QUYỂN
THỨ MƯỜI SÁU
PHẨM
LƯỠNG BẤT HÒA HIỆP QUÁ
THỨ
BỐN MƯƠI BẢY
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Người thính pháp nơi Bát nhã
ba la mật muốn biên chép, đọc tụng, vấn nghĩa, chánh ức
niệm mà người thuyết pháp lười biếng chẳng muốn nói,
phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Người
thuyết pháp tâm chẳng lười biếng mà người nghe pháp chẳng
chịu nghe lãnh, tâm hai bên chẳng hòa hiệp, phải biết đây
là ma sự của Bồ Tát.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thính pháp muốn biên chép đến chánh
ức niệm Bát nhã ba la mật mà người thuyết pháp muốn đi
qua phương khác, phải biết đây cũng là ma sự của Bồ Tát.
Người
thuyết pháp muốn cho biên chép, thọ trì mà người thích pháp
muốn đi qua phương khác, tâm hai bên chẳng hòa hiệp, phải
biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp quý trọng của bố thí,
những y phục, thực phẩm, phòng nhà, thuốc men, người thính
pháp thiểu dục tri túc, nhiếp niệm tinh tấn, thiền định,
trí tuệ, tâm hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được
nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật,
phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Người
thuyết pháp thiểu dục tri túc, nhiếp niệm tinh tấn, thiền
định, trí huệ, người thính pháp quý trọng của bố thí,
những tứ sự tư sanh, tâm hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng
biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mậtt, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp thọ mười hai hạnh Đầu
Đà: một là thường là thường khất thực, hai là thứ đệ
khất thực, ba là nhứt tọa thực, bốn là tiết lượng thực,
năm là sau ngọ trung chẳng ẩm tương, sáu là chỉ chứa ba
y, bảy là nạp y, tám là ở a lan nhã, chín là ở trong gò
mã, mười là ở gốc cây, mười một là ở đất trống,
mười hai là ngồi luôn không nằm, người thính pháp chẳng
thọ mười hai hạnh Đầu Đà, hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng
biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Người
thính pháp thọ mười hai hạnh Đầu Đà, người thuyết pháp
chẳng thọ mười hai hạnh Đầu Đà, hai bên chẳng hòa hiệp,
chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của Bồ Tát.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp có tín tâm, có giới
hạnh, muốn biên chép, thọ trì Bát nhã ba la mật nhẫn đến
chánh ức niệm, người thính pháp không tín tâm, không giới
hạnh, chẳng muốn biên chép nhẫn đến chẳng muốn chánh
ức niệm Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự của
Bồ Tát.
Người
thính pháp có tín tâm, có giới hạnh, người thuyết pháp
không tín tâm, không giới hạnh, hai bên chẳng hòa hiệp, phải
biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết hay bố thí tất cả chẳng
lẫn tiếc, người thính pháp bỏn xẻn, chẳng thí xả, hai
bên chẳng hòa hiệp, phải biết đây là ma sự.
Người
thính pháp hay bố thí tất cả chẳng lẫn tiếc, người thuyết
pháp bỏn xẻn, chẳng thí xả, hai bên chẳng hòa hiệp, phải
biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thích pháp muốn cúng dường cho người
thuyết pháp những đồ vật tư sanh, người thuyết pháp chẳng
chịu nhận, phải biết đây là ma sự.
Người
thuyết pháp muốn cung cấp đồ tư sanh cho người thính pháp,
người thính pháp chẳng chịu nhận, hai bên chẳng hòa hiệp,
chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp dễ tỏ ngộ, người
thuyết pháp ám độn, phải biết đây là ma sự.
Người
thính pháp mau tỏ ngộ, người thính pháp ám độn, hai bên
chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được, nhẫn đến chẳng
chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây
là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp biết nghĩa thứ lớp
của mười hai bộ kinh là khế kinh nhẫn đến luận nghị,
người thính pháp chẳng biết. Hoăc người thính pháp biết
nghĩa thứ đệ của mười hai bộ kinh, người thuyết pháp
chẳng biết, hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được
nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật,
phải biết đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp thành tựu sáu ba la mật,
người thính pháp chẳng thành tựu. Hoặc người thính pháp
có sáu ba la mật, người thuyết pháp chẳng có. Hai bên chẳng
hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh
ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma
sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp có sức phương tiện
nơi sáu ba la mật, người thính pháp không có. Hai bên chẳng
hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh
ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma
sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp đắc đà la ni, người
thính pháp không đắc. Hoặc người thính pháp đắc đà la
ni, người thuyết pháp không đắc. Hai bên chẳng hòa hiệp,
chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn cho biên chép nhẫn
đến chánh ức niệm Bát nhã ba la mật, người thính pháp
chẳng muốn. Hoặc người thính pháp muốn biên chép nhẫn
đến chánh ức niệm, người thuyết pháp chẳng muốn biên
chép nhẫn đến chẳng muốn cho chánh ức niệm Bát nhã ba
la mật, hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn
đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải
biết đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp không tham dục, giận
hờn, ngủ nghỉ, điệu hối, nghi ngờ, người thính pháp có
tham dục nhẫn đến nghi ngờ. Hoặc người thính pháp lìa
ngũ cái: tham dục nhẫn đến nghi ngờ, người thuyết pháp
có ngũ cái. Hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được
nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật,
phải biết đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Lúc biên chép nhẫn đến chánh ức niệm
Bát nhã ba la mật, có người đến nói những sự thống khổ
trong ba ác đạo rồi bảo rằng sao Ngài chẳng ở tại thân
đời nầy dứt khổ nhập Niết Bàn, lại cầu Vô thượng
Bồ đề làm chi?
