CHƯƠNG
III
PHẬT
ĐÀ
A.TỪ
BI
Rõ
biết tất cả các pháp sanh diệt, rồi những pháp đáng tu
phải tu, đáng diệt phải diệt hết mới gọi là Phật. Phật
khi còn tại thế, như hoa sen sanh trong bùn mà chẳng dính bùn,
ở đời mà chẳng nhiễm đời, phá tất cả phiền não, rốt
ráo lìa ngăn mé sanh tử mới được gọi là Phật vậy.
Kinh
Trương A Hàm
Giác
ngộ gọi là Phật.
Kinh
Đại Nhựt
Ví
như người nhận biết có giặc, thời kẻ giặc không làm
gì được. Các vị Đại Bồ tát, năng giác ngộ tất cả
phiền não nhiều vô lượng. Đã giác ngộ thì khiến các phiền
não kia, không thể làm gì được. Cho nên gọi là Phật.
Kinh
Niết Bàn
Nay
trong ba cõi này, đều là vật sở hữu của Ta. Trong ấy có
bấy nhiều chúng sanh, đều là con Ta. Mà ngày nay cõi này lắm
hoạn nạn, duy một mình Ta, có thể cứu được mà thôi.
Kinh
Pháp Hoa
Ví
như người có bảy đứa con, có một đứa bị bệnh sự lo
lắng của cha mẹ chẳng phải bất bình đẳng, nhưng tâm niệm
của cha mẹ phải nghiêng nặng về đứa con bị đau. Đức
Như Lai đối với các chúng sanh, tuy chẳng phải bất bình
đẳng, nhưng kẻ có tội, lòng thương phải nặng hơn.
Kinh
Niết Bàn
Đức
Phật gọi ngài Xá Lợi Phất: Này Xá Lợi Phất! Tại sao tâm
Như Lai chẳng khá nghĩ bàn! Vì lòng đại bi của Như Lai thường
chẳng bỏ tất cả chúng sanh, khiến cho thành thục nên thường
thương xót; vậy nên tâm đại bi của Như Lai không có hạn
lượng, chẳng khá nghĩ bàn vậy.
Này
Xá Lợi Phất! Tự tánh bồ đề sáng suốt, nên Ta thành tựu
chánh giác. Tự tánh sáng suốt ấy là không bị ô nhiễm như
hư không, hư không biến khắp các nơi chỗ mà vẫn bình đẳng,
cho nên sáng suốt vậy. Như lai vì muốn khiến chúng sanh giác
ngộ tự tánh Bồ đề sáng suốt của mình, nên khởi lòng
đại bi.
Này
Xá Lợi Phất! Bồ đề không có ra vào, cho nên Ta thành tựu
chánh giác. Không ra vào ấy là không có hình tướng, nên chẳng
ra cũng chẳng vào, vì bình đẳng không có sai khác kia đây,
Như Lai muốn khiến chúng sanh biết như thế, nên mới chuyển
khởi tâm đại bi.
Này
Xá Lợi Phất! Như Lai muốn khiến những kẻ ngu phu dị sanh
hiểu biết chơn lý, nên khởi đại bi.
Kinh
Đại Thừu Bồ Tát Chánh Pháp
Tâm
Phật là tâm đại từ bi vậy. Đem lòng từ vô duyên, mà nhiếp
hóa chúng sanh.
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ
Đại
từ đại bi gọi là Phật tánh. Từ tức Như Lai, Như Lai tức
từ.
Kinh
Niết Bàn
Ta
ở trong vô lượng kiếp làm ông Đại thí chủ, giúp khắp
các kẻ nghèo khổ, mới thệ nguyện thành quả chánh giác.
Kinh
Vô Lượng Thọ
Này
Thiên nam tử! Bậc trí giả nhận thấy tất cả chúng sanh
chìm đắm trong biển cả sanh tử phiền não, vì cứu vớt,
nên sanh lòng thương.
Lại
thấy chúng sanh, mê nơi đường tà mà không ai chỉ dẫn, nên
sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, nằm trên đống bùn
năm dục mà chẳng biết tránh, hãy còn buông lung, nên sanh
lòng thương.
Lại
thấy chúng sanh, thường bị của cải vợ con trói buộc, mà
chẳng bỏ rời, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh,
thân, miệng, ý gây nghiệp chẳng lành, chịu nhiều quả khổ,
hãy còn vui đắm, nên sanh lòng thương.
Lại
thấy chúng sanh, khao khát tìm cầu năm món dục lạc, như kẻ
khát nước, uống nhằm nước mặn, nên sanh lòng thương. Lại
thấy chúng sanh, tuy muốn cầu sướng, mà chẳng tạo nghiệp
vui; tuy chẳng ưa khổ, lại thích tạo nhơn ác; muốn hưởng
vui cõi trời, mà chẳng tu đầy đủ giới hạnh, nên sanh lòng
thương. Lại thấy chúng sanh, đối với cái không phải ta
và không phải của cải bị có của cái ta mà sanh ý tưởng
ta và của ta, nên sanh lòng thương.
Lại
thấy chúng sanh sợ sanh, già chết mà lại gây tạo nghiệp
sanh, già chết nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, ở
chỗ tối tăm, mà chẳng biết thắp đèn trí huệ cho sáng
tỏ, nên sanh lòng thương.
Lại
thấy chúng sanh, bị lửa phiền não đốt cháy, mà chẳng biết
tìm nước chánh định để tưới cho tắt, nên sanh lòng thương.
Lại thấy chúng sanh, vì vui năm dục, chẳng cầu dứt đi,
như kẻ đói ăn cơm độc, nên sanh lòng thương.
Lại
thấy chúng sanh gặp Phật ra đời, nghe pháp cam lồ, mà chẳng
chịu tu trì, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, tìm
bạn tà ác, trọn chẳng nghe theo lời dạy của Thiện tri thức,
nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, có nhiều của cải,
chẳng tu bố thí, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh,
làm ruộng làm nghề, buôn ngược bán xuôi, mọi điều khổ
sở, nên sanh lòng thương. Lại thấy chúng sanh, cha mẹ, anh
em, vợ con, tôi tớ, bà con giòng họ, chẳng thương mến nhau,
nên sanh lòng thương.
