CHƯƠNG
II
CHÚNG
SANH
A
– VÔ THƯỜNG
Đức
Phật dạy: Phật xuất hiện quí như hoa Đàm, gặp Phật sanh
lòng tin là rất khó; Phật lâm Niết bàn, cúng dường đầy
đủ pháp bố thí lại càng khó hơn. Bài kệ rằng:
Tất
cả các thế gian, vật sống đều phải chết, thọ mạng tuy
rất nhiều, rốt cuộc quyết phải hết. Lúc thịnh dần đến
suy, hội hợp quyết biệt ly, hoa niên được bao lâu, thinh
sắc bị bệnh cướp. Các khổ chạy vòng tròn, trôi lăn không
chút nghỉ, ba cõi đều vô thường. Các cõi đâu có vui!
Kinh
Niết Bàn
Ba
cõi không yên, in như nhà lửa, các khổ đây nhẫy rất là
đáng sợ.
Kinh
Pháp Hoa
Ba
cõi đều là khổ, thì quốc độ nương nhờ đâu mà còn.
Kinh
Nhơn Vương
Có
năm vị Quốc Vương, quốc gia gần nhau việc bang giao qua lại
rất là thân mật, chẳng hề gây hấn với nhau.
Vị
quốc vương đàn anh tên là Phổ An. Việc trị nước của
vua Phổ An rất là minh chánh, mà bốn vị kia lại theo tà đạo.
Có
một hôm, năm vị mở một yến hội bảy ngày, ca hát, đàn
nhạc đủ thứ vui thú dục lạc. Khi mãn hội, ai sắp về
nước nấy. Bấy giờ vua Phổ An đích thân tiễn chân bốn
vị kia ra trước hoàng môn và hỏi rằng: "các bạn ưa thích
những lạc thú gì, nói cho ta nghe thử?" Các vua tuần tự trình
bày:
Vua
thứ nhứt đáp: Tôi thích mùa xuân ba tháng, cỏ hoa tươi thắm,
đạo mà thưởng thức, thích thú biết bao.
Vua
thứ hai đáp: Tôi thích được làm vua lâu dài, mỗi khi lâm
triều, mặc triều phục cho oai, ngư giữa điện rồng lầu
các; bá quan thần đân hầu hạ hai bên; tiếng chuông trống
ngân rền, cờ xí đôi hàng rực rỡ.
Vua
thứ ba đáp: Tôi thích vợ đẹp vô song, con xinh như ngọc,
cùng nhau mà hưởng cảnh vui thú sang giàu.
Ông
vua thứ tư đáp: Tôi muốn cha mệ tôi được trường thọ
bách niên, vợ con sum họp, anh em đông nhiều; mặc những áo
đẹp, ăn những vật ngon, và cùng nhau chung hưởng vui đời
cho khoái.
Đoạn
bốn vua đồng thanh bảo lại: "Chúng tôi đã trình bày xong,
thì Đại Vương cũng nên tỏ sở thích của mình cho anh em
tôi nghe với chớ?" Phổ An thong thả góp: Những sở thích
mà các bạn vừa trình bày đều chẳng phải thú vui vĩnh viễn.
Riêng tôi, tôi chỉ thích cái vui: chẳng sanh, chẳng tử, chẳng
khổ, chẳng não, chẳng lạnh, chẳng nóng.
Bốn
vua kia lấy làm quái lạ đồng thanh khen và hỏi dồn: Hay quá.
Vậy chớ ai dạy những điều ấy cho Đại vương và vị ấy
hiện ở đâu?
Phổ
An đáp: Đức Thế Tôn: Hiện giờ Ngài đang ngự tại Tịnh
xá Kỳ Viên.
Bốn
vua kia nói: Vậy chúng tôi có thể yết kiến Ngài được không?
Phổ
An đáp: Được chớ, quí lắm đấy. Thế là năm nhà vua đồng
đi đến Tịnh xá Kỳ Viên để ra mắt đức Phật.
Sau
hồi năm vua hành lễ và thưa thính xong, lui về chỗ ngồi
an tọa, đức Phật mới bắt đầu thuyết:
Này
các Đại Vương lắng nghe! Vì người đời ngu ám không có
chánh trí nên nhiều kẻ say mê vui đời mà chẳng hề biết
tội phước là gì cả, cho nên bị khổ. Những khổ của đời
quá nhiều, mà gọn lại chỉ còn 8 thứ: 1. Sanh, 2. Già, 3.