Hai
bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng
chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây
là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Lúc biên chép nhẫn đến chánh ức niệm
Bát nhã ba la mật, có người đến ca ngợi các cõi Trời,
ca ngợi Trời Tứ Thiên Vương đến Trời Phi Phi Tưởng, ca
ngợi sơ thiền đến phi phi tưởng định rồi bảo rằng:
Thưa Ngài, ba cõi dầu hưởng thọ phước vui nhưng cũng đều
là vô thường, là khổ không, vô ngã, tướng biến tận tán
ly. Sao ngài chẳng ở tại thân đời nầy chứng quả Tu Đà
Hoàn đến quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, lại ở trong thế
gian sanh tử chịu khổ để cầu Vô thượng Bồ đề làm chi?
Hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến
chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết
đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp một thân không phiền
lụy, tự tại vơ ngại, người thính pháp dắt theo chúng nhơn
đông, hoặc người thính pháp một thân không phiền lụy,
tự tại vô ngại, người thuyết pháp, hai bên chẳng hòa hiệp,
chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp bảo người thính pháp
rằng nếu ngươi có thể tùy theo ý ta, thời sẽ cho người
biên chép nhẫn đến chánh ức niệm Bát nhã ba la mật, bằng
không tùy theo ý ta, thời không cho. Hai bên chẳng hòa hiệp,
chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thính pháp muốn thuận theo ý người
thuyết pháp mà người thuyết pháp chẳng cho, hai bên chẳng
hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh
ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma
sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp vì muốn được tài lợi
mà cho biên chép nhẫn đến cho chánh ức niệm Bát nhã ba la
mật, người thính pháp vì cớ nầy nên chẳng chịu theo nghe.
Hoặc người thính pháp vì tài lợi mà muốn biên chép nhẫn
đến muốn chánh ức niệm Bát nhã ba la mật, vì cớ nầy
nên người thuyết pháp chẳng muốn cho. Hai bên chẳng hòa
hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức
niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ nguy nạn,
người thính pháp chẳng muốn đi theo. Hoặc người thính pháp
muốn đến xứ nguy nạn, người thuyết pháp chẳng muốn đến.
Hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến
chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết
đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ lúc mắc
nghèo đói, người thính pháp không muốn đi theo. Hoặc người
thính pháp muốn đến xứ đói khát, người thuyết pháp chẳng
muốn đến. Hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được
nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật,
phải biết đều là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ giàu vui,
người thính pháp muốn đi theo. Người thuyết pháp bảo rằng
ngươi vì tài lợi mà đi theo ta, ngươi nên suy nghĩ kỹ, hoặc
được tài lợi hoặc chẳng được, chớ để ngày sau ăn
năn, người thính pháp nghe nói cho rằng không muốn mình đi
theo nên sanh lòng chán mà không đi. Hai bên chẳng hòa hiệp,
chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp muốn đến xứ hoang vắng
có nạn giặc ướp, ác thú, độc trùng, người thính pháp
muốn đi theo. Người thuyết pháp bảo rằng ngươi đến xứ
hoang vắng hiểm nạn làm chi. Người thính pháp nghe nói cho
rằng không muốn cho mình biên chép nhẫn đến chánh ức niệm
Bát nhã ba la mật, sanh lòng chán chẳng đi theo. Hai bên chẳng
hòa hiệp, đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp có nhiều thí chủ, thường
đến nhà họ viếng thăm, bảo người thính pháp rằng ta có
việc phải đến nhà họ. Người thính pháp biết ý bèn chẳng
cùng đi. Hai bên chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn
đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải
biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ác ma làm Tỳ Kheo đến chỗ thiện nam, thiện
nữ dùng phương tiện phá hoại chẳng cho biên chép nhẫn đến
chánh ức niệm Bát nhã ba la mật”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Ác ma làm Tỳ Kheo
dùng cách nào để phá hoại?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Ác ma làm Tỳ Kheo đến chỗ
thiện nam, thiện nữ mà bảo rằng kinh của ta nói mới là
Bát nhã ba la mật, còn kinh đó không phải. Lúc ác ma dùng
lời phá hoại tín tâm như vậy, có thiện nam, thiện nữ chưa
được tho ký bèn sanh lòng nghi, vì nghi nên chẳng biên chép
nhẫn đến chẳng chánh ức niệm Bát nhã ba la mật. Chẳng
hòa hiệp, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ác ma làm Tỳ Kheo đến bảo rằng Bồ Tát
thật hành Bát nhã ba la mật, chứng thiệt tế được quả
Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả Bích Chi Phật. Do đó mà chẳng
hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng chánh
ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma
sự.
Nầy
Tu Bồ Đề! Lúc nói Bát nhã ba la mật sâu xa nầy, có nhiều
ma sự khởi lên làm trở ngại. Đại Bồ Tát phải sớm biết
để xa lìa”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Những ma sự gì làm
trở ngại Bát nhã ba la mật mà Bồ Tát phải sớm biết để
xa lìa?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Tương tợ Bát nhã ba la mật
nhẫn đến Đàn na ba la mật là ma sự phát khởi. Bồ Tát
phải sớm biết để xa lìa.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Những kinh sở hành của hàng Thanh văn, Bích
Chi Phật là ma sự của Bồ Tát, phải sớm hay biết xa lìa.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ác ma làm Tỳ Kheo tìm phương tiện trao cho
Bồ Tát những kinh dạy về nội không, ngoại không nhẫn đến
vô pháp hữu pháp không, dạy về tứ niệm xứ nhẫn đến
bát chánh đạo, ba môn giải thoát, không, vô tướng, vô tác
để được quả Tu Đà Hoàn đến quả Bích Chi Phật. Do đó
chẳng hòa hiệp, chẳng biên chép được nhẫn đến chẳng
chánh ức niệm được Bát nhã ba la mật, phải biết đây
là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ác ma do hóa làm Phật thân vàng trượng lục
chói sáng đến chỗ Bồ Tát. Vì ham thích thân Phật nầy mà
Bồ Tát hao tổn chánh trí huệ. Do đó chẳng hòa hiệp, chẳng
biên chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được
Bát nhã ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ác ma hóa làm Phật và chúng Tỳ Kheo đến
chỗ Bồ Tát. Các Tỳ Kheo nầy nói pháp cho Bồ Tát. Bồ Tát
ham thích tự nghĩ rằng đời sau tôi cũng sẽ được như vậy.