Kinh
Ưu Bà Tắc Giới
B.
TRÍ TUỆ
Tâm,
ý thức của Như Lai rất khó lường, in như hư không làm chỗ
nương cho tất cả. Trí của Như Lai làm chỗ nương cho trí
thế gian và xuất thế gian. Ví như pháp giới thanh tịnh thường
làm chỗ nương dựa giải thoát cho Thanh văn, Duyên giác, và
Bồ tát. Ví như nước biển cả chảy thấm nhuần khắp đất
bốn thiên hạ. Trí của Như Lai trong sạch sáng suốt, bình
đẳng không hai, không có phân biệt. Nhưng chỉ tùy theo chỗ
sai khác tâm hành của chúng sanh, nên chỗ được trí huệ
đều chẳng đồng vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Như Lai thành quả chánh giác với tất cả nghĩa: không còn
quan sát pháp bình đẳng, không còn chỗ nghi hoặc; không hình,
không tướng, không đi cũng không đứng, không lường không
ngăn, lìa hai bên, trụ trung đạo, vượt ra ngoài tất cả
văn tự ngữ ngôn; mà biết tất cả bản tánh ưa muốn, tâm
nghĩ, chỗ làm và những phiền não tập nhiễm của chúng sanh;
với trong một niệm biết hết tất cả các pháp trong ba đời,
in như biển cả, có bấy nhiêu thân sắc hình tượng của
chúng sanh trong bốn thiên hạ đều có thể ẩn hiện trong
biển ấy vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
Cõi
nước trong sạch ở phương đông có Đức Phật hiệu Nhựt
Nguyệt Quang. Vị Phạm Thiên Tư Ích bái hào quang của Đức
Phật, rồi đến chỗ Phật mà thưa rằng: Bạch Đức Thế
Tôn! Tôi nay muốn đến thế giới Ta bà để lễ bái Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni và cúng dường thân cận?
Phật
Nhựt Nguyệt Quang bằng lòng và bảo: Cõi Ta bà hiện nay đang
tập hội rất đông Bồ tát, ngươi nên dùng 10 pháp mà đến
cõi kia:
Với
việc chê khen, tâm chớ thêm bớt
Nghe
được thiện ác, tâm đừng phân biệt
Với
kẻ ngu kẻ trí đều đem lòng thương mà giao tiếp
Với
ba bậc chúng sanh thượng, trung, hạ, ý thường bình đẳng
Việc
cúng dường không nên hai lòng
Họ
có khuyết điểm, đừng chấp chỗ lỗi
Với
các Thừa chỉ thấy Nhất thừa
Nghe
tên ba ác đạo, đừng sợ hãi
Thấy
các Bồ tát nên tưởng đó là Như Lai
Đức
Phật bên ấy, xuất hiện nhằm đời năm món đục vẩn, nên
tưởng là hiếm có
Người,
nên lấy mười pháp nầy mà qua bên ấy.
Ngài
Phạm Thiên Tư Ích thưa: Tôi nay xin đi, nhờ Phật biết cho
và hộ niệm.
Kinh
Phạm Thiên Tư Ích Sở Vấn
Huệ
sáng chói không lường, thân như núi Chơn Kim, sắc vàng màu
chói sáng, khắp soi các thế giới, theo vật hiện màu sắc,
vậy nên cúi đầu lễ.
Luận
Thập Trụ Tì Bà Ta
Thí
như mặt trời xuất hiện cõi Diêm Phù Đề, trước chiếu
núi Tu di và các núi cao cả, thứ chiếu núi Bắc Sơn, thứ
nữa chiếu gò cao, nhiên hậu mới chiếu tất cả đại địa.
Nhưng mặt trời không có quan niệm sai biệt chiếu chỗ nầy
trước nơi nọ sau, mà bởi chốn đại địa có cao thấp,
nên mới có sự chiếu soi trước sau sai khác.
Đức
Như Lai thuyết pháp cũng giống như thế. Đã trọn nên bánh
xe trí huệ vô lượng pháp giới, thường phóng ra trí huệ
chói sáng không ngăn ngại, trước chiếu các Bồ Tát là bậc
Đại sơn vương, thứ chiếu Duyên Giác, thứ nữa chiếu Thanh
Văn và sau cùng mới chiếu soi những chúng sanh có căn lành
quyết định, tùy theo tâm lượng, mà hiện trí rộng lớn;
nhiên hậu mới chiếu soi khắp tất cả chúng sanh cho đến
những kẻ tu tà định cũng đều soi tới.
Nhưng
đại trí Nhựt Quang của Như Lai chẳng bao giờ nghĩ sai khác
như vậy, chỉ phóng yến sáng bình đẳng chiếu soi khắp cả,
không có ngăn ngại; mà vì tâm trí chúng sanh có cao thấp,
nên sự chiếu soi mới có trước sau sai khác vậy thôi.
Kinh
Hoa Nghiêm
Ví
như mặt, trời mọc sáng soi mà kẻ mù chẳng từng thấy,
vì không mắt từ trong bụng mẹ, tuy không thấy, nhưng họ
vẫn được hưởng lợi ích ánh sáng của mặt trời. Trí
quang cũng như vậy. Những chúng sanh mù không tin, không hiểu,
phá giới, sống lối sống tà mạng, vì không có con mắt tin,
chẳng thấy vầng huệ nhựt của các đức Phật; nhưng cũng
được trí nhật của các đức Phật làm lợi ích cho. Tại
sao? Vì các Phật Như Lai dùng sức thành tựu khiến chúng sanh
có bấy nhiêu khổ nơi thân và phiền não nơi tâm, cùng những
nhơn khổ vị lai đều tiêu dứt mà được căn lành vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Phật:
Có
chúng sanh chuyên tâm nhớ nghĩ, thời hiện trước mặt
Có
chúng sanh, thân tâm điều thuận, vì hiện nói pháp
Có
chúng sanh, hay sanh tịnh trí, quyết được căn lành vô lượng
Có
chúng sanh, hay vào ngôi pháp, đều khiến hiện chứng hiểu
rõ
Có
chúng sanh, thời giáo hóa không biết nhàm mỏi
Dạo
nước các đức Phật qua lại không ngại
Vì
lòng đại bi, nên chẳng bỏ một chúng sanh nào
Hiện
thân biến hóa, hằng chẳng dứt bặt
Thần
thông tự tại, chưa từng ngừng nghĩ
An
trụ pháp giới mà năng quan sát
Kinh
Hoa Nghiêm
C.