Đau, 4. Chết, 5. Tình yêu ly biệt, 6. Cầu mong chẳng đặng,
7. Gặp kẻ oán ghét, 8. Rầu lo khổ não:
Những
khổ về sanh: người chết rồi thần thức chẳng biết đi
về hướng nào. Sống cái thân trung ấm với thời gian 21 ngày,
gặp khi cha mẹ giao cấu liền chạy vào thai; bảy ngày ban
đầu hình trạng như chất bơ lỏng; bảy ngày thứ hai như
bơ đông đặc; bảy ngày thứ ba như bơ đông cứng; bảy ngày
thứ tư như lát thịt mỏng. Đến bảy ngày thứ năm mới
bắt đầu thành bào thai; như gió vào trong bụng mẹ mà thổi
nơi thân thể, thời sáu căn mới mở khai. Nếu mẹ ăn phải
một bát đồ ăn nóng, thì bào thai như bị nằm trong chảo
nước sôi, hoặc uống phải một ly nước lạnh thì như nằm
trong hàn băng, và lấn ép thân thể của mẹ, mẹ rất đau
khổ. Đầy đủ tháng ngày, đứa con mới quay đầu xuống
nơi sản môn của mẹ, như hai viên đá ép, mạng mẹ nguy hiểm,
lòng cha lo sợ. Ra khỏi cửa mẹ, da thân mỏng tăng, bị phải
lá cỏ đụng vào thân, như bị dao cắt hoảng hốt mà thất
thanh khóc lớn.
Những
khổ về gìa: chịu nhờ ơn nuôi nấng của cha mẹ, lớn to
mạnh mẽ, nhưng lần lữa đã già đầu bạc, răng rụng, mắt
mờ, tai điếc, và sức mạnh lui dần nhường cho suy yếu thay
thế. Da dùn mặt nhăn, trăm đốt xương đau nhức, bước đi
cực khổ, ngồi đứng rên hừ hừ, lòng dạ lo buồn và tinh
thần dần dần tiêu giảm.
Những
khổ về đau: Thân người do bốn đại là: đất, nước, gió,
và lửa hiệp lại mà thành. Nếu một món chẳng điều hòa,
thời phát sanh 101 bịnh, mà bốn đại đều không điều hòa
thì 404 bịnh sanh khởi. Như địa đại chẳng điều hòa thì
thân thể nặng nề; thủy đại chẳng điều hòa, thân thể
phù thủng; hỏa đại chẳng điều hòa, thân thể nóng nảy;
phong đại chẳng điều hòa, thân thể động chuyển. Cảm
giác trăm đốt đau khổ: nên tay chân chẳng cử động theo
ý muốn, khí lực mòn dần, ngồi mà đứng dậy phải nhờ
người phò trợ. Miệng khô lưỡi thụt, mũi nghẹt; mắt chẳng
thấy, tai chẳng nghe, những đồ nhơ nhớp tuôn trào, rồi
ngồi nằm trên ấy! Tâm thần khổ não giọng nói bi ai, buồn
thảm. Bà con đến thăm nuôi ngày đêm chăm sóc chẳng chút
nghỉ ngơi; món ngon vật quí ngọt thơm, khi đưa vào miệng
đều biến thành vị đắng.
Những
khổ về chết: Thân người đến lúc sắp chết, thời 404
bịnh nhứt tề phát khởi, bốn đại phân tán thần thức
chẳng an, gió thổi tới như dao cắt, đau nhức toàn thân;
toát mồ hôi trắng, hai tay buông xuôi. Phong đại tản đi là
hết hơi thở; Hỏa đại đi theo là tấm thân lạnh ngắt như
đồng!
Những
khổ về tình yêu ly biệt: Trong ngoài gia đình: cha mẹ, anh
em, vợ chồng, con cháu giòng họ yêu mến lẫn nhau; một khi
bị phá hoại lưu vong, mỗi người mỗi ngã: cha đông con tây,
vợ nam chồng bắc, hoặc làm tôi tớ cho người, tuyệt vọng
những ngày đoàn tụ!
Những
khổ về cầu mong chẳng đặng: Của mất lại cầu. Muốn
quí cầu quan, muốn sang cầu giàu, khổ cực tìm cầu đủ
cách. Phỏng như cầu được quan sang rô? cũng bị mất vì
lòng tham của dân cướp lấy, lại mong cầu nữa mà nào dễ
được đâu!