Vì ham thích thân ma mà hao tổn chánh trí huệ, chẳng biên
chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã
ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Ác ma hóa làm vô số Bồ Tát thật hành sáu
ba la mật, chỉ dạy cho thiện nam, thiện nữ. Vì ham thích
mà thiện nam, thiện nữ hao tổn chánh trí huệ, chẳng biên
chép được nhẫn đến chẳng chánh ức niệm được Bát nhã
ba la mật, phải biết đây là ma sự.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy không có sắc
thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến không có nhứt thiết
chủng trí.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì không có sắc nhẫn đến không có nhứt thiết
chủng trí, nên trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy không có
Phật, không có Bồ Tát, Thanh văn , Bích Chi Phật. Tại sao
vậy? Vì tất cả pháp tự tánh không vậy.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Như vàng bạc châu ngọc ở Diêm Phù Đề
có nhiều nạn, nhiều cướp. Cũng vậy, lúc thiện nam, thiện
nữ biên chép nhẫn đến chánh ức niệm Bát nhã ba la mật
phát khởi nhiều nạn, nhiều oán”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đúng như vậy. Vàng
bạc châu ngọc trong Diêm Phù Đề có nhiều nạn, nhiều cướp.
Lúc thiện nam, thiện nữ biên chép nhẫn đến chánh ức niệm
Bát nhã ba la mật phát khởi nhiều nạn, nhiều oán, nhiều
ma sự.
Tại
sao vậy? Hạng người ngu si bị ma sai sử mà phá hoại, xa
lìa công việc biên chép nhẫn đến chánh ức niệm Bát nhã
ba la mật sâu xa.
Bạch
đức Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ ngu si ít trí ít huệ
nầy lúc biên chép nhẫn đến lúc chánh ức niệm Bát nhã
ba la mật sâu xa lại phá hoại, xa lìa.
Bạch
đức Thế Tôn! Hạng người ngu si nầy lòng họ chẳng thích
pháp Đại thừa nên họ chẳng biên chép, đọc tụng, thọ
trì, chánh ức niệm, chẳng tu hành đúng như lời, họ lại
phá hoại người khác chẳng cho biên chép nhẫn đến chánh
ức niệm”.
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Hàng thiện nam,
thiện nữ mới phát tâm Đại thừa vì bị ma sai sử, chẳng
gieo căn lành, chẳng cúng dường chư Phật, chẳng theo thiện
tri thức nên chẳng biên chép nhẫn đến chánh ức niệm Bát
nhã ba la mật mà lại làm sự lưu nạn.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam, thiện nữ hay biên chép nhẫn
đến chánh ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa nầy thì ma sự
chẳng phát khởi. Người nầy đầy đủ Thiền na ba la mật
nhẫn đến Đàn na ba la mật, đầy đủ được tứ niệm xứ
nhẫn đến nhứt thiết chủng trí.
Nầy
Tu Bồ Đề! Phải biết đó là do Phật lực nên thiện nam,
thiện nữ ấy có thể biên chép được nhẫn đến chánh ức
niệm được Bát nhã ba la mật sâu xa nầy, cũng đầy đủ
được Thiền na ba la mật nhẫn đến Đàn na ba la mật, đầu
đủ được nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không,
đầy đủ được tứ niệm xứ nhẫn đến nhứt thiết chủng
trí.
Nầy
Tu Bồ Đề! Hiện tại mười phương vô lượng vô biên vô
số chư Phật, chư đại Bồ Tát bất thối chuyển cũng trợ
giúp ủng hộ cho thiện nam, thiện nữ nầy biên chép nhẫn
đến chánh ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa”.
●
PHẨM
PHẬT MẪU
THỨ
BỐN MƯƠI TÁM
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Ví như bà mẹ có con trai, hoặc
năm hoặc mười hoặc trăm ngàn người con trai. Bà mẹ phải
bịnh, các con đều lo buồn cần cầu cứu chữa, vì nhớ ơn
mẹ sanh dục và dạy dỗ mình.
Cũng
vậy, nầy Tu Bồ Đề! Phật và chư Phật hiện tại mười
phương đều thường dùng Phật nhãn nhìn Bát nhã ba la mật
sâu xa nầy.
Tại
sao vậy? vì Bát nhã ba la mật sâu xa nầy hay hiển thị tướng
thế gian, hay xuất sanh chư Phật, hay cho nhứt thiết chủng
trí, cũng hay sanh Thiền ba la mật nhẫn đến Đàn na ba la mật,
hay sanh nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không, hay sanh
tứ niệm xứ nhẫn đến nhứt thiết chủng trí, hay sanh Tu
Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, hay
sanh chư Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Chư Phật đã được Vô thượng Bồ đề, chư
Phật hiện nay được cùng chư Phật sẽ được đều do Bát
nhã ba la mật sâu xa nầy mà được.
Nầy
Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo nên biên
chép nhẫn đến chánh ức niệm Bát nhã ba la mật sâu xa nầy.
Chư Phật thường dùng Phật nhãn nhìn người nầy, gia hộ
cho họ được chẳng thối chuyển Vô thượng Chánh giác”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Như lời đức Phật
dạy, Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay hiển thị tướng
thế gian.
Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật?
Hay hiển thị tướng thế gian? Thế nào là chư Phật từ Bát
nhã ba la mật sanh? Chư Phật nói tướng thế gian như thế
nào?
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Trong Bát nhã ba la mật sâu xa
nầy xuất sanh mười trí lực nhẫn đến nhứt thiết chủng
trí. Vì được các pháp trên đây mà gọi là Phật, nên Bát
nhã ba la mật hay sanh chư Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! “Chư Phật nói ngũ ấm là tướng thế gian”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! thế nào là trong Bát
nhã ba la mật nói ngũ ấm? thế nào là trong Bát nhã ba la mật
hiển thị tướng ngũ ấm?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Bát nhã ba la mật chẳng hiển
thị ngũ ấm phá, chẳng hiển thị ngũ ấm hoại, chẳng hiển
thị sanh, diệt, cấu, tịnh, tăng, giảm, chẳng hiện thị
xuất, nhập, chẳng hiện thị quá khứ, vị lai, hiện tại.
