QUYỂN
THỨ MƯỜI HAI
PHẨM
TƯƠNG TỢ
THỨ
BA MƯƠI TÁM
(Phần
dưới)
Thiên
Đế Thích Đề Hoàn Nhơn thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Những
gì là tương tợ Bát nhã ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Có Thiện nam, thiện nữ nói sở hữu đắc Bát
nhã ba la mật, đây là tương tợ Bát nhã ba la mật”.
Thiên
Đế thưa: “Thế nào là thiện nam, thiện nữ nói hữu sở
đắc Bát nhã ba la mật, đây là tương tợ Bát nhã ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Thiện nam, thiện nữ nói rằng sắc vô thường,
thọ, tưởng, hành, thức vô thường, thật hành vậy là thật
hành Bát nhã ba la mật. Người tu hành cầu sắc vô thường,
cầu thọ, tưởng, hành, thức vô thường. Đây là thật hành
tương tợ Bát nhã ba la mật.
Nói
nhãn vô thường đến ý vô thường, nói sắc vô thường đến
pháp vô thường, nói nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới
vô thường đến ý thức giới, pháp giới, ý thức giới vô
thường, nói địa chủng vô thường đến thức chủng vô
thường, nói nhãn xúc vô thường đến ý xúc vô thường,
nói nhãn xúc nhơn duyên sanh thọ vô thường đến ý xúc, nhơn
duyên sanh thọ vô thường.
Như
nói về vô thường, nói khổ, nói vô ngã cũng như vậy.
Lúc
hành giả thật hành Đàn na ba la mật, vì sắc đến ý xúc,
nhơn duyên, sanh thọ vô thường, khổ, vô ngã, có thể thật
hành như vậy là thật hành Bát nhã ba la mật.
Như
lúc thật hành Đàn na ba la mật, lúc thật hành Thi là ba la
mật đến Bát nhã ba la mật, lúc thật hành tứ thiền đến
tứ vô sắc định, lúc thật hành tứ niệm xứ đến nhứt
thiết trí, cũng vì nói vô thường, khổ, vô ngã, có thể
thật hành như vậy là thật hành Bát nhã ba la mật.
Nầy
Kiều Thi Ca! Như trên đó gọi là tương tợ Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Thuở vị lai, thiện nam, thiện nữ nói tương
tợ Bát nhã ba la mật rằng các người tu hành Bát nhã ba la
mật. Lúc tu hành Bát nhã ba la mật, các người sẽ được
Sơ địa đến Thập địa. Với Thiền na đến Đàn na ba la
mật cũng nói như vậy.
Nghe
lời giải thuyết như trên, hành giả tương tợ hữu sở đắc,
dùng tổng tướng tu Bát nhã ba la mật nầy. Đây gọi là tương
tợ Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ muốn nói Bát nhã ba
la mật, bảo rằng các người tu hành Bát nhã ba la mật rồi
sẽ hơn hàng Thanh văn, Bích Chi Phật. Đây gọi là nói tương
tợ Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ vì cầu Phật đạo,
nên giải thuyết rằng các người tu hành Bát nhã ba la mật
xong, sẽ nhập Bồ Tát vị, được vô sanh pháp nhẫn. Đã
được vô sanh pháp nhẫn bèn trụ Bồ Tát thần thông, từ
một Phật quốc đến một Phật quốc, cúng dường, cung kính,
tôn trọng, tán thán chư Phật. Đây là giải thuyết tương
tợ Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ
giải thuyết rằng các người học Bát nhã ba la mật nầy,
thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm, thời sẽ được vô
lượng vô biên vô số công đức. Đây gọi là nói tương
tợ Bát nhã ba la mật.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ
nói rằng như quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật, tất
cả công đức thiện căn từ sơ phát tâm đến thành Phật,
đều hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Đây là giải thuyết
tương tợ Bát nhã ba la mật”.
Thiên
Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ vì
cầu Phật đạo, thế nào là chẳng nói tương tợ Bát nhã
ba la mật?”
Đức
Phật nói: “Nầy Kiều Thi Ca! Nếu vì cầu Phật đạo, thiện
nam, thiện nữ giải thuyết Bát nhã ba la mật như vầy: Nầy
thiện nam tử! Nhà ngươi tu hành Bát nhã ba la mật chớ quán
sắc vô thường.
Tại
sao vậy? Vì sắc sác tánh rỗng không. Sắc tánh ấy chẳng
phải pháp. Nếu chẳng phải pháp, thời gọi là Bát nhã ba
la mật.
Trong
Bát nhã ba la mật, sắc chẳng phải thường, chẳng phải vô
thường.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật, sắc còn bất khả đắc,
huống là thường với vô thường.
Giải
thuyết thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Giải
thuyết như vậy thời gọi là chẳng nói tương tợ Bát nhã
ba la mật.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Vì cầu Phật đạo, thiện nam, thiện nữ
nói rằng: Nhà ngươi tu hành Bát nhã ba la mật, đối với
các pháp chớ có đi qua cũng chớ có đi lại.
Tại
sao vậy?
Vì
trong Bát nhã ba la mật, không có pháp gì qua được, đứng
được. Bởi tất cả pháp tự tánh rỗng không. Tự tánh rỗng
không là chẳng phải pháp. Nếu chẳng phải pháp thời tức
là Bát nhã ba la mật.
Trong
Bát nhã ba la mật không có pháp gì nhập được, xuất được,
sanh được, diệt được.
Giải
thuyết như vậy thời gọi là chẳng nói tương tợ Bát nhã
ba la mật.
Nhẫn
đến nói rộng như vậy trái hẳn với tương tợ, thời gọi
là chẳng nói tương tợ Bát nhã ba la mật.