Những
khổ về gặp kẻ oán ghét: Con người ở trong cảnh ái dục,
một việc chút xíu, cũng vẫn tranh giành, rồi do đó mà giết
hại lẫn nhau, gây thành oan lớn; tuy cố tình lánh mặt nhưng
không nơi tránh thoát, chỉ còn nước mạnh ai nấy mài dao,
chuốt tên, giương cung, nắm gậy gặp nhau giữa đường hai
bên xáp lại, dao gậy đối địch, cuối cùng tất nhiên đôi
bên đều bị tổn hại, chẳng ai hơn gì.
Những
khổ về lo rầu khổ não: Người sanh ra đời, có sống lâu
lắm cũng chừng trăm năm là cùng; lắm kẻ mới vào lòng mẹ
vừa bị trụt thai. Nay cứ người sống đủ trăm tuổi mà
luận: hết 50 năm thuộc về ban đêm, 5 năm say rượu, hoặc
tật bệnh là những năm bất trí nhơn sự; 15 năm thơ ấu
chẳng biết việc gì. Và qua 80 tuổi thời già ngu hết trí
huệ: tai điếc mắt mù không còn biết lễ độ phép tắc
gì nữa. Và giảm kiếp 20 năm nữa, cho nên chỉ còn 10 năm
mà thôi.
Trong
khoảng 10 năm ấy, chỉ có lo rầu là chiếm hết phần nhiều:
lo rầu thời cuộc biến loạn; lo rầu thiên thời nắng hạn,
lụt bão, mưa đá, mùa màng hư mất; bà con nội ngoại đau
ốm nghèo khổ. Lại còn những nỗi này nữa: lo sợ của cải
mất mát, người nhà và giòng họ bị bắt giam vào ngục,
chẳng biết ngày nào ra khỏi, anh em vợ con đi xa... Như vậy
người sống ở cõi nhơn gian chỉ có lo buồn mà phải bị
già chết!
Kinh
Pháp Cú Thí Dụ
Vua
chết nuốt chúng sanh, suy già uống tuổi trẻ, bệnh đến
mạnh khỏe tiêu, người thế gian không biết.
Kinh
Chánh Pháp Niệm Xứ
Tại
thành Xá Vệ có ông trưởng giả giàu có vô song, nhưng nhà
chưa có con trai. Ông lo sau khi ông qua đời của bị quan thu
theo quốc pháp, nên mới phát tâm quy y Tam Bảo, thành tâm tinh
tấn khẩn nguyện cầu tự. Quả nhiên toại nguyện; bà phu
nhơn mang thai, sanh hạ một con trai tướng mạo tuấn tú, tuổi
vừa khôn lớn sớm lo cưới vợ.
Đôi
bạn tân hôn yêu quí dắt nhau dạo rừng du ngoạn thưởng
vui. Trong rừng có cây vô ưu trên cánh hoa nở từng đóa, phô
bày cành nhụy màu sắc trắng hồng rất đẹp. Nàng thích
quá tỏ ý với chồng muốn được thứ hoa quí ấy. Chàng
liền trèo lên cây để hái hoa thì không may nhánh cây tức
thì bị gãy vì dòn yếu, anh sa xuống chết ngay.
Cha
mẹ hay tin, tức tốc chạy đến ôm lấy xác con mà khóc ngất
đi hồi lâu mới tỉnh lại; rồi than khóc liên miên tổn thương
tinh thần; tình cảm như thế, ai hay mà chẳng thương lòng!
Bấy
giờ vừa lúc Đức Phật và ngài A Nan vào thành khất thực,
thấy việc người sa cây bị chết, Ngài bảo với trưởng
giả rằng: "người có sống, chết, vật có thành, bại; thời
đến mạnh tận không thể tránh được. Thế nên ngươi đừng
buồn rầu thương khóc chi nữa." Và Ngài tiếp: "Đứa con này
từ trên trời sanh xuống nhà mgươi, rồi mạng nó tận cũng
từ nhà ngươi mà lên trời. Thế thì nó chẳng phải con trời,
mà cũng chẳng phải con ngươi. Nó cứ tùy theo nghiệp nhơn
của nó mà sống chết, giống như kẻ lữ hành qua đường;
chết không thể tránh khỏi, đi không thể bắt lại được."