Tại
sao vậy?
Vì
tướng không chẳng phá chẳng hoại. Vì tướng vô tướng
chẳng phá chẳng hoại. Vì tướng vô tác chẳng phá chẳng
hoại. Vì pháp bất khởi, pháp bất sanh, pháp vô sở hữu,
pháp tánh chẳng phá chẳng hoại. Vì tướng hiển thị như
vậy nên Phật nói Bát nhã ba la mật sâu xa hay hiển thị tướng
thế gian.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà chư Phật biết rõ
tâm niệm của vô lượng vô biên vô số chúng sanh.
Nầy
Tu Bồ Đề! Trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy không chúng
sanh, không danh từ chúng sanh, không sắc, thọ, tưởng, hành,
thức, không danh từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn
đến không nhứt thiết chủng trí, không danh từ nhứt thiết
chủng trí. Thế nên Bát nhã ba la mật sâu xa nầy hay hiển
thị tướng thế gian.
Nầy
Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật sâu xa nầy chẳng hiển thị
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến chẳng hiển thị
nhứt thiết chủng trí.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật sâu xa nầy còn không Bát
nhã ba la mật huống là sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng
trí.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Có bao nhiêu danh số chúng sanh hoặc loài
có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hoặc chẳng
phải có tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không
tưởng, ở quốc độ nầy nhẫn đến khắp quốc độ mười
phương. Những chúng sanh ấy hoặc nhiếp tâm, đức Phật đều
biết thiệt rõ tất cả tâm niệm của họ.
Do
đâu mà đức Phật biết thiệt rõ tướng dạng tâm niệm
của
chúng sanh?
Vì
đức Phật dùng pháp tướng nên biết rõ.
Dùng
pháp tướng gì để biết?
Nầy
Tu Bồ Đề! Trong pháp tướng nầy còn không có tướng pháp
tướng huống là nhiếp tâm với loạn tâm. Vì dùng pháp tướng
nầy mà đức Phật biết rõ nhiếp tâm, loạn tâm của tất
cả chúng sanh.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! đức Phật biết thiệt rõ nhiếp tâm, loạn
tâm của chúng sanh.
Do
đâu mà biết?
Vì
do tận tướng nên biết, do vô nhiễm tướng nên biết, do
diệt tướng nên biết, do đoạn tướng nên biết, do tịch
tướng nên biết, do ly tướng nên biết. Đức Phật do nơi
Bát nhã ba la mật mà biết rõ nhiếp tâm, loạn tâm của tất
cả chúng sanh.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết
thiệt rõ nhiễm tâm của chúng sanh, biết thiệt rõ sân tâm,
si tâm của chúng sanh, nếu chúng sanh có nhiễm tâm, sân tâm,
si tâm.
Tại
sao đức Phật biết thiệt rõ như vậy? Nầy Tu Bồ Đề! Vì
thiệt tướng của nhiễm tâm không có tướng nhiễm, vì thiệt
tướng của sân tâm, si tâm không có tướng sân, không có
tướng si.
Tại
sao vậy? Vì trong thiệt tướng không có tâm vương, tâm sở,
huống là có được nhiễm tâm, sân tâm, si tâm, huống là
có được tâm chẳng nhiễm, chẳng sân, chẳng si.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết
thật rõ tâm nhiễm, tâm sân, tâm si của tất cả chúng sanh.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết
thiệt rõ tâm không nhiễm, không sân, không si của tất cả
chúng sanh nếu chúng sanh không tâm nhiễm sân, sân, si.
Tại
sao vậy? Vì trong tâm không nhiễm, không sân, không si nầy
chẳng có tướng nhiễm, sân, si. Vì hai tâm chẳng cùng chung
vậy. Thế nên, nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức
Phật biết rõ tâm không nhiễm, sân, si của chúng sanh nếu
có chúng sanh không có tâm nhiễm sân, si.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật, nếu chúng sanh cò quảng
tâm, đức Phật biết thiệt rõ quảng tâm của chúng sanh.
Tại
sao vậy? Vì đức Phật biết tâm tướng của chúng sanh chẳng
rộng, chẳng hẹp, chẳng tăng, chẳng giảm, chẳng đến, chẳng
đi, vì tâm tướng rời rời lìa, vì tâm tánh vốn không nên
không có gì làm rộng, làm hẹp, làm tăng, làm giảm, chẳng
đến, chẳng đi.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết
thiệt rõ đại tâm của chúng sanh. Tại sao vậy? Vì đức
Phật chẳng thấy tâm chúng sanh có tướng lai, tướng
khứ, tướng sanh, trụ, dị, diệt. Tại sao vậy? vì tâm tánh
vốn không nên không có ai đến, đi, không có sanh, trụ, dị,
diệt.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Nếu chúng sanh có đại tâm, do Bát nhã
ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ đại tâm của chúng
sanh.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Nếu chúng sanh có tâm vô lượng, do Bát nhã
ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ tâm vô lượng của
chúng sanh. Tại sao vậy? Vì do Bát nhã ba la mật mà đức Phật
biết rõ tâm ấy của chúng sanh; chẳng thấy an trụ, chẳng
thấy chẳng an trụ. Vì tướng của tâm vô lượng không chỗ
y chỉ, nào có chỗ trụ, chẳng trụ.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Chúng sanh có tâm vô lượng, do Bát nhã
ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ tâm vô lượng ấy.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Tâm chẳng thể thấy được của chúng sanh,
do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ tâm chẳng
thể thấy được ấy. Tại sao vậy? Vì tâm chúng sanh là vô
tướng, vì tự tướng vốn không, đức Phật biết thiệt
rõ vô tướng. Tâm của chúng sanh cả ngũ nhãn đều không
thấy được.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Tâm chẳng thể thấy được của chúng
sanh, do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết thiệt rõ tâm
chẳng thể thấy được ấy.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật, những tâm số xuất
một co giãn của chúng sanh, đức Phật biết thực rõ. Tại
sao vậy? Vì tất cả tâm số xuất một co giản của chúng
sanh đều y cứ nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà sanh
khởi. Ở trong ấy, đức Phật biết rõ tâm số xuất một
co giãn của chúng sanh. Đó là thần và thế gian thường, đây
là sự thiệt, ngoài ra là nói sai. Kiến thức nầy y cứ nơi
sắc thần và thế gian vô thường, đây là sự thiệt, ngoài
ra là nói sai. Kiến thức nầy y cứ nơi sắc thần và thế
gian cũng thường cũng vô thường, đây là sự thiệt, ngoài
ra là nói sai. Kiến thức nầy y cứ nơi sắc thần và thế
gian chẳng thường chẳng vô thường, đây là sự thiệt, ngoài
ra là nói sai. Kiến thức nầy y cứ nơi sắc thần và thế
gian thường, đây là sự thiệt, ngoài ra là nói sai.
