướng tam muội? Dùng tịch diệt hành và ly hành
để nhiếp tâm gọi là vô tướng tam muội.
Thế
nào là vô tác tam muội? Dùng vô thường hành và khổ hành
để nhiếp tâm gọi là vô tác tam muội.
Thế
nào là bát bội xả?
Trong
có tướng sắc, ngoài quán sắc là bội xả thứ nhứt.
Trong
không tướng sắc, ngoài quán sắc là bội xả thứ hai.
Tịnh
bội xả là bội xả thứ ba.
Qua
khỏi tất cả tướng sắc, diệt tướng có đối ngại, vì
chẳng nghĩ đến tất cả tướng dị biệt mà quán hư không
vô biên, nhập vô biên hư không xứ, là bội xả thứ tư.
Nhẫn
đến qua khỏi phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, nhập diệt
thọ tưởng bội xả, là bội xả thứ tám.
Thế
nào là cửu thứ đệ định?
Hành
giả rời lìa pháp ái dục, ác bất thiện có giác, có quán,
ly dục, sanh hỉ lạc, nhập sơ thiền, nhẫn đến qua khỏi
phi phi tưởng xứ, nhập diệt thọ tưởng định, gọi là
cửu thứ đệ định.
Thế
nào là mười trí lực của Phật?
Sức
trí biết đúng thiệt phải chỗ, chẳng phải chỗ.
Sức
trí biết đúng thiệt về những nghiệp, những thọ, biết
chỗ tạo nghiệp, biết nhơn duyên, biết quả báo suốt thuở
quá khứ, hiện tại và vị lai của chúng sanh.
Sức
trí biết đúng thiệt tất cả thiền định, giải thoát tam
muội.
Sức
trí biết đúng thiệt căn tánh thượng, trung hay hạ của tất
cả chúng sanh.
Sức
trí biết đúng thiệt những tri kiến hiểu biết và chỗ thích
muốn của tất cả chúng sanh.
Sức
trí biết đúng thiệt những cảnh giới sai khác của tất
cả chúng sanh.
Sức
trí biết đúng thiệt chỗ đục đến của tất cả đạo
hạnh.
Sức
trí biết đúng thiệt đời trước của tất cả chúng sanh
từ một kiếp đến vô lượng kiếp.
Sức
trí biết đúnh thiệt, dùng thiên nhãn thấy chúng sanh sanh
về đường lành, đường dữ nhẫn đến nhập Niết Bàn.
Sức
trí biết đúng thiệt vô lậu tam giải thoát.
Ðây
là mười trí lực của Phật”.