CỨU TẾ
Đức
Phật năng lấy pháp tự trừ mê, cũng khiến người trừ mê;
tự được thiền định, cũng khiến người được thiền
định; tự qua bờ bên kia, cũng khiến người qua bờ bên kia;
tự giải thoát, cũng khiến người được giải thoát; và
tự được diệt độ, cũng khiến người được diệt độ.
Kinh
Trường A Hàm
Đức
Phật hỏi ông thầy tập voi về phương pháp điều phục con
voi có mấy thứ?
Thầy
tập voi đáp: Thưa Ngài có 3 thứ là:
Lấy
móc sắt móc nơi miệng, rồi xỏ dây cột dắt
Giảm
ăn thường khiến nó đói ốm
Lấy
gậy đánh cho thật đau
Nhờ
cái móc móc miệng, mới chế được cái miệng dữ; nhờ chẳng
cho ăn nhiều mới chế được cái thân hung bạo; nhờ đánh
đập, mới chế phục được cái tâm hung hăng.
Đức
Phật bảo với ông thầy voi rằng: Ta cũng có 3 pháp như vậy,
để mà điều phục mọi chúng sanh, và cũng tự điều phục
mình nữa, khiến cho được đạo vô vi:
Lấy
tâm chí thành mà chế ngự lỗi nơi miệng
Lấy
lòng trong lành, mà chế phục cái thân cang cường
Lấy
trí huệ diệt ngu si
Ai mà
đủ ba món nầy, thời độ được mọi người xa lìa ba ác
đạo.
Kinh
Pháp Cú Thí Dụ
Đức
Phật bảo Phạm thiên Tư ích: Này Tư Ích! Nếu ai hay biết
Phật dùng năm sức mà nói pháp, thì kẻ ấy mới có thể
làm Phật sự.
Tư
Ích thưa: Bạch Thế Tôn! Phật dùng năm món sức là thứ gì?
Phật
dạy: 1. Lời nói, 2. Tùy nghi, 3. Phương tiện, 4. Pháp môn,
5. Đại bi.
Lời
nói: Là nói các pháp ba đời quá khứ, vị lai và hiện tại;
nói pháp thế gian và xuất thế gian; nói pháp có tội không
tội; nói pháp hữu lậu vô lậu; nói pháp hữu vi vô vi; nói
pháp sanh tử Niết bàn. Nhưng các pháp ấy không thể nói mà
phải nói. Nếu khi biết như thế, tuy có tất cả lời nói,
mà với các pháp ấy không tham đắm, vì không tham đắm nên
tài biện luận không bị ngăn ngại, vì các lời nói ấy chẳng
phá hoại được pháp tánh của các pháp, là vì lời nói chẳng
phải pháp tánh vậy.
Tùy
nghi: Là cầu pháp nói tịnh pháp mà tịnh pháp nói cấu pháp;
vì kẻ chấp trước nơi lời nói, nên thật ngữ nói hư vọng;
vì kẻ ngạo mạn quá nặng, nên hư vọng nói thật ngữ; vì
muốn diệt các chấp điên đảo phiền não nên nói có Niết
bàn; vì muốn diệt cái chấp các pháp bất sanh, bất diệt
và vô thường, nên nói không có Niết bàn; tùy theo pháp thế
gian, nói có chúng sanh; tùy theo pháp xuất thế gian, nói không
có chúng sanh.
Phương
tiện: Phật vì chúng sanh nói bố thí được đại phước,
trì giới được lên trời, nhẫn nhục được quả báo thân
tốt đẹp tinh tấn được các công đức, thiền định được
pháp vui, trí huệ được bỏ các phiền não, đa văn được
thêm lớn trí huệ, tu thập thiện hưởng phước người trời;
từ bi hỷ xả, được làm Phạm thiên; thiền định được
như thật trí huệ; trí huệ được đạo quả; bậc "học"
được bậc vô học, bậc Phật mới được vô thượng trí
huệ; Niết bàn diệt tất cả phiền não. Nhưng Như Lai vô
ngã tướng, vô nhơn tướng, vô chúng sanh và vô thọ giả
các tướng. Cũng không bố thí cùng tham lam, không trì giới
cùng phá giới, không nhẫn nhục cùng giận dữ; không tinh
tấn cùng biếng lười, không thiền định cùng tán loạn,
không trí huệ và quả trí huệ. Không có tất cả các tướng
mà thường nói pháp, là đều vì tất cả chúng sanh mới phương
tiện mà nói pháp vậy.
Pháp
môn: Là mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu căn, với sắc thanh
hương vị xúc pháp sáu cảnh, đều là cửa giải thoát. Tại
sao thế? Vì là sáu căn sáu cảnh kỳ thiệt là: không, vô
ngã, vô ngã sở, không, vô tướng, vô tác, vô sanh, vô diệt,
vô sở lai, vô sở Khứ, vô thối, vô khởi, là vì pháp tánh
thanh tịnh mà Ta phương tiện dùng văn tự để chỉ vẽ mà
thôi.