Như
kiến thức nầy y cứ nơi sắc, kiến nầy y cứ nơi thọ,
y cứ nơi tưởng, y cứ nơi hành, y cứ nơi thức cũng như
vậy.
Kiến
thức nầy y cứ nơi sắc và thế gian hữu biên, đây là sự
thiệt, ngoài ra là nói sai. Kiến thức nầy y cứ nơi sắc
và thế gian vô biên, đây là sự thiệt, ngoài ra là nói sai.
Kiến thức nầy cứ nơi sắc và thế gian cũng hữu biên cũng
vô biên, đây là sự thiệt, ngoài ra là nói sai. Kiến thức
nầy y cứ nơi sắc và thế gian chẳng hữu biến chẳng vô
biên, đây là sự thiệt, ngoài ra là nòi sai.
Như
y cứ nơi sắc, kiến thức nầy y cứ nơi thọ, tưởng, hành,
thức cũng như vậy.
Thần
chính là thân.
Kiến
thức nầy y cứ nơi sắc thần khác thân khác, y cứ nơi thọ,
tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Sau
khi chết có như đi, đây là sự thiệt, ngoài ra là nói sai.
Kiến thức nầy y cứ nơi sắc, sau khi chết có như đi hoặc
không có như đi, đây là sự thiệt, ngoài ra là nói sai. Kiến
thức nầy y cứ nơi sắc, sau khi chết chẳng phải có như
đi, chẳng phải không có như đi, đây là sự thiệt, ngoài
ra là nói sai.
Như
y cứ nơi sắc, y cứ nơi thọ, tưởng, hành, thức cũng như
vậy.
Thế
nên, Nầy Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết
thiệt rõ những tâm số xuất một co giãn của chúng sanh.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! đức Phật biết rõ sắc tướng. Biết rõ
sắc tướng thế nào? Như là như tướng: chẳng hoại, không
phân biệt, không tướng, không nhớ ghi, không hí luận, không
được, sắc tướng sắc tướng cũng như vậy, cũng chẳng
hoại nhẫn đến cũng không được.
Nầy
Tu Bồ Đề! đức Phật biết rõ thọ tướng nhẫn đến biết
rõ thức tướng là chẳng hoại nhẫn đến không được như
là như tướng.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! đức Phật biết rõ chúng sanh như tướng
và chúng sanh tâm số xuất một co giãn như tướng, ngũ ấm
như tướng, chư hành như tướng, cũng chính là tất cả pháp
như tướng, đó là sáu ba la mật như tướng, đó là ba mươi
bảy phẩm trợ đạo như tướng, đó là thập bát không như
tướng, đó là bát bội xả như tướng, đó là chín thứ
đệ định như tướng, đó là mười trí lực như tướng,
đó là tứ vô úy, tứ vô ngại trí, đại từ đại bi, mười
tám pháp bất cộng như tướng, đó là nhứt thiết chủng
trí như tướng, đó là pháp thiện, pháp bất thiện, pháp
thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô lậu,
pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, pháp hữu vi, pháp vô vi
như tướng, đó là quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả
A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, quả Vô thượng
Bồ đề và chư như tướng. Chư Phật như tướng đều là
tướng nhứt như, chẳng hai chẳng khác, chẳng tận. Đây gọi
là tất cả pháp như tướng.
Đức
Phật do Bát nhã ba la mật mà được như tướng vậy.
Vì
thế nên Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay hiển thị
tướng thế gian. thế nên, nầy Tu Bồ Đề! Đức Phật biết
rõ tất cả pháp như tướng, chẳng biệt dị, chẳng phải
chẳng như. Vì được như tướng như vậy nên đức Phật
được gọi là Như Lai”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Các pháp như tướng
chẳng biệt dị, chẳng phải chẳng như ấy là rất sâu xa.
Bạch
đức Thế Tôn! Chư Phật dùng pháp ấy mà vì người nói Vô
thượng Bồ đề. Ai là người tin hiểu được? Chỉ có bức
bất thối Bồ Tát, người đầy đủ chánh kiến, bực vô
lậu A La Hán. Vì pháp nầy rất sâu xa”,
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Vì pháp nầy tướng vô tận
nên rất là sâu xa”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Pháp nào tướng vô
tận nên là rất sâu xa?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Vì tất cả pháp vô tận nên
là rất sâu xa.
Như
vậy, nầy Tu Bồ Đề! Đức Phật được tất cả pháp như
ấy rồi vì chúng sanh mà thuyết pháp”.
●
PHẨM
VẤN TƯỚNG
THỨ
BỐN MƯƠI CHÍN
Lúc
bấy giờ trong cõi Đại Thiên có chư Thiên cõi Dục, Sắc
vói rải hoa hương rồi bay đến chỗ đức Phật, đảnh lễ
chưn Phật rồi đứng qua một phía mà thưa rắng: “Bạch
đức Thế Tôn! Đã nói ba la mật rất sâu. Những gì là tướng
Bát nhã ba la mật rất sâu?”