Kinh
Trưởng Giả Tử Áo Não Tam Xứ
Đức
Phật đang ngự tại tịnh xá Kỳ Viên, vì các đệ tử nói
pháp. Khi ấy có con gái của Phạm Chí tuổi mới độ mười
lăm nhan sắc đẹp đẽ, bản tính thông minh, cha mẹ rất yêu
mến; bỗng bị đau nặng và chết luôn. In như lúa chín khô
trong ruộng bị lửa đồng đốt cháy. Phạm Chí buồn rầu
đến nỗi thất ý, hoảng hốt như kẻ điên cuồng, tự không
giải được.
Ông
nghe đồn có Đức Phật là vị Đại thánh làm thầy cả trời
người, nên ông đến lễ bái và thưa đức Phật rằng: "Tôi
vốn hiếm hoi ít con chỉ có chút cháu gái, nó an ủi cho gia
đình tôi, nhưng chẳng may nó bị đau và chết mất; tôi thương
nhớ quá đỗi, thật chẳng biết làm sao được, cúi xin đức
Thế Tôn dũ lòng thương xót mà dạy cho tôi bớt nỗi rầu
rĩ."
Đức
Phật bảo Phạm Chí rằng: Này Phạm Chí! Đời có 4 việc
không thể vĩnh cửu được:
Hữu
thường phải vô thường
Phú
quí phải bần tiện
Hội
hiệp phải biệt ly
Mạnh
bạo quyết già chết
Rồi
Ngài tóm tắt: Thường phải hết, cao phải thấp, hội phải
ly, sống phải chết. Phạm Chí nghe xong, tâm liền khai mở,
tức thì phát nguyện xin Phật làm Tỳ kheo, tự cạo râu tóc
thành vị Tỳ kheo, chuyên tu pháp vô thường chứng A La Hán.
Kinh
Pháp Cú Thí Dụ
Xưa
có một bà già, chỉ có một cậu con trai, chẳng may bị bịnh
rồi chết luôn. Bà con đem thấy chôn vào mả. Bà già thương
buồn quá đỗi! Và tủi phận: Ta chỉ có một mình con để
nhờ lúc tuổi già, mà con nay bỏ mẹ chết đi sao! Rồi bà
nằm luôn tại mả con tính chết theo con bằng cách tuyệt thực
đã bốn năm ngày rồi.
Đức
Phật quán biết động lòng thương, liền đến gò mả hỏi
bà già kia rằng: "Người nằm chi đây, sao buồn thảm thế."
Bà già kể lể: "Thưa Ngài, đời tôi chỉ có một chút con
trai, đã lớn khôn, nay nó bỏ tôi mà chết; tôi thương nó
quá, muốn chết một chỗ với nó cho rồi cái đời bất hạnh
này." Đức Phật hỏi: "Người có muốn con ngươi sống lại
không?" "Thưa Ngài muốn lắm."
Đức
Phật nói: muốn là phải. Ta vẽ cho ngươi làm như vậy: Ngươi
đến nhà nào, từ xưa nay chẳng có người chết, xin chút
lửa nhang đem về đây Ta sẽ làm phép nó sống lại cho. Bà
già nghe lời làm theo. Đi đến đâu, hễ gặp nhà người thì
liền hỏi trước: nhà của ngươi từ trước đến nay đã
có người nào chết chưa? Thì người ta đều đáp rằng: từ
trước đến nay tổ tiên tôi đã chết nhiều lớp rồi. Bà
cứ như thế đi qua vài mươi nhà mà chẳng được lửa nhang.
Bà
trở về chỗ Phật thưa: Tôi đi đã khắp nơi mà xin không
được lửa, vì không có nhà nào mà không có người đã chết,
cho nên tôi đành về không.
Đức
Phật nói: Từ ngày có trời đất đến nay ai sống lại chẳng
bị chết, sao ngươi mê muội lắm vậy. Lại còn muốn chết
theo con là nghĩa làm sao? Bà lão nghe nói mới tỉnh ngộ lý
vô thường mà liền được vào Đạo.
Kinh
Tạp Thí Dụ
Người
đời hèn kém, tranh giành nhau những việc chẳng phải gấp,
rồi đối với những việc kịch liệt khổ ác này mà đem
thân kinh doanh mọi việc để mưu cầu tự cấp tế cho mình.