Đại
bi: Là Phật dùng 32 đại bi cứu độ chúng sanh:
Tất
cả các pháp vô ngã mà chúng sanh chẳng tin chẳng biết, Ta
nơi ấy mà sanh khởi lòng đại bi
Tất
cả chúng sanh, thật không mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không thọ mạng mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không tướng người mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không bị có mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không trụ mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không chỗ về mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không phải vật bị có của ta mà tin có, khởi đại
bi
Tất
cả pháp, không sở thuộc về ai mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không có tướng khá lấy mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không sanh mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, chẳng thối sanh mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp, không dơ mà chấp dơ, nên khởi đại bi
Tất
cả pháp, lìa nhiễm mà cho có nhiễm, khởi đại bi
Tất
cả pháp, lìa sân mà cho có sân, khởi đại bi
Tất
cả pháp, lìa si mà cho có si, khởi đại bi
Tất
cả pháp không chỗ đến, mà tin có đến, nên khởi đại
bi
Tất
cả pháp không chỗ đi, mà tin có đi, khởi đại bi
Tất
cả pháp không khởi, mà tin có khởi, khởi đại bi
Tất
cả pháp không hí luận mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp vô tướng mà tin có, khởi đại bi
Tất
cả pháp vô tác mà tin có, khởi đại bi
Thế
gian thường khởi giận dữ, tranh dành, khởi đại bi
Thế
gian khởi niệm tà kiến, làm tà hạnh, khởi đại bi
Thế
gian tham ăn không nhàm, cướp giựt lẫn nhau, khởi đại bi
Chúng
sanh đối với sản nghiệp vợ con v.v… mến chấp chắc cứng,
nên khởi lòng đại bi
Chúng
sanh tham đắm với cái thân, nên khởi đại bi
Chúng
sanh ưa dối gạt, làm tà mạng, nên khởi đại bi
Chúng
sanh vui ở nhà bất tịnh, nên khởi đại bi
Chúng
sanh lười biếng tu hạnh chánh giải thoát, khởi đại bi
Chúng
sanh bỏ trí huệ cao tột, mà cầu mong trí huệ Thanh văn, Duyên
giác, nên khởi đại bi
Tất
cả pháp không diệt, mà tin có diệt, nên khởi đại bi
Nếu
có Bồ tát nào sanh khởi lòng đại bi như thế là đấng Đại
Phước Điền vậy.
Kinh
Phạm Thiên Tư Ích Sở Vấn
Phật
dùng một âm diễn nói pháp, tùy các loài chúng sanh đều được
hiểu.
Kinh
Duy Ma
Tiếng
Như Lai mầu nhiệm, vang dội nghe mười phương.
Luận
Trí Độ
Có
lời hỏi: Pháp mà đức Phật đã chứng chỉ có một, nhưng
cớ chi lại hiện cõi nước vô lượng, giáo hóa chúng sanh
vô lượng, diễn tiếng nói vô lượng và hiện thân vô lượng
vậy?
Đáp:
Ví như tánh đất chỉ có một, chúng sanh ở rải rác, đất
không nghĩ là đồng hay là khác. Lại như tánh lửa cũng chỉ
có một, mà hay đốt mọi vật, lửa không phân biệt chi hết.
Và như nước ở biển cả chỉ có một, mà hiện ngàn vạn
hình sóng mòi, nước không phân biệt. Lại cũng như tánh gió
chỉ có một mà thổi tất cả vật, gió cũng không có nghĩ
thổi riêng từng vật nào. Và như vầng thái dương không bị
mây mù, thì soi khắp mười phương mà tánh chói sáng chẳng
sai khác.
Pháp
của các đức Phật cũng in như vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
D.
PHÁP THÂN
Phật
nói: Từ nay về sau, các đệ tử Ta truyền nhau hành đạo,
tức là pháp thân Như Lai thường còn ở đời mà chẳng mất
vậy.
Kinh
Di Giáo
Pháp
thân là bất động, bất sanh, bất hý luận, bất phân biệt,
yên lặng vậy. Chẳng khá thấy, chẳng khá nghe, chẳng khá
ngửi, chẳng khá nếm, chẳng khá rờ, in như thấy các bóng
trong gương, tùy theo tâm chúng sanh, mọi sức tin hiểu, mà
thị hiện các thân sai khác.
Kinh
Phật Cảnh Giới
Trí
Như Lai sâu thẩm, khắp chuyển nới pháp giới, dẫn đường
sáng cho đời, đồng pháp thân các Phật, tùy theo ý chúng
sanh, cho thấy các hình sắc, một cõi một Phật thân, hóa
làm vô lượng Phật.
Kinh
Hoa Nghiêm
Ngài
Đại Huệ Bồ Tát lại thưa với đức Phật rằng: Thưa Thế
Tôn! Vì sao Như Lai có mật ý đối với đại chúng mà xướng
lời như vậy: "Ta là tất cả các đức Phật đời quá khứ."
Đức
Phật đáp: Này Đại Huệ! Vì Như Lai nương 4 món bình đẳng
nên có mật ý với trong đại chúng mà nói lời như thế.
Là 4 món gì? Gọi là: 1. Tự bình đẳng, 2. Ngữ bình đẳng,
3. Thân bình đẳng, 4. Pháp bình đẳng.
Tự
bình đẳng là: Ta gọi là Phật, tất cả các đức Như Lai
khác cũng gọi là Phật, tên Phật không sai khác, ấy là tự
bình đẳng.
Ngữ
bình đẳng là: khởi lên các lời bằng tiếng phạm âm, tất
cả các Như Lai cũng nói tiếng ấy, vì tánh của tiếng phạm
âm chẳng thêm chẳng bớt, không có sai khác, ấy là ngữ bình
đẳng.
Thân
bình đẳng là: pháp thân sắc tướng và các món tùy hình
hảo của Ta cùng với các đức Phật khác thảy đều đồng,
không có sai biệt, ấy là thân bình đẳng.
Pháp
bình đẳng là: Ta cùng các đức Phật khác đều đồng nói
được 37 món bồ đề phận pháp, ấy là pháp bình đẳng.
Do đó
cho nên Như Lai đối giữa đại chúng mà nói lời như thế.
Kinh
Nhập Lăng Già
Thân
Phật dầy nhẫy trong pháp giới.
Khắp
hiện trước mặt mọi chúng sanh.
Theo
duyên cảm đến thảy đều khắp.
Mà
thường ngồi tòa các Bồ tát.
Kinh
Hoa Nghiêm
Pháp
thân Như Lai với pháp thân Bồ tát bản thể tuy không khác,
mà với công đức oai lực thời chẳng đồng. Tất cả pháp
tánh tướng bình đẳng, bản thể đồng nhất: Phàm Thánh,
mê ngộ, nhiễm tịnh, nhơn quả khứ lai, tiến thoái, đều
đồng một tướng vậy. Nhưng như ngọc ma ni chưa được mài
đủa lau chùi thời chưa có ánh sáng vẻ vang. Pháp thân của
Bồ Tát cũng như viên ngọc ma ni chưa dũa lau, cho nên không
thể nói là đồng với Pháp thân Như Lai được.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Phật bảo Ngài Ca Diếp rằng: Thân Như Lai là thân thường
trú, cái thân cứng như kim cương không thể phá hoại được.