Đức
Phật bảo chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc: “Nầy chư Thiên Tử!
Tướng không, tướng vô tướng, tướng vô tác là tướng
Bát nhã ba la mật rất sâu, tướng vô khởi, vô sanh, vô diệt,
vô cấu, vô tịnh, vô sở hữu, vô tướng, vô sở y, tướng
hư không là tướng Bát nhã ba la mật.
Nầy
chư Thiên Tử! Những tướng như là tướng Bát nhã ba la mật
rất sâu.
Đức
Phật dùng pháp thế gian để giảng nói cho chúng sanh, chớ
chẳng phải là đệ nhứt nghĩa.
Nầy
chư Thiên Tử! Các tướng ấy, tất cả Thiên, Nhơn, A Tu La
trong đời không phá hoại được. Tại sao vậy? Vì Thiên,
Nhơn, A Tu La trong đời cũng là tướng.
Nầy
chư Thiên Tử! Tướng không thể phá hoại tướng, tướng
không thể biết tướng, tướng không thể biết vô tướng,
vô tướng không thể biết tướng, tướng và vô tướng chỗ
biết cho rằng biết đó là vì pháp biết đều chẳng thể
được. Tại sao vậy? Nầy chư Thiên Tử! Các tướng chẳng
phải sắc làm ra, chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức làm
ra, chẳng phải sáu ba la mật làm ra, nhẫn đến chẳng phải
nhứt thiết chủng trí làm ra.
Nầy
chư Thiên Tử! các tướng ấy chẳng phải sở hữu của người,
của trời, chẳng phải thế gian, xuất thế gian, chẳng phải
hữu lậu, vô lậu, chẳng phải hữu vi, vô vi.
Nầy
chư Thiên Tử! Như có người hỏi rằng những gì là tướng
của hư không? Lời hỏi nầy có đúng không?
Chư
Thiên thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Lời hỏi ấy không đúng.
Vì hư không chẳng có tướng nói được, vì hư không chẳng
sanh khởi, chẳng bị làm ra”.
Đức
Phật bảo chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc: “Có Phật hay không
có Phật, tánh tướng vẫn thường trụ. Vì được tánh tướng
đúng như thiệt mà đức Phật được gọi là Như Lai”.
Chư
Thiên thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật được các pháp
tánh tướng rất sâu. Được tánh tướng ấy rồi được
vô ngại trí. An trụ trong tướng nầy dùng Bát nhã ba la mật
họp tự tướng của các pháp.
Bát
nhã ba la mật nầy là chỗ thường hành đạo của chư Phật.
Do hành đạo nầy nên được Vô thượng Chánh giác. Do được
Vô thượng Bồ đề mà thông đạt tất cả pháp tướng, hoặc
sắc tướng nhẫn đến nhứt thiết chủng trí tướng”.
Đức
Phật phán: “Đúng như vậy. Nầy chư Thiên Tử! Tướng não
hoại là tướng của sắc, cảm giác là tướng của thọ,
duyên lấy tướng của tưởng, sanh khởi tạo tác là tướng
của hành, liễu biệt là tướng của thức. Đức Phật được
không các tướng ấy.
Nầy
chư Thiên Tử! Hay xả thí là tướng Đàn na ba la mật, không
nhiệt não là tướng của Thi la ba la mật, chẳng đổi khác
là tướng của Nhẫn ba la mật, chẳng thối lui là tướng
của Tấn ba la mật, nhiếp tâm là tướng của Thiền ba la
mật, bỏ lìa là tướng Bát nhã ba la mật. Đức được không
có các tướng ấy.
Nầy
chư Thiên Tử! Lòng không nhiễu hại não loạn là tướng của
tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định. Đức Phật
được không các tướng ấy.
Nầy
chư Thiên Tử! Xuất thế gian là tướng của ba mươi bảy
phẩm trợ đạo, rời lìa là tướng của không giải thoát,
tịch diệt là tướng của vô tướng giải thoát, khổ là
tướng của vô tác giải thoát. Đức Phật được không các
tướng ấy.
Nầy
chư Thiên Tử! Siêu thắng là tướng của mười trí lực,
chẳng kinh sợ là tướng của bốn vô úy, biết khắp hết
là tướng của bốn trí vô ngại, người khác không được
là tướng của mười tám pháp bất cộng. Đức Phật được
không các tướng ấy.
Nầy
chư Thiên Tử! Thương xót chúng sanh là tướng của đại từ
đại bi, chơn thiệt là tướng của không sai lầm, vô sở
thủ là tướng của thường xả, hiện tại biết rõ là tướng
của nhứt thiết chủng trí. Đức Phật được không các tướng
ấy.
Nầy
chư Thiên Tử! Vì được tất cả pháp không tướng nên đức
Phật được gọi là bực trí vô ngại”.
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Bát nhã ba la mật là mẹ chư
Phật. Bát nhã ba la mật hay hiển thị tướng thế gian. Thế
nên Phật y chỉ pháp để an trụ, cúng dường, cung kính, tôn
trọng, ca ngợi pháp ấy. Pháp ấy là gì? Chính là Bát nhã
ba la mật. Đức Phật y chỉ nơi Bát nhã ba la mật để an
trụ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ca ngợi Bát nhã ba
la mật. Vì Bát nhã ba la mật nầy xuất sanh chư Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì đức Phật là người biết tác động. Nếu
có người hỏi đúng. Là người biết tác động đáp đúng,
không ai hơn đức Phật.
Nầy
Tu Bồ Đề! Vì đức Phật là người biết tác động nên
pháp của đức Phật đi và đạo của đức Phật đến chừng
được Vô thượng Bồ đề. Đức Phật trở lại cúng dường,
cung kính, tôn trọng, ca ngợi pháp ấy, đạo ấy và thọ trì
thủ hộ pháp ấy, đạo ấy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Đó gọi là đức Phật là người biết tác động.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Đức Phật biết tất cả pháp không có tướng
tạo tác vì không có tướng tác giả. Tất cả pháp không
có tướng sanh khởi vì không có hình sự.