Nầy
Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ phải nghĩa Bát nhã ba la
mật như vậy.
Nếu
nói nghĩa Bát nhã ba la mật như vậy, thời được công đức
hơn trước.
Nầy
Kiều Thi Ca! Nếu có người giáo hóa tất ca chúng sanh trong
Diêm Phù Đề, trong tứ thiên hạ, trong Tiểu thiên thế giới,
trong Trung thiên thế giới, trong Đại thiên thế giới, nhẫn
đến giáo hóa tất cả chúng sanh trong hằng sa quốc độ mười
phương đều được quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả
A Na Hàm, quả A La Hán, quả Bích Chi Phật.
Ngài
nghĩ thế nào, người nầy được phước nhiều chăng?”
Thiên
Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Người nầy được phước
rất nhiều”.
Đức
Phật nói: “Vẫn không bằng thiện nam, thiện nữ đem nghĩa
Bát nhã ba la mật nầy, dùng nhiều nhơn duyên vì người khác
giải thuyết, khai thị, phân biệt cho họ hiểu biết. Bảo
rằng các người đến lãnh thọ Bát nhã ba la mật nầy, siêng
đọc siêng tụng, gảii thuyết, chánh ức niệm. Thật hành
đúng như trong Bát nhã ba la mật đây nói.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật xuất sanh hàng Tu Đà Hoàn
đến đạo Bích Chi Phật vậy.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam, thiện nữ giáo hóa chúng sanh trong
một Diêm Phù Đề nhẫn đến giáo chúng sanh trong hằng sa
quốc độ mười phương, làm cho phát tâm Bồ đề nhẫn đến
làm cho được bực bất thối chuyển, dầu được phước
rất nhiều, nhưng vẫn không bằng người đem Bát nhã ba la
mật giảng thuyết cho người khác, dùng những nhơn duyên khái
thị, phân biệt cho họ được hiểu biết, bảo họ tu hành
đúng như lời dạy trong Bát nhã ba la mật, sẽ được nhứt
thiết trí và Vô thượng Bồ đề.
Tại
sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật xuất sanh những đại Bồ
Tát sơ phát tâm, nhẫn đến xuất sanh những đại Bồ Tát
bất thối chuyển.
Lại
nầy Kiều Thi Ca! Chúng sanh trong một Diêm Phù Đề nhẫn đến
trong hằng sa thế giới mười phương phát tâm cầu Vô thượng
Bồ đề. Nếu có thiện nam, thiện nữ vì họ mà giảng rộng
nghĩa Bát nhã ba la mật và khai thị, phân biệt cho họ được
hiểu biết.
Có
người vì một Bồ Tát bất thối chuyển mà diễn thuyết
Bát nhã ba la mật và khai thị, phân biệt cho được hiểu
biết, người nầy được phước rất nhiều.
Lại
Nầy Kiều Thi Ca! Nếu có chúng sanh tong một Diêm Phù Đề
nhẫn đến trong hằng sa thế giới mười phương đều được
bực bất thối chuyển. Có thiện nam, thiện nữ đem Bát nhã
ba la mật giảng giải ý nghĩa cho những bực nầy. Trong đây
có một Bồ Tát muốn mau chứng Vô thượng Bồ đề, nếu
có người đem Bát nhã ba la mật giảng giải ý nghĩa cho Bồ
Tát nầy, thời được phước nhiều hơn hết”.
Thiên
Đế thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Như đại Bồ Tát càng gần
đến Vô thượng Bồ đề, lại càng nên giáo hóa thật hành
sáu ba la mật, càng nên giáo hóa thật hành nội không đến
vô pháp hữu pháp không, tứ niệm xứ đến mười tám pháp
bất cộng. Lại nên cúng dường y phục, ngọa cụ, ẩm thực,
y dược, tùy theo chỗ cần dùng mà cung cấp.
Thiện
nam, thiện nữ pháp thí và tài thí cúng dường đại Bồ Tát
nầy thời được công đức. Vì đại Bồ Tát nầy mau thành
Vô thượng Bồ đề vậy”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Lành thay, lành thay! Nầy Kiều Thi Ca! Ngài
vì thánh đệ tử mà an ủy chư đại Bồ Tát vì Vô thượng
Bồ đề, nên đem pháp thí, tài thì làm lợi ích, theo lẽ
thời phải như vậy.
Tại
sao thế? Vì trong hàng Bồ Tát xuất sanh chư Phật thánh chúng.
Nếu
Bồ Tát chẳng pháp tâm Vô thượng Bồ đề, thời Bồ Tát
nầy chẳng thể học sáu ba la mật đến mười tám pháp bất
cộng, chẳng thể được Vô thượng Bồ đề.
Nếu
chẳng thể được Vô thượng Bồ đề, thời không có Thanh
văn và Bích Chi Phật.
Nầy
Kiều Thi Ca! Vì thế nên chư đại Bồ Tát học sáu ba la mật
đến mười tám pháp bất cộng.
Do
học sáu ba la mật đến mười tám pháp bất cộng mà được
Vô thượng Bồ đề.
Do
được Vô thượng Bồ đề nên dứt diệt ba ác đạo Địa
ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Thế gian bèn có những dòng hào
tộc, bèn có các cõi trời từ Tứ Vương Thiên đến Phi Phi
Tưởng Thiên, bèn có Đàn na ba la mật, bèn có nội không đến
vô pháp hữu pháp không, bèn có tứ niệm xứ đến mười
tám pháp bất cộng, bèn có Thanh văn thừa, Bích Chi Phật thừa
và Phật thừa đều xuất hiện thế gian”.