Do đó mà không còn có kẻ sang người hèn, kẻ giàu người
nghèo, lớn nhỏ trai gái đua lo tiền của; rốt cuộc kẻ có
người không cùng nhau là khổ mà thôi. Qua cơn suy nghĩ, đến
việc kinh doanh, khổ nhọc lo lắng quá nhiều, sai khiến thân
tâm rông chạy không lúc nào yên: kẻ có ruộng lo ruộng, người
có nhà lo nhà, trâu ngựa lục súc, tôi tớ tiền tài, áo mặc
cơm ăn vật này vật nọ, lo rồi lo nữa. Chấp chứa nghĩ
lo, buồn rầu sợ hãi những tai biến phi thường: nước lửa
giặc cướp, oan gai trái chủ: cháy, trôi, cướp đoạt tiêu
tan. Lo khổ rộn ràng, không giờ nào rảnh, bó buộc trong lòng
chẳng rời lo khổ, tâm ý bền chắc không chút nới bỏ.
Hoặc
bị mạng chết thân tiêu, bỏ đó mà đi chứ đem gì theo được!
Cao sang giàu mạnh cũng vẫn bị thứ khổ này, lo sợ muôn
bề, cần khổ như thế, kết nhiều nỗi lạnh nóng, rồi cùng
với sự đau khổ ấy mà chung ở.
Còn
hạng nghèo cùng hạ liệt, thường bị quẫn bách thiếu thốn;
kẻ không ruộng lo muốn có ruộng, người không nhà lo muốn
có nhà, không có trâu ngựa lục súc, tôi tớ tiền của, áo
cơm, vật kia vật nọ cũng đều lo muốn cho có đầy đủ;
vừa được một món, lại thiếu thêm một món, có món này
thiếu món kia, rồi nghĩ lo cho có đủ. Mới vừa đủ có,
đã bị tiêu tan; như vậy lo tìm cầu lại nữa, hoặc khi chẳng
đặng, thời lo nghĩ vô ích, thân tâm đều nhọc, ngồi đứng
chẳng yên, lo rầu nối tiếp, cần khổ như thế kết nhiều
nóng lạnh, ở chung với khổ, hay ngồi trên đống khổ, mà
trọn đời chẳng biết làm lành, tu đạo tiến đức. Đến
khi mạng chung thân chết, một mình đi xa, đi không chỗ đến,
vì đường thiện ác nào ai biết trước!
Kinh
Vô Lượng Thọ
Nước
chảy luôn chẳng đầy, lửa chứa lâu chẳng cháy, mặt trời
mọc rồi lặn, trăng tròn rồi lại khuyết, kẻ tôn vinh hào
quí, tránh sao khỏi vô thường.
Kinh
Tội Nghiệp Báo Ứng
Giả
sử thọ mạng đủ một trăm năm, bảy vật báu đầy đủ,
hưởng các khoái lạc, thần chết nó đến khó tránh vô thường.
Kinh
Tâm Điạ Quán
Xưa
có bốn anh em giòng đại Phạm Chí đều có thần thông biết
sẽ chết, cùng bàn với nhau rằng: cái chết nó đến, người
ta khó tránh; nhưng bọn ta tránh được bằng cách đi trốn.
Rồi
một bay cao lên không trung, một vào trong biển cả, một nữa
vào trong giữa núi Tu di, và ông thứ tư chạy vào trong giữa
đám rất đông người tại chợ lớn mà trốn. Nhưng đến
ngày chết thời bốn người đều chết cả. Vì lẽ tất cả
là: Vô thường, khổ, không, vô ngã. Nếu ai biết suy nghĩ
đạo lý này, thời sẽ khỏi sanh lão bệnh tử, và ưu bi khổ
não mà đạt đến đạo quả Niết bàn vậy.
Kinh
Xuất Diệu
Khi
Đức Phật ngự tại nước Xá Vệ, trong thành có một ông
già giòng Bà la môn đã 80 tuổi, nhà giàu của cải vô số.
Nhưng thuộc hạng người nan hóa, chẳng biết gì đạo đức,
chẳng biết lo cơn vô thường mà chỉ biết lo làm nhà cho
đẹp: nào là nhà trước nhà sau, nào là lầu mát nhà ấm,
nào là nhà đông nhà tây, hai hàng dài có chừng vài chục
nóc. Nhưng chỉ có cái nhà tiền đường và hậu tẩm còn
cách nhau chưa liền mỗi khi đi lên xuống thường bị mưa
nắng bất tiện, nên ông đích thân ra kinh doanh và chỉ huy
cho chúng bạn làm.