Nầy
Tu Bồ Đề! Do Bát nhã ba la mật mà đức Phật biết các pháp
không có tướng tạo tác, không có tướng sanh khởi. Cũng
vì cớ nầy mà đức Phật là người biết tác động.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Đức Phật do Bát nhã ba la mật mà được
tất cả pháp chẳng sanh, vì là vô sở đắc vậy. Thế nân
Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay hiển thị tướng thế
gian”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp
là không biết, là không thấy, sao Bát nhã ba la mật lại hay
sanh chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Tất cả pháp
không biết, không thấy. Thế nào là không biết, là không
thấy? Vì tất cả pháp vốn không, là hư giả chẳng kiên
cố, nên tất cả pháp không biết, không thấy.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Tất cả pháp không y chỉ, không chỗ hệ
phược, thế nên tất cả pháp không biết không thấy.
Do
đó mà Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay hiển thị tướng
thế gian.
Vì
chẳng thấy sắc, chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức nhẫn
đến chẳng thấy nhứt thiết chủng trí nên Bát nhã ba la
mật hay hiển thị tướng thế gian, hay sanh chư Phật”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Tại sao chẳng thấy
sắc nhẫn đến chẳng thấy nhứt thiết chủng trí nên Bát
nhã ba la mật hay hiển thị tướng thế gian?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Nếu chẳng duyên nơi sắc để
sanh phân biệt, chẳng duyên nơi thọ, tưởng, hành, thức để
sanh phân biệt, nhẫn đến chẳng duyên nơi nhứt thiết chủng
trí để sanh phân biêt, đó chẳng gọi là chẳng thấy tướng
của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhẫn đến chẳng gọi
là chẳng thấy tướng của nhứt thiết chủng trí, nên hiển
thị tướng thế gian. Do đây mà Bát nhã ba la mật hay sanh
chư Phật, hay hiển thị tướng thế gian.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Thế nào là Bát nhã ba la mật hay sanh chư
Phật, hay hiển thị tướng thế gian?
Nầy
Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị thế gian không.
Hiển
thị thế gian không như thế nào?
Hiển
thị ngũ ấm thế gian không, hiển thị thập nhị nhập thế
gian không, hiển thị thập bát giới thế gian không, hiển
thị thập nhị nhơn duyên thế gian không, hiển thị ngã kiến
cùng sáu mươi hai kiến thức thế gian không, hiển thị mười
thiện đạo thế gian không, hiển thị tứ thiền, tứ vô lượng
tâm, tứ định thế gian không, hiển thị ba mươi bảy phẩm
trợ đạo thế gian không, hiển thị sáu ba la mật thế gian
không, hiển thị nội không, ngoại không nhẫn đến vô pháp
hữu pháp không thế gian không, hiển thị hữu vi tánh, vô
vi tánh thế gian không, hiển thị mười trí lực nhẫn đến
nhứt thiết chủng trí thế gian không. Đó là hiển thị thế
gian không.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật,
hay hiển thị tướng thế gian.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Đức Phật do Bát nhã ba la mật hiển thị
thế thế gian không nên biết thế gian không, hay thế gian không,
tư duy thế gian không, phân biệt thế gian không. Thế nên Bát
nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay hiển thị tướng thế
gian.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị phất thế gian
không.
Hiển
thị Phật thế gian không thế nào?
Hiển
thị ngũ ấm thế gian không, nhẫn đến hiển thị nhứt thiết
chủng trí thế gian không.
Thế
nên Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay hiển thị tướng
thế gian.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
bất khả tư nghì:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian bất khả tư nghì nhẫn đến hiển thị
nhứt thiết chủng trí thế gian bất khả tư nghì.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
ly:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian ly nhẫn đến hiển thị nhứt thiết
chủng trí thế gian ly.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
tịch diệt:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian tịch diệt nhẫn đến hiển thị nhứt
thiết chủng trí thế gian tịch diệt.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
rốt ráo không:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian rốt ráo không nhẫn đến hiển thị
nhứt thiết chủng trí thế gian rốt ráo không.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
tánh không:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian tánh không nhẫn đến hiển thị nhứt
thiết chủng trí thế gian tánh không.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
vô pháp không:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian vô pháp không nhẫn đến hiển thị
nhứt thiết chủng trí thế gian vô pháp không.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
hữu pháp không:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian hữu pháp không nhẫn đến hiển thị
nhứt thiết chủng trí thế gian hữu pháp không.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
hữu pháp không, hiển thị ngũ ấm thế gian hữu pháp không,
nhẫn đến hiển thị nhứt thiết chủng trí thế gian hữu
pháp không.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
vô pháp hữu pháp không:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian vô pháp hữu pháp không nhẫn đến hiển
thị nhứt thiết chủng trí thế gian vô pháp hữu pháp không.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hiển thị Phật thế gian
độc không:
Hiển
thị ngũ ấm thế gian độc không nhẫn đến hiển thị nhứt
thiết chủng trí thế gian độc không.
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật hay xuất sanh chư Phật,
hay hiển thị tướng Phật thế gian.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Bát nhã ba la mật sâu xa nầy hiển thị tướng
thế gian, đó là tướng chẳng sanh đời nầy, đời sau. Tại
sao vậy? Vì các pháp không có tướng dùng sanh đời nầy,
đời sau được”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật nầy
vì sự lớn mà phát khởi, vì sự bất khả tư nghì mà phát
khởi, vì sự bất khả xưng mà phát khởi, vì sự vô lượng
mà phát khởi, vì sự vô đẳng mà phát khởi”.
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Nầy Tu Bồ Đề,
Bát nhã ba la mật nầy vì đại sự, vì bất khả tư nghì
sự, vì bất khả xưng sự, vì vô đẳng đẳng sự, vì vô
đẳng sự mà phát khởi.
Thế
nào Bát nhã ba la mật vì đại sự nên phát khởi?