●
PHẨM
TÙY HỈ
THỨ
BA MƯƠI CHÍN
Ngài
Di Lặc đại Bồ Tát nói với Ngài Tu Bồ Đề: “Hoặc Thanh
văn, hoặc Bích Chi Phật, hoặc tất cả chúng sanh, hoặc bố
thí, trì giới, hoặc tu thiền định tùy hỷ phước đức.
Có
đại Bồ Tát tùy hỉ phước đức cùng với tất cả chúng
sanh chung hưởng, hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Phước
đức nầy bực nhứt trên hết, rất diệu Vô thượng, không
gì bằng.
Tại
sao vậy?
Vì
cúng Thanh văn, Bích Chi Phật và tất chúng sanh bố thí, trì
giới, tu thiền định tùy hỉ phước đức, là để tự điều
phục, tự thanh tịnh, tự độ, mà tu hành những tứ niệm
xứ đến bát thánh đạo và không, vô tướng, vô tác.
Bồ
Tát tùy hỉ phước đức hồi hướng Vô thượng Bồ đề,
đem công đức nầy để điều phục tất cả chúng sanh, để
thanh tịnh tất cả chúng sanh, để độ tất cả chúng sanh,
vì vô sở đắc vậy.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Chư đại Bồ Tát tưởng niệm vô lượng
vô biên vô số chư Phật diệt độ trong vô lượng vô biên
vô số quốc độ mười phương, từ sơ phát tâm đến được
Vô thượng Bồ đề, nhập vô dư y Niết Bàn đến chánh pháp
diệt tận có tất cả thiện căn đúng với sáu ba la mật.
Cùng với thiện căn của hành Thanh văn, như phước đức bố
thí, phước đức trì giới, phước đức tu tập thiền định.
Cùng với thiện căn vô lậu của hành hữu học, vô học.
Cùng với tụ, định tụ, huệ tu, giải thoát tụ, giải thoát
tri kiến tụ, nhứt thiết trí, đại từ đại bi của chư
Phật. Cùng với vô lượng vô số những Phật pháp khác và
pháp của chư Phật diễn thuyết. Trong những pháp nầy học
được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán và đạo Bích Chi
Phật, nhập ngôi đại Bồ Tát. Cùng với những chúng sanh
khác gieo trồng thiện căn.
Tất
cả những thiện căn ấy hòa hợp phước đức hồi hướng
Vô thượng Bồ đề, thời là phước đức đệ nhứt trên
hết, rất diệu vô thượng, không gì bằng.
Tùy
hỉ như vậy rồi, đem phước tùy hỉ nầy hồi hướng Vô
thượng Bồ đề.
Nếu
có thiện nam, thiện nữ tu hành Bồ Tát thừa, nghĩ rằng lòng
tôi hướng về Vô thượng Bồ đề.
Đây
là sanh tâm duyên nơi sự.
Nếu
thiện nam, thiện nữ nắm lấy tướng Vô thượng Bồ đề,
có thể được như chỗ đã nghĩ tưởng chăng?”
Di
Lặc Bồ Tát nói: “Nếu thiện nam, thiện nữ nắm lấy tướng,
thời chẳng được như chỗ đã tưởng nghĩ”.
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nếu những duyên, những sự vô sở hữu,
thiện nam, thiện nữ nầy thật hành Bồ Tát thừa, nắm lấy
tướng, đối với thtiện căn từ sơ phát tâm đến chánh
pháp diệt tận của chư Phật mười phương, cùng với thiện
căn của hành hữu học vô học Thanh văn, đều hòa hiệp tất
cả tùy hỉ công đức hồi hướng Vô thượng Bồ đề, vì
vô tướng vậy.
Như
thế thời Bồ Tát nầy há chẳng phải vô thường cho là thường,
khổ cho là lạc, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh,
mà thành tưởng điên đảo, kiến điên đảo.
Hoặc
như duyên và như sự hồi hướng Vô thượng Bồ đề cũng
như vậy.
Tâm
hồi hướng cũng như vậy.
Đàn
na ba la mật đến mười tám pháp bất cộng cũng như vậy.
Nếu
như vậy, thời những gì là duyên, những gì là sự, những
gì là Vô thượng Bồ đề, những gì là thiện căn, những
gì là tâm tùy hỉ hồi hướng Vô thượng Bồ đề?”
Ngài
Di Lặc Bồ Tát nói: “Nếu chư đại Bồ Tát đã từ lâu
thật hành sáu ba la mật, nhiều cúng dường chư Phật, gieo
trồng thiện căn, luôn gần thiện trí thức, khéo tu học pháp
tự tướng không. Chư đại Bồ Tát nầy dùng duyên như vậy
và sự như vậy, nơi thiện căn của chư Phật, tùy hỉ phước
đức, chẳng nắm lấy tướng Vô thượng Bồ đề. Bởi chẳng
hai pháp chẳng phải chẳng hai pháp, chẳng phải tướng chẳng
phải không tướng, chẳng phải pháp có thể được chẳng
phải pháp chẳng thể được, chẳng phải pháp cấu chẳng
phải pháp tịnh, chẳng phải phải pháp sanh chẳng phải pháp
diệt, nên đây gọi là hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Nếu
chư Bồ Tát tu hành sáu ba la mật chẳng được lâu, cúng dường
chư Phật chẳng được nhiều, chẳng gieo trồng căn lành,
chẳng gần thiện tri thức, chẳng khéo tu học pháp tự tướng
không. Bồ Tát nầy dùng duyên như vậy sự như vậy mà tùy
hỉ phước đức của chư Phật, tâm lấy tướng hồi hướng
Vô thượng Bồ đề. Đây thời chẳng gọi là chơn thiệt
hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Nầy
Ngài Tu Bồ Đề! Nghĩa Bát nhã ba la mật như vậy, nhẫn đến
nghĩa nhứt thiết chủng trí, như là nội không đến vô pháp
hữu pháp không, chẳng nên giải nói với hành tân học Bồ
Tát. Vì sẽ làm mất lòng kính tin thanh tịnh mà Bồ Tát nầy
đã được chút ít.