Bấy
giờ đức Phật dùng đạo nhãn xem thấy ông già này, không
còn mấy hôm nữa sẽ bị tận mạng; thế mà ông có tự biết
đâu, nên cứ loay hoay nhọc sức, không ích gì cho đời sau,
thật là đáng thương!
Đức
Phật với A Nan hai thầy trò cùng đi đến tận nhà, vui vẻ
hỏi ông rằng: "Ông lão làm gì đó, có nhọc mỏi không? Và
nay còn cất nhà này nữa chi thế?"
Ông
đáp và giải thích: "Nhà trước để tiếp khách, nhà sau để
tự ở, hai dãy đông tây thì con cháu tôi tớ ở, và để
của cải. Mùa hè nóng bức thượng lên lầu cao cho mát; mùa
đông lạnh lẽo, trụt xuống nhà kín cho ấm. Ngài đã hiểu
hết chưa?"
Đức
Phật bảo: "Tôi nghe danh ông lão đã lâu, muốn gặp nhan để
đàm luận cho vui, nên tôi sẵn có một bài kệ khẩn yếu;
kệ này có ích cho những lúc an lành hay bất hạnh, giờ đây
muốn tặng, ông lão nên nghỉ tay cùng ngồi, tôi đọc nghe
chừng được không?" Ông đáp: "Tôi đang bận việc lắm, nên
không thể ngồi mà đàm luận được; mai mốt nếu Ngài đến
thời hay biết bao. Mà bài kệ khẩn yếu thì Ngài cứ việc
đọc, tôi vừa làm vừa nghe cũng được."
Đức
Phật phải chìu lòng đọc kệ:
"Có
con có của, ngu lo bận rộn,
Ta
chẳng phải ta, con của đâu có.
Nóng
sẽ hết nóng, lạnh sẽ hết lạnh,
Lắm
ngu lo trước, chẳng biết tai đến.
Ngu
mờ ngu mịt, tự cho là trí,
Ngu
mà xưng trí, ấy là rất ngu."
Ông
già bạc phước ấy khen; Ngài thuyết kệ hay thật nhưng nay
bận quá, ngày mai Ngài đến, chúng ta sẽ cùng bàn luận thì
hơn.
Thế
là đức Phật thương hại cho ông ta rồi đi.
Đức
Phật vừa đi không xa, ông già tự tay đưa cây lên cho thợ
làm, chẳng may bị sẩy tay cây rơi xuống đánh vỡ đầu chết
ngay tức thì! Người nhà la khóc, động cả xóm làng. Đức
Phật đi chưa bao xa, thì xảy ra ta biến này.
Ngài
đi đến một làng khác, vừa gặp mười người Phạm Chí
họ hỏi Ngài đi đâu vậy, thì Phật đáp: Ta đi đến nhà
ông già ở làng kia, với mục đích để thuyết pháp, nhưng
ông không tin lời Phật, và cũng không biết tai biến vô thường,
Ta vừa đi thì ông đã chết vì cây rơi đánh. Rồi Phật lại
vì các ông Phạm Chí thuật lại ý nghĩa bài kệ mà Ngài vừa
mới đọc cho ông già nghe khi nãy. Nghe xong các Phạm Chí vui
mừng hớn hở, đều được thấy dấu vết của Đạo.
Liền
đó đức Phật thuyết một bài kệ khác cho mấy ông nghe:
Ngu
ám gần trí, như bầu chứa vị,
Chứa
đựng tuy lâu, mà chẳng biết mùi.
Sáng
suốt gần trí, như lưỡi nếm vị,
Đưa
đến chót lưỡi, liền biết vị gì.
Người
ngu tạo tác, vì thân chuốc họa.
Cam
lòng làm ác, tự gây tội nặng.
Gây
điều bất thiện, khi biết ăn năn,
Khóc
rơi nước mắt, trả báo do nhơn.
Các
ông Phạm Chí được hân hạnh nghe bài kệ này nữa, lòng
tin càng bền vững, vui mừng làm lễ phụng hành.