Hễ ai có nhơn duyên hay hộ trì Chánh pháp, thời thành tựu
được thân kim cương này. Ta nhiều đời về trước, nhờ
nhân duyên hộ pháp, mới được trọn nên thân kim cương thường
trú chẳng khá hoại nầy.
Kinh
Niết Bàn
Ngài
Di Lặc Bồ Tát hỏi Phật rằng: Khi Phật ở thành Tì Gia mà
thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, cho đến nay chưa bao lâu,
mà được vô số Phật, Bồ tát đã nhiều kiếp tu hành đến
nay kính lễ Thế Tôn, in như ông già trăm tuổi bảo một kẻ
thanh niên hơn hai mươi tuổi rằng: "Ngươi là cha ta vậy".
Cha mà nhỏ tuổi hơn con, cả người đời chẳng ai tin nổi.
Xin Phật vì người đời sau mà giải thích cho điều nghi này.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo cả chúng Đại Bồ tát rằng: Từ
khi Ta thành Phật đến nay đã 500 vạn ức số mảy trần,
cũng đã trải qua trăm ngàn vạn ức thời gian số kiếp. Từ
ấy đến nay ta thường ở thế gian này thuyết pháp giáo hóa,
và còn ở trăm ngàn vạn ức thế giới khác nữa, mà dìu
dắt lợi ích cho chúng sanh.
Này
các Bồ Tát! Ta ở trong ngần ấy thời gian, làm các món Phật
sự, và lại nói rằng nhập Niết Bàn như thế, đều là dùng
phương tiện vậy thôi. Các Bồ Tát! Ta tiếp người ứng theo
tri thức của họ mà nói ra danh tự chẳng đồng, tuổi tác
lớn nhỏ; lại có lúc nói nhập Niết Bàn, có lúc chẳng nhập
Niết Bàn. Như Lai với chúng sanh nào ưa tiểu pháp, thời Ta
nói Ta xuất gia từ nhỏ, rồi chứng được quả vô thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng kỳ thật Ta thành Phật đến
nay đã lâu lắm rồi, chỉ dùng phương tiện giáo hóa chúng
sanh khiến vào Phật Đạo nên mới nói như vậy thôi.
Này
các Bồ Tát! Như Lai diễn nói kinh điển đều nhắm mục đích
độ thoát chúng sanh. Tuy là hoặc nói thân mình, hoặc nói
thân người, hoặc hiện việc mình, hoặc hiện việc người;
đã nói ra đều là chân thật, chẳng hư.
Tại
sao thế? Tại vì Như Lai thật biết thấy toàn tướng ba cõi
không có sanh tử, hoặc vào hay ra, không có kẻ tại thế hay
diệt độ, chẳng thật cũng chẳng hư, chẳng đồng cũng chẳng
dị, chẳng phải giống như cái thấy biết ba cõi của phàm
phu.
Như
Lai thấy biết rõ ràng, không có lầm lẫn. Bởi chúng sanh
có nhiều lòng tham muốn, nhiều món phân biệt, cho nên phải
nói nhiều nhơn duyên, nhiều phương pháp, để khiến tu các
điều lành. Như vậy Ta từ khi thành Phật đến nay, đã rất
lâu xa, sống lâu vô lượng thường trú chẳng diệt; mà lại
nói rằng "Diệt" là vì muốn giáo hóa chúng sanh vậy. Thế
thì tại sao mà chẳng nói Như Lai thường trú bất diệt? Bởi
những người bạc đức, chẳng trồng căn lành, nều nói thế
họ càng bần cùng hạ tiện, tham lam ngũ dục mà bị đọa
vào vọng kiến, cho nên phải phương tiện bảo rằng: "Các
Đức Phật ra đời khó gặp, qua trăm vạn kiếp mới có Phật
ra đời, mà còn có người chẳng thấy Phật". Chúng sanh nghe
lời nói này, thời nhất định sẽ nghĩ là khó gặp, mới
sanh lòng khao khát trong gặp Phật, muốn trồng các căn lành,
vậy nên Như Lai chẳng diệt mà bảo rằng "diệt độ" vậy.
Kinh
Pháp Hoa
Pháp
thân Như Lai phi lai, phi khứ, vì thật tánh của các pháp chẳng
lay động vậy. Chơn như là Như Lai, pháp giới là Như Lai,
pháp tánh là Như Lai, tánh không hư vọng là Như Lai, tánh không
biếng nhác là Như Lai, tánh bình đẳng là Như Lai, tánh ly
sanh là Như Lai, thật tánh là Như Lai, trụ tánh là Như Lai,
thật tế là Như Lai, cõi hư không là Như Lai, cõi chẳng nghĩ
bàn là Như Lai, tánh vô sanh là Như Lai, tánh vô diệt là Như
Lai, tánh như thật là Như Lai, tánh xa lìa là Như Lai, tánh
vắng lặng là Như Lai, không tánh là Như Lai, vì là không đến
không đi vậy.
Kinh
Đại Bát Nhã
Đức
Phật gọi Ngài Ca Diếp: Này Ca Diếp! Phật tánh thẳm sâu
khó thấy khó vào. Ví như như có một trăm kẻ mù, vì muốn
chữa mắt, mới rủ nhau đến một danh sư. Vị thầy thuốc
lấy con dao bằng vàng cắt màng trong con mắt; rồi ông đưa
một ngón tay hỏi bọn kẻ mù thấy không? Đáp: chưa thấy
được. Ông lại đưa hai ba ngón, bọn kẻ mù mới thấy lờ
mờ. Cũng như có vô lượng Bồ Tát, đầy đủ các món Ba
la mật, tuy chứng đến Thập trụ, mà Như Lai chưa nói Phật
tánh nên chẳng hay thấy được Phật tánh, Thập Trụ Bồ
Tát hãy còn chẳng thấy huống hồ nhị thừa. Và đến khi
Như Lai đã nói Phật tánh, mới thấy chút ít vậy.
Ví
như có người đi ngoài đồng nội, khát mà tìm nước, vừa
có con hạc trắng ở trong đám cây rừng rậm, kẻ khát kia
vì mê muội, nên không thể phân biệt được, cho con hạc
là nước, và khi đến nơi xem kỹ mới biết là con hạc trắng.