Nên
đem nói với bực đại Bồ Tát bất thối chuyển.
Hoặc
với người được sự hộ trì của thiện tri thức, hoặc
với người từ lâu cúng dường chư Phật, gieo trồng thiện
căn. Cũng nên giải thuyết Bát nhã ba la mật nầy nhẫn đến
nghĩa nhứt thiết chủng trí, như là nội không đến vô pháp
hữu pháp không.
Những
người nầy nghe pháp như vậy không mất, không kinh, không
sợ.
Nầy
Ngài Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát tùy hỉ phước đức phải
hồi hướng Vô thượng Bồ đề như vậy.
Nghĩa
là Bồ Tát dùng tâm tùy hỉ phước đức hồi hướng Vô thượng
Bồ đề, tâm nầy tận diệt biến ly. Duyên ấy, sự ấy,
những thiện căn ấy cũng tận diệt biến ly.
Trong
đây, những gì là tâm tùy hỉ, những gì là duyên, những
gì là sự, những gì là thiện căn tùy hỉ hồi hướng Vô
thượng Bồ đề?
Nếu
đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, biết rõ Bát
nhã ba la mật nầy không có pháp như vậy, nhẫn đến Đàn
na ba la mật không có pháp, sắc, thọ, tưởng hành thức đến
Vô thượng Bồ đề không có pháp như vậy.
Đại
Bồ Tát phải tùy hỉ công đức như vậy mà hồi hướng Vô
thượng Bồ đề.
Nếu
có thể hồi hướng như vậy, thời gọi là tùy hỉ công hồi
hướng Vô thượng Bồ đề”.
Thiên
Đế hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Bồ Tát mới phát tâm nghe việc
nầy há không kinh sợ ư?
Thế
nào là Bồ Tát mới phát tâm tu các thiện căn hồi hướng
Vô thượng Bồ đề?
Lại
thế nào là tùy hỉ phước đức hồi hướng Vô thượng Bồ
đề?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nếu Bồ Tát mới phát tâm thật hành Bát
nhã ba la mật, chẳng thọ Bát nhã ba la mật nầy, vì vô sở
đắc vậy, vì vô tướng vậy. Nhẫn đến Đàn na ba la mật
cũng như vậy. Lại nhiều tin hiểu nội không đến vô pháp
hữu pháp không. Nhiều tin hiểu tứ niệm xứ đến mười
tám pháp bất cộng, thường theo thiện tri thức.
Thiện
tri thức nầy giảng nói nghĩa sáu ba la mật và khai thị, phân
biệt cho. Dạy dỗ như vậy làm cho thường chẳng rời Bát
nhã ba la mật, nhẫn đến được vào bực Bồ Tát chẳng rời
Bát nhã ba la mật, nhẫn đến chẳng rời Đàn na ba la mật.
Chẳng rời tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng.
Cũng dạy nói về ma sự. Nghe những ma sự rồi vẫn chẳng
tăng, chẳng giảm.
Tại
sao vậy? Vì Bồ Tát nầy chẳng thọ tất cả pháp vậy.
Bồ
Tát nầy cũng thường chẳng rời chư Phật. Nhẫn đến lúc
nào bực Bồ Tát luôn gieo trồng thiện căn. Do thiện căn nầy
mà vào nhà Bồ Tát. Nhẫn đến lúc thành Vô thượng Bồ đề
trọn chẳng rời thiện căn nầy.
Lại
đại Bồ Tát mới phát tâm nầy đối với quá khứ chư Phật
vô lượng vô biên vô số quốc độ mười phương, dứt đường
sanh tử, dứt đường hí luận, bỏ hẳn gánh nặng, diệt
gai tụ lạc, dứt những hữu lậu, được chánh trí giải
thoát, cùng hàng đệ tử tu hành công đức. Hoặc hàng đại
trưởng giả cư sĩ, chư Thiên từ Trời Tứ Thiên Vương đến
Sắc Cứu Cánh gieo trồng thiện căn, tất cả công đức đều
hòa hiệp. Dùng tâm tùy hỉ đệ nhứt trên hết, hơn hết,
không gì bằng mà tùy hỉ. Tùy hỉ rồi hồi hướng Vô thượng
Bồ đề”.
Ngài
Di Lặc Bồ Tát nói với Ngài Tu Bồ Đề: “Nếu Bồ Tát mới
phát tâm tưởng niệm thiện căn của chư Phật và hành đệ
tử, dùng tâm tùy hỉ đệ nhất vi diệu hơn hết không gì
bằng mà tùy hỉ công đức. Tùy hỉ rồi hồi hướng Vô thượng
Bồ đề. Bồ Tát nầy thế nào chẳng sa nơi tưởng điên
đảo, tâm điên đảo và kiến đảo?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Nếu đại Bồ Tát niệm Phật và Tăng.
Trong đây, chẳng móng khởi tưởng là Phật, tưởng là Tăng,
cũng chẳng móng khởi tưởng là thiện căn. Dùng tâm nầy
hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Trong tâm nầy cũng chẳng
móng khởi tưởng là tâm. Bồ Tát hồi hướng như vậy thời
tưởng chẳng điên đảo, tâm chẳng điên đảo, kiến chẳng
điên đảo.
Nếu
đại Bồ Tát niệm thiện căn của Phật và Tăng, năm lấy
tướng rồi hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Bồ Tát hồi
hướng như vậy, thời gọi là tưởng điên đảo, tâm điên
đảo và kiến điên đảo.
Nếu
đại Bồ Tát dùng tâm nầy niệm thiện căn của chư Phật
và chúng Tăng. Lúc tâm niệm như vậy liền biết diệt tận.
Nếu diệt tận thời pháp ấy bất khả đắc. Tâm dùng để
hồi hướng cũng là tướng tận diệt. Chỗ hồi hướng và
pháp cũng là tướng tận diệt.
Nếu
hồi hướng như đây thời gọi là chánh hồi hướng mà chẳng
phải tà hồi hướng.
Đại
Bồ Tát phải hồi hướng Vô thượng Bồ đề như vậy.
Và
lại nếu đối với thiện căn của chư Phật quá khứ và
hàng đệ tử, thiện căn của phàm phu nghe pháp, thiện căn
Thiên, Long, Bát bộ nhẫn đến của trời Sắc Cứu Cánh nghe
pháp phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Tất
cả phước đức nầy đều hòa hiệp. Bồ Tát dùng tâm đệ
nhứt vi diệu hơn hết, không gì bằng mà tùy hỉ công đức
rồi hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Bấy giờ nếu đại
Bồ Tát biết những pháp ấy tận diệt, chỗ hồi hướng
và pháp cũng tự tánh không. Có htể hồi hướng như vậy
thời gọi là chơn thiệt hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Lại
đại Bồ Tát biết không có pháp nào hồi hướng được pháp
nào. Vì tất cả pháp tự tướng không. Hồi hướng như đây
thời gọi là chánh hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Đại
Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật đến Đàn na ba la mật
như vậy, thời chẳng sa vào tưởng điên đảo, tâm điên
đảo, kiến điên đảo. Bởi Bồ Tát nầy chẳng nắm lấy
hồi hướng ấy, cũng chẳng đem những thiện căn hồi hướng
đến chỗ tam Bồ đề. Đây gọi là đại Bồ Tát Vô thượng
hồi hướng.
Lại
nếu đại Bồ Tát biết phước đức đã gieo trồng, rời
hẳn ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới. Cũng biết Bát
nhã ba la mật là ly tướng, biết nội không đến vô pháp
hữu pháp không là ly tướng, biết tứ niệm xứ đến mười
tám pháp bất cộng là ly tướng. Đại Bồ Tát khởi tâm tùy
hỉ phước đức như vậy, thời gọi là hồi hướng Vô thượng
Bồ đề.
Nếu
đại Bồ Tát tùy hỉ phước đức, biết tùy hỉ phước đức
tự tánh ly, cũng biết chư Phật ly, Phật tánh các thiện căn
cũng ly, thiện căn tánh cũng ly, hồi hướng và hồi hướng
tánh cũng ly, Bồ Tát và Bồ Tát tánh cũng ly, Bát nhã ba la
mật đến Đàn na ba la mật cũng ly, nội không đến vô pháp
hữu pháp không cũng ly, nội không tánh đến vô pháp hữu
pháp không tánh cũng ly, tứ niệm xứ đến pháp bất cộng
cũng ly, tứ niệm xứ tánh đến bất cộng pháp tánh cũng
ly.
Đại
Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật ly tướng như vậy.
Đây
gọi là đại Bồ Tát trong Bát nhã ba la mật phát sanh tùy
hỉ phước đức.
Lại
đại Bồ Tát đối với thiện căn của chư Phật quá khứ
diệt độ, nếu muốn hồi hướng thời phải hồi hướng
như vầy:
Phải
quan niệm rằng như tướng chư Phật diệt độ, tướng các
thiện căn cũng vậy, tướng pháp diệt độ cũng như vậy.
Tôi dùng tâm hồi hướng, tướng của tâm nầy cũng như vậy.
Nếu
hồi hướng được như vậy thời gọi là hồi hướng Vô
thượng Bồ đề.
Hồi
hướng như vậy thời chẳng sa vào tưởng điên đảo, tâm
điên đảo, kiến điên đảo.
Nếu
đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật nắm lấy tướng
thiện căn của chư để hồi hướng Vô thượng Bồ đề,
thời chẳng gọi là hồi hướng.
Tại
sao vậy?
Vì
chư Phật quá khứ và thiện căn chẳng phải tướng duyên,
chẳng phải không tướng duyên.
Nếu
đại Bồ Tát nắm lấy tướng như vậy thời chẳng gọi là
thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Bồ
Tát nầy sa vào tưởng điên đảo, tâm diên đảo, kiến điên
đảo.
Nếu
Bồ Tát chẳng nắm lấy tướng chư Phật, các thiện căn,
cũng chẳng lấy tướng hồi hướng, thời gọi là đem các
thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Bồ
Tát nầy chẳng sa vào tưởng điên đảo, tâm diên đảo, kiến
điên đảo”.
Ngài
Di Lặc hỏi Ngài Tu Bồ Đề: “Đại Bồ Tát thế nào đối
với các thiện căn chẳng nắm lấy tướng mà có thể hồi
hướng Vô thượng Bồ đề?”
Ngài
Tu Bồ Đề nói: “Do sự nầy nên phải biết trong đại Bồ
Tát Bát nhã ba la mật cần có phương tiện lực Bát nhã ba
la mật.
Nếu
là phước đức rời Bát nhã ba la mật, thời chẳng được
hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Tại
sao vậy?
Vì
trong Bát nhã ba la mật, chư Phật bất khả đắc, các thiện
căn bất khả đắc, tâm hồi hướng Vô thượng Bồ đề cũng
bất khả đắc.