Kinh
Pháp Cú Thí Dụ
Giòng
sanh mạng chảy không ngừng, mau hơn nước núi chảy xuống,
ngày nay tuy tồn tại, ngày mai khó bảo đảm. Thế mà cứ
buông lòng làm ác. Sức mạnh chẳng ngừng như ngựa bôn chạy,
làm sao ỷ lại mà sanh khinh mạn. Giống như ác quỷ, rình
mò bắt người, bốn đại ác quỷ, thường rình bắt ta, làm
sanh khởi ác ý. Ví như nhà mục sẽ sập nay mai, mạng ta cũng
y như thế.
Kinh
Niết Bàn
Biển
Nam Hải, vụt nổ một cơn sóng dữ dội kinh khủng, đẩy
ba con cá lớn vào trong chỗ nước cạn. Cá cùng bảo nhau rằng:
"Chúng ta bị nguy tai đây rồi! Nhưng hiện giờ nước chưa
cạn, còn chảy ra vào, cần nên ngược dòng trở về biển
cả." Nhưng không may lại vừa có con thuyền chận ngang thủy
khẩu, nên cá không thể tự do chạy ra. Con thứ nhứt đem
tận lực vượt qua khỏi thuyền, con thứ hai may nhờ đám
cỏ cũng lủi qua được. Duy con thứ ba bởi sức yếu nên
bị ngư ông bắt được! Đức Phật xem thấy việc này liền
nói bài kệ rằng:
Ngày
nay đã qua mạng ta giảm đi
Như
cá ít nước, đâu có vui gì!
Bởi
vì cá lấy nước làm nhà sống, mà nước hết thời chết.
Người nương mạng căn mà còn, mạng giảm thời tiêu. Mạng
căn theo đêm ngày mà giảm, thân thể bởi tám khổ mà mòn;
vô thường già bệnh chẳng cho người hẹn. Kìa như cá khô
nước đâu có vui gì!
Kinh
Xuất Diệu
Mạng
người sống in như dắt trâu đến lò thịt: trâu đi một
bước, thì một bước đến gần chỗ chết, cũng như thế
người sống qua một ngày hệt như trâu nọ từng bước một
đi đến lò chết, mạng sống chảy theo sau vậy.
Kinh
Lục Độ Tập
Xưa
có người hàng thịt nuôi một ngàn con trâu, con nào cũng béo
mập to lớn. Cứ mỗi ngày giết một con đem thịt bán. Giết
đã hết năm trăm con, còn lại năm trăm con; mà nó vẫn cùng
nhau húc báng, nhảy nhót, kêu rống vui giỡn.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn vào làng thấy những con trâu vô tình như
vậy, Ngài động lòng từ, mà ngoảnh lại sau bảo với các
đệ tử rằng: Trâu này ngu si quá, bè bạn sắp phải tận
mạng, mà nó vẫn cứ vui giỡn! Người cũng như vậy chứ
gì? Qua một ngày rồi, mạng người giảm dần; cho nên Đạo
độ thế chẳng khá chẳng suy nghĩ mà siêng năng cầu vậy.
Kinh
A Dục Vương Thí Dụ
Đức
Phật hỏi một vị Sa môn rằng: Mạng người sống chừng
bao lâu?
Đáp:
Chừng trong vài ngày. Phật nói: Ngươi chưa biết Đạo. Ngài
lại hỏi một vị khác, thời vị này đáp: Chùng trong một
bữa ăn. Ngài cũng quở nữa: Ngươi cũng chưa biết Đạo.
Phật hỏi đến Vị thứ ba, Vị này đáp: Mạng sống của
con người ở trong chừng một hơi thở ra vào. Đức Phật
khen: Hay thay, người là kẻ biết Đạo vậy.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương
Tất
cả chúng sanh tham đắm vui đời mà chẳng lo vô thường. Ví
như có người ở giữa đồng nội, bị con voi điên đuổi
sợ mà chạy hoảng, thấy một giếng khô cạnh có rễ cây,
người ấy nương rễ mà vào lần xuống giếng, nhưng ở dưới
giếng sẵn có con độc long rất to, nó vừa hả miệng trông
lên, bốn phía giếng lại có thêm bốn con rắn độc dữ tợn
không thể nói. Người ấy tuy chăm lòng nắm lấy rễ cây,
lại còn có hai con chuột trắng đen cắn phá rễ cây.
Bấy
giờ con voi điên đã đến miệng giếng, người ấy hoảng
sợ không còn chỗ tránh. Nhưng trên cây đứng bên giếng có
một tổ ong, cứ mