|
|
|
|
|
Phần
Thứ Nhất-Quy Y
|
|
|
|
Phần
Thứ Hai-Ngôn Hành
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Thứ Ba- Nhơn Qủa
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
KINH LỜI VÀNG
Tác giả:
Dương tú Hạc
Dịch
giả: HT Thích Trí Nghiêm
Đôi nét về Hòa
Thượng
Thích Trí Nghiêm
Thân
thế:
Hòa Thượng Thích Trí
Nghiêm thế danh là Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân
Hợi (1911) tại Thôn Chánh Lộc, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng
Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên. Thân
phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị
Tham. Ngài là người con thứ hai trong gia đình có năm anh chị
em. Gia đình Ngài là một gia đình có truyền thống nhiều
đời uy tín Tam Bảo.
Xuất
gia tu học:
Ngài húy là Tâm Bổn,
tự là Truyền Lai, hiệu là Trí Nghiêm dòng Lâm Tế đời thứ
43.
-
Năm 15 tuổi (1926) xuất
gia thọ giới với Ngài Vĩnh Hảo Đại Sư (cũng là cậu ruột
của Ngài) tại chùa Phước Long, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng
Xuân, Tỉnh Phú Yên.
-
Năm 22 tuổi (1933), Ngài
thọ Đại Giới, tại Giới Đàn Chùa Bảo Sơn Phú Yên do Hòa
thượng Vạn Ân làm Đàn Đầu.
-
Năm 27 tuổi (1938) Ngài
được trúng tuyển vào tu học tại Phật Học Đường Bảo
Quốc Huế. Tại đây Ngài đã được sự truyền dạy của
Hòa Thượng Thích Trí Độ, một vị Đốc Giáo danh đức thời
bấy giờ. Chính nơi đây đã đào tạo nhiều vị Tăng tài
lỗi lạc cho Phật Giáo nước nhà hiện nay. Ngài đã tu học
tại Phật Học Đường này 8 năm.
Đạo
Nghiệp :
- Năm 1944 (34 tuổi), sau
khi mãn học, Ngài đã bắt đầu công việc hoằng hóa bằng
việc lưu hành diễn giảng Giáo lý tại các Tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên…
-
Năm 1945 (35 tuổi), Ngài
trở về Phú Yên làm trụ trì chùa Thiên Tôn ở Tuy An 9 năm.
Trong thời gian này Ngài đã tham gia Phật Giáo Cứu Quốc thuộc
liên khu V.
-
Năm 1955 Ngài lại tiếp
tục công cuộc hoằng hóa, chuyên lo giảng dạy Phật Pháp
tại các Tỉnh Hội Phật Học : Phú Yên, Khánh Hòa. Lúc này
Ngài được coi là vị Giảng Sư kỳ cựu của Hội Phật Học
Miền Trung.
-
Năm 1956, Ngài chủ trương
xây dựng Trường Bồ Đề Tuy Hòa và Cô nhi viện Phước Điền
Tuy Hòa, Phú Yên.
-
Năm 1957, theo thỉnh cầu
của Giáo Hội, Ngài ra giữ chức Hội Trưởng Hội Phật Học
Thừa Thiên Huế.
-
Năm 1960, Ngài vào thường
trú để lo Phật sự tại chùa Long Sơn, trụ sở Tỉnh Giáo
- Hội Phật Giáo Khánh Hòa Nha Trang hiện nay.
-
Năm 1964, Ngài là thành
viên của Hội Đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam thống nhất.
-
Năm 1966, Ngài giữ chức
Chánh Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất
Khánh Hòa - Nha Trang.
-
Năm 1968, Ngài là Chứng
Minh Đạo Sư của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống
nhất Khánh Hòa - Nha Trang.
-
Năm 1968, Ngài là Đệ nhị
Tôn Chứng tại Đại Giới Đàn Hải Đức Nha Trang (lần 2).
-
Năm 1973, Ngài làm Giáo
Thọ tại Đại Giới Đàn Phước Huệ Phật Học Viện Hải
Đức Nha Trang.
-
Năm 1974, Ngài làm giám
luật Ban Quảng trị Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha
Trang.
-
Năm 1977, Ngài được Đại
Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Đệ nhị Tăng Thống GH.
PG. VN TN. tấn phong Hòa Thượng.
-
Năm 1980 - Dịch xong bộ
Đại Bát Nhã Kinh
-
1980 - đến nay tiếp tục
nghiên cứu và phiên dịch Kinh điển Đại Thừa tại tại
Am Hoàng Trúc - thành phố Nha Trang.
Mặc dù bận nhiều Phật
sự về lãnh đạo và hoằng hóa, nhưng Ngài vẫn tinh tấn
chăm lo phiên dịch kinh luận để tiếp dẫn hậu lai.
1- Kinh
Lời Vàng : Nguyên danh kinh là "Phật Giáo Thánh
kinh", 1 quyển, do nữ cư sĩ Trung Hoa là Dương Tú Hạc biên
soạn.
2- Kinh
Phổ Môn giảng lục : 1 quyển, do Bảo Tịnh Pháp Sư
giảng (dịch năm 1969).
3- Kinh
Pháp Hoa giảng lục : 1 bộ, 7 quyển, 2 tập, do Thái Hư
Pháp Sư giảng (dịch năm 1969)
4- Luận
Thành Thật : 20 quyển, do Ha Lê Bạt Ma Tát soạn.
5- Kinh
Đại Bát Nha? 24 tập, 600 quyển, 5 triệu chữ (5.000.000),
do Huyền Trang Hán dịch. Khởi dịch từ năm 1973 đến năm
1980 mới hoàn tất.
Bốn kinh luận đầu
đã in, riêng "Kinh Lời Vàng" và "Kinh Pháp Hoa - giảng lục"
đã được tái bản một hai lần, " Kinh
Đại Bát Nha?ot; đã in 2 lần, lần mới nhất là năm
1998 tại Sài gòn.
Ngoài ra, còn 10 bộ kinh
nhỏ chưa in.
Hiện nay, Ngài là Chứng
minh Đạo Sư của tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh - Hòa Nha
Trang.
Melbourne, Xuân Tân Tị
2001
Tỳ
Kheo Thích Nguyên Tạng, lược ghi

|