Ở
trong đây, lúc đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật,
nên quan niệm rằng thân của chư Phật quá khứ và đệ tử
đều tận diệt, các thiện cũng tận diệt. Nay nếu ta nắm
lấy tướng phân biệt chư Phật, thiện căn và tâm hồi hướng
Vô thượng Bồ đề, thời chư Phật chẳng hứa khả.
Tại
sao vậy?
Vì
nắm lấy tướng thời là hữu sở đắc vậy.
Nghĩa
là ở nơi chư Phật quá khứ nắm lấy tướng phân biệt vậy.
Thế
nên đại Bồ Tát muốn dùng các thiện căn hồi hướng Vô
thượng Bồ đề, thời chẳng nên lấy để hồi hướng.
Nếu
có được và nắm lấy để hồi hướng, thời chư Phật chẳng
nói có lợi ích lớn.
Tại
sao vậy? Vì hồi hướng như vậy là tạp độc.
Ví
như đồ ăn ngon lộn tạp độc, dầu có màu đẹp hương thơm
được người ham mà trong đó có chất độc. Kẻ ngu dại
thích ăn vì tham màu đẹp hương thơm vị ngon vừa miệng.
Lúc ăn nầy tiêu hóa, kẻ ngu ấy bèn thọ những khổ đau
đớn chết chóc.
Nếu
thiện nam, thiện nữ chẳng thọ trì, đọc tụng rành rẽ,
chẳng hiểu nghĩa trong đây mà giảng dạy người khác rằng:
Quá
khứ, vị lai, hiện tại chư Phật mười phương, từ sơ phát
tâm đến Vô thượng Bồ đề, nhập vô dư y Niết Bàn đến
chánh pháp tận diệt. Trong thời gian đó, lúc thật hành sáu
ba la mật gieo trồng căn lành, lúc tu tứ thiền, tứ vô lượng
tâm, tứ vô sắc định, tứ niệm xứ đến mười tám pháp
bất cộng, gieo trồng căn lành, lúc thanh tịnh Phật độ,
thành tựu chúng sanh, gieo trồng căn lành, cùng với những
giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, nhứt
thiết chủng trí, pháp không sai lầm thường xả hành của
chư Phật và hàng đệ tử gieo trồng căn lành, cùng những
người được chư Phật thọ ký sẽ thành Bích Chi Phật, hàng
Thiên, Long, Bát bộ gieo trồng căn lành, tất cả phước đức
hòa hiệp tùy hỉ hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Sự
hồi hướng nầy vì nắm lấy tướng và có pháp được nên
như là món ăn lộn chất độc.
Người
có pháp được thời trọn không có chánh hồi hướng.
Tại
sao vậy? Vì có pháp được đây thời gọi là lộn độc,
có tướng, có động, có hí luận.
Nếu
hồi hướng như vậy thời là hủy báng Phật, là chẳng theo
lời Phật dạy, là chẳng theo chánh pháp đã nói.
Thiện
nam, thiện nữ nầy cầu Phật đạo phải học như thế nầy:
Thiện
căn của tam thế chư Phật từ sơ phát tâm đến thành Phật
nhập vô dư y Niết Bàn chánh pháp tận diệt cùng hành đệ
tử lúc tu hành Bát nhã ba la mật đã gieo trồng, nhẫn đến
lúc nhứt thiết chủng trí, tất cả phước đức hồi hướng
như vầy: Như trí huệ vô thượng mà chư Phật đã biết,
những thiện căn tướng ấy, những thiện căn tánh ấy, tôi
cũng tùy hỉ như vậy. Như chư Phật đã biết, tôi cũng hồi
hướng Vô thượng Bồ đề như vậy.
Nếu
thiện nam, thiện nữ hồi hướng như vậy, thời là chẳng
hủy báng Phật, đúng như lời Phật dạy, đúng với Phật
pháp đã nói. Hồi hướng như vậy là không xen lộn chất
độc.
Lại
thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, lúc thật hành Bát nhã
ba la mật phải hồi hướng thiện căn như vầy:
Như
sắc chẳng thuộc Dục giới, chẳng thuộc Sắc giới, chẳng
thuộc Vô sắc giới, chẳng thuộc pháp, chẳng gọi quá khứ,
vị lai, hiện tại. Nội không đến vô pháp hữu pháp không
cũng như vậy.
Như
pháp tánh, pháp tướng, pháp trụ, thiệt tế, bất tư nghì
tánh, giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến,
nhứt thiết chủng trí chẳng thuộc Dục giới, Sắc giới,
Vô sắc giới, chẳng thuộc pháp, chẳng thuộc quá khứ, vị
lai và hiện tại.
Hồi
hướng nầy, chỗ hồi hướng nầy và hành giả chẳng hệ
thuộccũng như vậy. Chư Phật và những thiện căn đây cũng
chẳng hệ thuộc. Thiện căn của Thanh văn, Bích Chi Phật đây
cũng chẳng hệ thuộc, chẳng thuộc pháp, chẳng thuộc quá
khứ, vị lai, hiện tại.
Nếu
đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật biết sắc v,v,,,
đều chẳng hệ thuộc, chẳng thể đem pháp năm lấy tướng
hữu sở đắc để hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Tại
sao vậy?
Sắc
v.v… đây là vô sanh. Nếu pháp đã vô sanh thời là vô pháp,
trong vô pháp không thể hồi hướng.
Hồi
hướng như trên đây thời không xen lộn chất độc.
Nếu
thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo nắm lấy tướng hữu
sở đắc đem thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề,
thời gọi là tà hồi hướng.
Nếu
là tà hồi hướng thời chư Phật chẳng khen ngợi.
Dùng
tà hồi hướng nầy thời chẳng đầy đủ Đàn na ba la mật
nhẫn đến Bát nhã ba la mật. Chẳng đầy đủ tứ niệm xứ
đến thập lực. Chẳng thể thanh tịnh Phật độ, thành tựu
chúng sanh.