Nầy
Tu Bồ Đề! Đại sự của chư Phật là: cứu tất cả chúng
sanh, chẳng rời bỏ tất cả chúng sanh.
Thế
nào Bát nhã ba la mật vì bất khả tư nghì sự nên phát khởi?
Nầy
Tu Bồ Đề! bất khả tư nghì sự là Phật pháp, là pháp của
Như Lai, là pháp của đấng tự nhiên, là pháp của bực nhứt
thiết trí.
Thế
nào là Bát nhã ba la mật vì bất khả xưng mà phát khởi?
Nầy
Tu Bồ Đề! Sự bất khả xưng là vì trong tất cả chúng sanh
không ai có thể tư duy xưng lược được pháp của Phật,
pháp của Như Lai, pháp của đấng tự nhiên, pháp của bực
nhứt thiết trí.
Thế
nào là Bát nhã ba la mật vì sự vô lượng mà phát khởi?
Nầy
Tu Bồ Đề! Trong tất cả chúng sanh không có ai thể lường
được pháp của Phật, pháp của đấng Như Lai, pháp của
đấng tự nhiên, pháp của bực nhứt thiết trí, thế nên
Bát nhã ba la mật vì sự bất khả lượng mà phát khởi.
Thế
nào là Bát nhã ba la mật vì vô đẳng đẳng sự mà phát khởi?
Nầy
Tu Bồ Đề! Trong tất cả chúng sanh không ai có thể ngang bằng
đức Phật huống là hơn, thế nên Bát nhã ba la mật vì sự
vô đẳng đẳng mà phát khởi”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật chỉ
vì pháp của Phật, pháp của Như Lai, pháp của đấng tự
nhiên, pháp của bực nhứt thiết trí, là sự bất khả tư
nghì, bất khả xưng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng mà
phát khởi ư?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Đúng như vậy. Pháp của Phật,
của Như Lai, của đấng tự nhiên, của bực nhứt thiết trí
là sự bất khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả lượng,
vô đẳng đẳng. sắc thọ, tưởng, hành, thức nhẫn đến
nhứt thiết chủng trí, pháp tánh, pháp tướng đều cũng bất
khả tư nghì, bất khả xưng, bất khả lượng, vô đẳng đẳng.
Trong đây, tâm và tâm đều bất khả đắc.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Vì sắc bất khả đắc nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí bất khả đắc nên sắc nhẫn đến nhứt
thiết chủng trí đều bất khả nghì, bất khả xưng, bất
khả lượng, vô đẳng đẳng.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Do đâu mà vì sắc
bất khả đắc nên sắc bất khả tư nghì, đến vô đẳng
đẳng? Nhẫn đến do đâu mà vì nhứt thiết chủng trí bất
khả đắc nên nhứt thiết chủng trí bất khả tư nghì đến
vô đẳng đẳng?”
Đức
Phật bảo Ngài Tu Bồ Đề: “Vì không ai có thể lường được
sắc nhẫn đến không ai có thể lường được nhứt thiết
chủng trí nên sắc bất khả đắc, nhẫn đến nhứt thiết
chủng trí bất khả đắc.
Tại
sao vậy? Nầy Tu Bồ Đề! Vì sắc tướng bất khả tư nghì
nên không ai lường được nhẫn đến vì sắc tướng vô đẳng
đẳng nên không ai lường được. Vì nhứt thiết chủng trí
bất khả tư nghì nên không ai lường được nhẫn đến vì
nhứt thiết chủng trí vô đẳng đẳng nên không ai lường
được.
Nầy
Tu Bồ Đề! Ý của ông thế nào? Trong bất khả tư nghì đến
trong vô đẳng đẳng chừng có thể được chăng? Sắc, thọ,
tưởng, hành, thức đến nhứt thiết chủng trí chừng có
thể được chăng?”
Bạch
đức Thế Tôn! Không thể được!
Thế
nên, nầy Tu Bồ Đề! tất cả pháp đều bất khả tư nghì
nhẫn đến cũng đều vô đẳng đẳng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Phật pháp đây bất khả tư nghì, bất khả xưng,
bất khả lượng, vô đẳng đẳng. Đây gọi là Phật pháp
bất khả tư nghì nhẫn đến gọi là vô đẳng đẳng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Phật pháp bất khả tư nghì vì quá tư nghì vậy.
Phật pháp bất xưng vì quá xưng vậy. Phật pháp bất khả
lượng vì quá lượng vậy. Phật pháp vô đẳng đẳng vì
quá đẳng đẳng vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Do đây nên tất cả pháp bất khả tư nghì đến
vô đẳng đẳng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Bất khả tư nghì là gọi nghĩa ấy bất khả
tư nghì, bất khả xưng là gọi nghĩa ấy bất khả xưng, bất
khả lượng là gọi nghĩa ấy bất khả lượng, vô đẳng
đẳng là gọi nghĩa ấy vô đẳng đẳng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Pháp của chư Phật đây bất khả tư nghì đến
vô đẳng đẳng.
Bất
khả tư nghì như hư không bất khả tư nghì, bất khả xưng
như hư không bất khả xưng, bất khả lượng như hư không
bất khả lượng, vô đẳng đẳng như hư không vô đẳng đẳng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Đây gọi là Phật pháp bất khả tư nghì nhẫn
đến vô đẳng đẳng.
Phật
pháp vô lượng như vậy. Tất cả Trời, Người, A Tu La không
ai có thể tính lường nghĩ bàn được”.
Lúc
đức Phật nói phẩm Phật pháp bất khả tư nghì, bất khả
xưng, vô lượng , vô đẳng đẳng nầy, có năm trăm Tỳ Kheo
và hai mươi Tỳ Kheo Ni vì chẳng thọ tất cả pháp nên phiền
não hết, tâm được giải thoát, chứng A La Hán, sáu muôn
Ưu Bà Tắc và ba muôn Ưu Bà Di xa lìa trần cấu, được pháp
nhãn thanh tịnh, hai mươi đại Bồ Tát được vô sanh pháp
nhẫn, sẽ được thọ ký trong Hiền Kiếp nầy.