Kinh
Niết Bàn
Đức
Phật dạy: Các Đệ tử ví như có một nhà vua, phán quan Đại
thần đem một con voi bảo bọn người mu rờ coi. Bọn mù mỗi
người chỉ rờ được một chỗ thôi. Nhà vua hỏi bọn mù
hình voi ra sao? Kẻ rờ được cặp ngà thì tâu: hình nó như
hai bắp chuối; kẻ rờ nhằm hai tai thì tâu: hình nó giống
như cái quạt mo, kẻ rờ nơi đầu thì tâu: không phải như
chuối, mo, mà như cục đá; kẻ rờ trúng cái vòi thì trả
lời giống như khúc chày; kẻ rờ phải chân nói voi giống
như chiếc cối; có kẻ bộ cao con nên rờ đến trên lưng
thì tâu: con voi giống như chiếc giường nằm, kẻ lùn rờ
nơi bụng thì tâu: như cái lu; và kẻ rờ nhằm cái đuôi thì
tâu: cái hình con voi chỉ giống như một đùm giây chớ chẳng
giống gì khác.
Bọn
người mù đã tâu, tuy chẳng nói hết được toàn thân con
voi, nhưng ngoài cái mà họ đã nói thì không có voi. Tất cả
pháp, tại sắc bất tại thọ, đều là Phật tánh vậy.
Kinh
Niết Bàn
Ở
trong một mảy trần thấy đủ các thế giới chúng sanh nghe
điều này phát cuồng tâm mê loạn.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Di Lặc Bồ tát bảo Ngài Diệu Cát Tường rằng: "Tôi không
thể cúng dường Đức Như Lai được. Tại sao thế? Vì Như
Lai Chơn Như, không có hai tướng, Chơn Như là Như Lai vậy".
Ngài
Diệu Cát Tường hỏi: Sao Ngài biết không có hai tướng? Ngài
Di Lặc đáp: Vì sanh khởi tâm phân biệt sai khác rồi cho:
đây là phiền não, kia là xuất thế gian, nên có hai tướng.
Nếu liễu đạt được nhứt tánh tất cả mọi pháp như thế
cả thời không có hai tướng.
Đối
với hai tướng, nếu chẳng bị tùy theo thức nó chuyển biến
khởi các tướng phân biệt thời không có hai tướng.
Kinh
Thần Thông Cảnh Giới
Cảnh
giới các Đức Phật Thế Tôn không thể so sánh được, vì
cảnh giới bất khả tư nghì. Có chỗ đã gọi: Tất cả các
đức Phật ngồi xếp bằng tréo chân một chỗ mà biến đầy
khắp mười phương vô lượng thế giới. Tất cả các Đức
Phật nói nghĩa một câu đều có thể mở bày, tất cả Phật
pháp. Tất cả các Đức Phật phóng một ánh hào quang đều
có thể soi khắp tất cả thế giới. Tất cả các Đức Phật
với trong một thân, đều có thể thị hiện tất cả các
thân. Tất cả các Đức Phật với trong một chỗ, đều có
thể thị hiện tất cả thế giới. Tất cả các Đức Phật
với trong một trí, đều có thể thấu rõ tất cả các pháp.
Tất cả các Đức Phật với trong một niệm, đều có thể
trụ mười phương thế giới. Tất cả các Đức Phật với
trong một niệm, đều có thể hiển hiện vô lượng oai đức
của Như Lai. Tất cả các Đức Phật với trong một niệm,
khắp duyên ba đời Phật và chúng sanh mà tâm không lộn xộn.
Và tất cả các Đức Phật với trong một niệm, cùng với
các Đức Phật quá khứ, hiện tại vị lai thể một không
hai vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
Bồ
tát biết tất cả cảnh giới trong thế gian là cảnh giới
của Như Lai. Tất cả cảnh giới ba đời, tất cả cõi cảnh
giới, tất cả pháp cảnh giới, tất cả chúng sanh cảnh giới,
cõi chơn thật không sai khác cảnh giới, pháp giới không ngăn
ngại cảnh giới, thật tế không ngằn mé cảnh giới, hư
không không hạn lượng cảnh giới, cảnh giới không có cảnh
giới là Như Lai cảnh giới. Cảnh giới của thế gian nhiều
vô lượng thì cảnh giới của Như Lai cũng nhiều vô lượng.
Kinh
Hoa Nghiêm
Người
đời buông lung say mê trong năm món dục, vọng tưởng xằng
bậy mà gây tội khổ. Vậy nên siêng năng tu hành chẳng buông
lung, phụng hành Phật pháp, lập đại thệ nguyện, năng độ
kẻ mê ấy là Phật cảnh giới. Thấy kẻ mê lầm lạc đường
Chánh Đạo, tập thành các tà hạnh đọa vào các thú, ở
lâu trong chốn rất tối tăm; vì những kẻ ấy hiện ra đèn
trí huệ khiến thấy Phật pháp, là Phật cảnh giới.
Nước
biển trong ba cõi sâu rộng mênh mông không bờ đáy; các chúng
sanh nối chìm trong đó, dùng phương tiện tạo thành con thuyền
Chánh pháp để độ qua, là Phật cảnh giới vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
Cảnh
giới các Đức Phật chẳng khá nghĩ bàn, tất cả chúng sanh
suy lường cảnh giới Phật, thời tâm phát cuồng loạn.
Kinh
Bát Nhã
E.
NIẾT BÀN
Đức
Phật bảo đại chúng rằng: Niết bàn là giải thoát. Niết
Bàn chẳng phải sắc mà Nhị thừa giải thoát vậy; sắc ấy
là giải thoát của các Đức Phật. Giải thoát mà khi nào
xa lìa tất cả ràng buộc, không còn sanh, không còn hòa hiệp
là chẳng phải chơn giải thoát.