Nếu
chẳng thể thanh tịnh Phật độ, thành tựu chúng sanh, thời
chẳng thể Vô thượng Bồ đề.
Tại
sao vậy? Vì hồi hướng nầy xen lộn chất độc.
Lại
lúc Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật, phải quan niệm rằng
như những thiện căn hồi hướng mà chư Phật đã biết, đó
là chơn thiệt hồi hướng, tôi cũng dùng pháp tướng hồi
hướng ấy. Đây gọi là chánh hồi hướng”.
Đức
Phật khen Ngài Tu Bồ Đề: “Lành thay, lành thay! Vì làm Phật
sự, vì đại Bồ Tát mà ông nói pháp hồi hướng chân chánh
phải thật hành. Bởi không tướng, không được, không xuất,
không cấu, không tịnh, không pháp tánh, tự tướng rỗn không,
thường tự tánh rỗng không, như pháp tánh, như thiệt tế
vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu chúng sanh trong Đại Thiên quốc độ đểu
thật hành thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm,
tứ vô sắc định, ngũ thần thông, ông nghĩ sao, chúng sanh
ấy được nhiều phước chăng?”
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Được phước rất
nhiều”.
Đức
Phật nói: “Chẳng bằng thiện nam, thiện nữ đối với những
thiện căn, tâm chẳng nắm lấy mà hồi hướng Vô thượng
Bồ đề. Phước đức nầy đệ nhứt hơn hết, rất vi diệu
vô thượng, không gì bằng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Nếu chúng sanh trong Đại Thiên quốc độ đều
được Tu Đà Hoàn đến Bích Chi Phật.
Có
thiện nam, thiện nữ đem tứ sự cúng dường trọn đời và
cung kính, tôn trọng, tán thán, cung cấp đủ đồ cần dùng.
Nhơn duyên nầy được phước nhiều chăng?”
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Người nầy được
phước rất nhiều”.
Đức
Phật nói: “Vẫn chẳng bằng thiện nam, thiện nữ đối với
những thiện căn, tâm chẳng nắm lấy mà hồi hướng Vô thượng
Bồ đề. Phước đức nầy đệ nhứt hơn hết, rất là vi
diệu vô thượng, không gì bằng.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Nếu chúng sanh trong Đại Thiên trong quốc
độ đều phát tâm Bồ đề. Mỗi mỗi chúng sanh trang hằng
sa thế giới, đều cung kính, cúng dường Bồ Tát nầy trong
hằng sa kiếp. Nhơn duyên nầy được rất nhiều chăng?”
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Được phước rất
nhiều vô lượng vô biên không gì thí dụ được. Nếu phước
đức nầy có hình dạng thời hằng sa quốc độ cũng không
dung thọ được”.
Đức
Phật nói: “Lành thay, lành thay! Đúng như lời ông nói. Dầu
vậy, nhưng chẳng bằng thiện nam, thiện nữ đối với những
thiện căn, tâm chẳng nắm lấy mà hồi hướng Vô thượng
Bồ đề.
Công
đức hồi hướng không nắm lấy nầy, sánh với công đức
trên thời hơn cả trăm ngàn muôn ức lần, nhẫn đến toán
số thí dụ cũng không sánh được.
Tại
sao vậy?
Vì
người trên kia nắm lấy tướng có pháp được mà thật hành
thập thiện đạo, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc
định, ngũ thần thông, và nắm lấy tướng có pháp được
mà cúng dường, cung kính Tu Đà Hoàn đến cung kính, cúng dường
Bồ Tát vậy.
Tứ
Thiên Vương và hai vạn Thiên Tử chấp tay lễ Phật mà thưa
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát hồi hướng rất
là rộng lớn. Vì là phương tiện lực vậy. Vì là vô sở
đắc vậy. Vì là vô tướng vậy. Vì là vô giác vậy. Đem
những thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề như vậy,
thời chẳng sa vào hai pháp”.
Thiên
Đế Thích Đề Hoàn Nhơn cũng cùng vô số chư Thiên cõi đao
Lợi và chư Thiên Tử khác đồng đem thiên hoa, thiên hương,
anh lạc, thiên tràng phan, thiên cổ, thiên nhạc cúng dường
lên đức Phật, thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! đại Bồ
Tát hồi hướng rất là rộng lớn. Vì là phương tiện lực
vậy. Vì là vô sở đắc vậy. Vì là vô giác vậy. đem những
thiện căn hồi hướng Vô thượng Bồ đề như vậy, thời
chẳng sa vào hai pháp”.
Chư
Phạm Thiên cùng vô số chư Thiên đến lễ chân Phật thưa
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Vị tằng hữu Bồ Tát được
sự hộ trợ của Bát nhã ba la mật, do phương tiện lực nên
hơn người nắm lấy tướng có pháp được trên kia”.
Quang
Âm Thiên đến Sắc Cứu Cánh Thiên cũng lễ Phật, thưa như
vậy.
Đức
Phật bảo Tứ Thiên Vương nhẫn đến chư Thiên Sắc Cứu
Cánh: “Chư Thiên Tử! Nếu tất cả chúng sanh trong Đại thiên
thế giới đều phát tâm Vô thượng Bồ đề. Tất cả Bồ
Tát nầy niệm thiện căn của quá khứ, vị lai, hiện tại
chư Phật và của chư Thanh văn, Bích Chi Phật, từ lúc mới
phát tâm đến trụ, cùng với thiện căn của tất cả chúng
sanh như là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định, trí huệ, giới, định, huệ, giải thoát, tri kiến
giải thoát và vô lượng Phật pháp khác đều hòa hiệp tùy
hỉ tất cả. Tùy hỉ xong, đều hồi hướng Vô thượng Bồ
đề, vì là nắm lấy tướng hữu sở đắc vậy.