Chơn
giải thoát tức Như Lai, vì tính thanh tịnh vậy. Như Lai với
giải thoát không hai. Chơn giải thoát là như hư không; chơn
giải thoát là vô vi; chơn giải thoát là vô bệnh, chơn giải
thoát là yên lặng; chơn giải thoát là yên ổn; chơn giải
thoát là không có bè bạn; chơn giải thoát là không lo sợ;
chơn giải thoát là không buồn vui; chơn giải thoát là không
hư hoại; chơn giải thoát là không ép bức; chơn giải thoát
là không động pháp; chơn giải thoát là hiếm có; chơn giải
thoát là chẳng khá lường; chơn giải thoát là tối thượng;
chơn giải thoát là vô thượng; chơn giải thoát là hằng thường;
chơn giải thoát là kiên thiệt; chơn giải thoát là vô biên;
chơn giải thoát là sâu thẳm; chơn giải thoát là chẳng khá
thấy; chơn giải thoát là chẳng khá lấy; chơn giải thoát
là thanh tịnh; chơn giải thoát là một vị; chơn giải thoát
là vắng lặng; chơn giải thoát là bình đẳng; chơn giải
thoát là biết đủ; chơn giải thoát là lặng thinh.
Kinh
Niết Bàn
Có
lời hỏi Đức Phật vào Niết bàn có phải cũng vô thường
hay không?
Lời
đáp: Niết bàn chẳng phải vô thường mà là thường trú
vậy. Tại sao thế? Vì Thế gian có 5 nhơn:
Sanh
nhơn: nghiệp phiền não và các hạt giống cỏ cây v.v…
Hòa
hiệp nhơn: là thiện với thiện tâm hòa hiệp, bất thiện
với bất thiện tâm hòa hiệp, vô ký với vô ký tâm hòa hiệp
vậy.
Trụ
nhơn: là vì ở dưới có trụ cột nên cái nhà chẳng bị
sụp đổ
Tăng
trưởng nhơn: như nhờ nhơn duyên mặc áo, ăn uống v.v… nên
khiến chúng sanh thêm lớn thân mạng; còn ngoại cảnh như
các hạt giống chẳng bị lửa đốt, chẳng bị chim ăn mà
được sanh trưởng vậy.
Viễn
nhơn: Như nhờ quốc vương, nên không có kẻ trộm cướp;
cũng như mộng giống nương nhờ đất nước gió lữa v.v…
mà được sanh lớn
Nhưng
bản thể Niết Bàn chẳng phải do năm nhơn nầy mà tạo thành,
cho nên không thể là vô thường được.
Lại
còn có hai nhơn nữa: thứ nhất là liễu nhơn: như đèn đuốc
soi vào trong chỗ tối: thứ hai là tác nhơn: như thợ sứ làm
thành đồ sứ vậy. Nhưng Niết Bàn chẳng phải nhờ tác nhơn
tạo thành, mà chỉ nhờ liễu nhơn được hiển hiện vậy
thôi. Cho nên liễu nhơn cũng gọi là 37 món đạo phẩm và
lục độ vậy.
Kinh
Niết Bàn
Đức
Phật bảo Ngài Ca Diếp: Này Ca Diếp! Các Thanh văn và phàm
phu, nghe nói Tam thừa không sai khác mà sanh lòng nghi. Nhưng
Tam thừa thành tựu được Đạo quả, đồng là một Phật
tánh, cho nên không có sai khác. Các chúng sanh đời sau xa mới
biết tất cả Tam Thừa đồng một Phật tánh; như trừ bỏ
được các quặng bẩn trong vàng mới thành vàng ròng: chúng
sanh đến bực hết phiền não, mới biết là Tam Thừa đồng
một Phật tánh. Nếu nói rằng Thanh Văn như Xá Lợi Phất
được tiểu Niết Bàn, Duyên Giác được trung Niết Bàn, Bồ
tát được đại Niết bàn ấy, là có lỗi. Tuy khai thị ra
có Tam thừa đấy, nhưng khi biết Như Lai Bí mật Tạng thời
các vị A La Hán cũng đều được đại Niết bàn. Cho nên
đại Niết bàn là vui rốt ráo vậy, chớ đâu có sai khác.
Kinh
Niết Bàn
Đức
Phật bảo Tư Ích rằng: Ta chẳng bị sanh tử mà cũng chẳng
được Niết bàn gì ráo.
Bấy
giờ có 500 vị Tỳ kheo vừa nghe lời ấy đều từ chỗ ngồi
đứng dậy một lượt mà thưa Phật rằng: Bạch Đưc Thế
Tôn! Như vậy thì bọn chúng tôi luống tu phạm hạnh, nếu
không có Niết bàn thời tu Đạo cầu trí huệ làm chi?
Ngài
Tư Ích Phạm Thiên thay Phật mà giải thích cho các Tỳ kheo
rằng: Ví như có người si sợ hư không, bỏ hư không mà chạy,
thì chạy đến chỗ nào cũng đều gặp hư không. Trái lại
có một người tìm hư không rông chạy đông tây mà rằng:
"Tôi tìm hư không". Người này chỉ biết cái tên hư không
mà chẳng biết hư không là chi cả. Cũng thế kẻ cầu Niết
Bàn, hằng qua lại trong Niết Bàn mà chẳng biết Niết bàn
là chi, còn cho đó là phiền não; cũng bởi chỉ biết danh
tự Niết Bàn mà chẳng biết bản thể Niết Bàn vậy.
Kinh
Phạm Thiên Tư Ích Sở Vấn
Đức
Phật bảo Ngài Đại Huệ rằng: Này Đại Huệ: Vô tánh thừa
là hạng xiển đề vậy. Hạng này có hai thứ: một là vì
bỏ tất cả căn lành; hai là phát khởi tâm nguyện thương
tất cả chúng sanh, tận cùng tất cả cõi chúng sanh ấy vậy.
Thế
nào là bỏ tất cả căn lành? Nghĩa là bài báng Bồ Tát Tạng
rằng: "Thuyết nầy chẳng phải thuận với giải thoát". Chính
khi thốt ra lời ấy căn lành đều bị dứt mất, thời không
thể vào Niết Bàn được.
Còn
thế nào là phát nguyện thương chúng sanh tận cùng các cõi
chúng sanh? Trả lời: Nghĩa là lấy bản nguyện và phương
tiện của Bồ tát khiến tất cả chúng sanh đều vào Niết
Bàn. Nếu còn một chúng sanh chưa vào Niết Bàn, thì Ta cũng
chưa vào Niết Bàn. Đấy cũng là thuộc một hạng xiển đề.