Lại
có thiện nam, thiện nữ phát tâm Vô thượng Bồ đề cũng
là niệm thiện căn của tam thế chư Phật và chư Thanh văn,
Bích Chi Phật, cùng thiện căn của tất cả chúng sanh và những
Phật pháp khác đều hòa hiệp tùy hỉ, nhưng vì vô sở đắc,
vì không hai pháp, vì không có tướng, vì chẳng nắm lấy
pháp, vì không thấy có, đây là sự tùy hỉ đệ nhứt hơn
hết, vi diệu vô thượng, không gì bằng. Tùy hỉ xong, hồi
hướng Vô thượng Bồ đề.
Côn
đức của thiện nam, thiện nữ nầy hơn công đức trên cả
trăm ngàn muôn ức lần, nhẫn đến không thể ví dụ được”.
Ngài
Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật nói thiện
nam, thiện nữ hòa hiệp tùy hỉ đệ nhứt hơn hết, vi diệu
vô thượng, không gì bằng.
Bạch
đức Thế Tôn! Thế nào là tùy hỉ đệ nhứt đến không
gì bằng?”
Đức
Phật nói: “Nầy Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam, thiện nữ đối
với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại mà chẳng thủ,
chẳng xả, chẳng nhớ chẳng phải chẳng nhớ, chẳng được
chẳng phải chẳng được. Trong các pháp đó cũng chẳng có
pháp sanh diệt, cấu tịnh, tăng giảm, lai khứ, hiệp tán,
nhập xuất.
Như
các pháp tướng, như như tướng, pháp tánh, pháp trụ, pháp
vị, quá khứ, vị lai, hiện tại, tôi cũng tùy hỉ như vậy.
Tùy hỉ xong, hồi hướng Vô thượng Bồ đề.
Đây
là hồi hướng đệ nhứt hơn hết, vi diệu vô thượng, không
gì bằng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Pháp tùy hỉ nầy sánh với những pháp tùy hỉ
khác trăm ngàn muôn ức lần hơn, nhẫn đến thí dụ cũng
không kịp được.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Thiện nam, thiện nữ cầu Phật đạo, đối
với tam thế thiện căn từ sơ phát tâm đến pháp trụ của
chư Phật và chư Thanh văn, Bích Chi Phật, nhẫn đến vô lượng
Phật pháp khác, cùng thiện căn của những chúng sanh khác,
nếu muốn tùy hỉ thời phải tùy hỉ như thế nầy:
Phải
quan niệm rằng bố đồng đẳng với giải thoát, năm độ
kia cũng đồng đẳng với giài thoát, sắc, thọ, tưởng, hành,
thức đồng đẳng với giải thoát, nội không đến vô pháp
hữu pháp không đồng đẳng với giải thoát, tứ niệm xứ
đến bát thánh đạo phần đồng đẳng với giải thoát, thập
lực đến nhứt thiết chủng trí đồng đẳng với giải thoát,
giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến đồng
đẳng với giải thoát, tùy hỉ đồng đẳng với giải thoát,
các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại đồng đẳng với giải
thoát, chư Phật mười phương cùng giải thoát đồng đẳng,
chư Phật hồi hướng cùng giải thoát đồng đẳng, chư Phật
cùng giải thoát đồng đẳng, chư Phật diệt độ cùng giải
thoát đồng đẳng, Thanh văn, Bích Chi Phật cùng giải thoát
đồng đẳng, Thanh văn, Bích Chi Phật diệt độ cùng giải
thoát đồng đẳng, pháp tướng của chư Phật cùng giải thoát
đồng đẳng, pháp tướng của Thanh văn, Bích Chi Phật cùng
giải thoát đồng đẳng. Tất cả các pháp tướng cũng cùng
giải thoát đồng đẳng, tôi đem tướng những thiện căn
nầy tùy hỉ công đức hồi hướng Vô thượng Bồ đề cũng
đồng đẳng với giải thoát, vì bất sanh bất diệt vậy.
Nầy
Tu Bồ Đề! Đây gọi là đại Bồ Tát tùy hỉ công đức
đệ nhứt hơn hết, vi diệu vô thượng, không gì bằng.
Nầy
Tu Bồ Đề! Bồ Tát thành tựu công đức nầy thời mau được
Vô thượng Bồ đề.
Lại
nầy Tu Bồ Đề! Hiện tại nếu có thiện nam, thiện nữ vì
cầu Phật đạo nên trọn đời cúng dường hiện tại hằng
sa chư Phật và Thanh văn, Bích Chi Phật mười phương, cung
phụng tất cả đồ cần dùng và cung kính, tôn trọng, tán
thán, vì nắm lấy tướng hữu sở đắc vậy. Thật hành trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, vì nắm
lấy tướng hữu sở đắc.
Lại
có thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu vô thượng, thật hành
lục ba la mật, đem những thiện căn chẳng nắm lấy tướng
vô sở đắc, phương tiện lực hồi hướng Vô thượng Bồ
đề.
Phước
đức nầy đệ nhứt hơn hết, vi diệu vô thượng, không gì
bằng, hơn phước đức trên trăm ngàn muôn ức lần, nhẫn
đến ví dụ cũng không kịp được.
Nầy
Tu Bồ Đề! Đại Bồ Tát lúc thật hành lục ba la mật như
vậy, vì phương tiện nên phải đem thiện căn hồi hướng
Vô thượng Bồ đề, vì chẳng nắm lấy tướng vô sở đắc
vậy”.