Ngài
Đại Huệ hỏi rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Tại sao kia rốt
ráo chẳng vào Niết Bàn.
Đức
Phật đáp: Một hạng Bồ Tát xiển đề kia biết xưa nay vẫn
là Niết Bàn, cho nên rốt ráo chẳng vào Niết Bàn. Tại sao?
Vì hạng xiển đề bỏ căn lành còn nhờ oai lực của Phật,
hoặc có khi phát tâm bồ đề, sanh căn lành mà chứng Niết
Bàn. Ấy là Phật không bỏ tất cả chúng sanh vậy.
Kinh
Nhập Lăng Già
Ngài
Duy Ma Cật hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: Thưa Văn Thù Sư
Lợi! Thứ gì gọi là hột giống Như Lai?
Ngài
Văn Thù Sư Lợi đáp: Này Duy Ma Cật! Ba món độc tham, sân,
và si, bốn món thấy điên đảo, năm món uẩn, sáu món nhập,
bảy chỗ thức, tám món tà pháp, chín chỗ não hại, và mười
điều ác cùng tất cả phiền não đều là hột giống Phật
vậy.
Ở
trong bùn phiền não mà sanh được hoa sen thanh tịnh. Có chúng
sanh, Phật pháp mới hưng khởi. Nếu chẳng vào trong bể cả
phiền não, thời có đâu được viên ngọc nhất thế trí.
Kinh
Duy Ma Cật
Tâm
chúng sanh là Niết Bàn vậy, vì bản tánh thường thanh tịnh,
như hư không chẳng khác.
Kinh
Tâm Dịch Nhập Lăng Già
Tâm
thể của chúng sanh, từ hồi nào đến giờ chẳng sanh chẳng
diệt, tự tánh thanh tịnh.
Tâm
ấy gọi là Như Lai tạng. Đã có chỗ gọi: đầy đủ vô
lượng vô biên bất khả tư nghì, nghiệp thanh tịnh vô lượng
vậy.
Kinh
Chiếm Sát
Vì
muốn Viên giác được thành tựu, nên Bồ Tát chẳng cùng
pháp trói buộc mà cũng chẳng cần mở trói; sanh tử cũng
chẳng nhàm. Niết Bàn cũng chẳng ưa; trì giới chẳng kính,
phá giới cũng chẳng ghét, tu lâu chẳng trọng, mới học cũng
chẳng khinh. Tại sao lạ thế? Ví tất cả là Viên giác vậy.
Ví như hiểu rõ cảnh ánh sáng trước mặt, ánh sáng ấy trọn
đầy mà không ghét ưa, vì thể của ánh sáng không hai vậy.
Không
tu không thành tựu, Viên giác khắp soi vắng lặng không hai
vậy. Chẳng tức cũng chẳng ly, không trói cũng không mở,
tại sao?
Vì
chúng sanh đã thành Phật từ xưa nay rồi. Cho nên sanh tử
với Niết Bàn chẳng khác gì giấc mộng khi hôm. Vì sanh tử
với Niết Bàn cho là giấc mộng khi hôm, nên không khởi không
diệt, không đi cũng không đến.
Kinh
Viên Giác
Tất
cả chướng ngại, tức là rốt ráo Viên giác vậy. Được
mất đâu chẳng phải là giải thoát; thành bại đâu chẳng
phải là Niết Bàn; trí ngu đâu chẳng phải là Bát nhã. Pháp
trọn nên của Bồ tát và ngoại đạo đồng một bản thể
bồ đề vậy. Cảnh giới vô minh và chơn như không khác. Ba
học giới, định, huệ, ba độc tham, sân, si đều là hạnh
tốt vậy. Chúng sanh và quốc độ đồng là một pháp tánh
vậy. Địa ngục và thiên đàng, đều là tịnh độ. Hữu
tánh và vô tánh, đều thành Phật đạo. Tất cả phiền não,
rốt ráo giải thoát. Giác tánh mầu nhiệm cao tột, khắp cả
mười phương xuất sanh Như Lai và tất cả pháp, mà thể tánh
bình đẳng.
Kinh
Viên Giác
Đức
Phật bảo ông Phạm Chí tên Tu Bạt Đà La ở ngoài rừng Sa
la rằng: Này Tu Bạt Đà La! Cõi phi tưởng phi phi tưởng, đều
gọi là tưởng, mà Niết Bàn là vô tưởng vậy. Uất Đầu
Lam Phất là bậc thầy của ngươi, có tiếng là lợi căn thông
minh, mà chẳng biết quở trách cõi phi phi tưởng cho nên chịu
ác thân, huống là các ngươi. Nếu chẳng dứt tất cả nhơn
hữu lậu, thời không thể thấy được thật tướng; vì thật
tướng là tướng vô tướng. Vô tướng ấy là tất cả pháp
không có tự tướng, không có tha tướng, và không có tướng
chung tự tha. Không có pháp tướng, không có phi pháp tướng;
không có hữu tướng, không có vô tướng; không có nhơn tướng,
không có quả tướng. Mới gọi đó là tướng chơn thật,
mới gọi đó là pháp giới, gọi đó là trí rốt ráo, gọi
đó là đệ nhất nghĩa đế, và gọi đó là đệ nhất nghĩa
không.
Kinh
Niết Bàn
Đức
Phật bảo ông Thiên Địa Đại Vương rằng: Này Đại vương!
Tất cả pháp đều là Phật pháp vậy.
Thiên
Địa hỏi Phật rằng: Nếu tất cả pháp đều là Phật pháp,
thời tất cả chúng sanh cũng là Phật pháp?
Phật
đáp: Nếu chẳng đem tâm vọng tưởng điên đảo, thời tất
cả chúng sanh đều là Phật pháp. Này Đại vương! Nếu như
thật mà thấy chúng sanh là bình đẳng chơn như thật tế,
mà thật tế ấy là pháp giới vậy. Mà pháp giới không thể
chỉ rõ được, nên mới giả danh là thật tế. Cho nên tùy
theo thế tục mới có ngôn thuyết để nói phô cho rõ vậy
thôi.
Kinh
Bảo Tích
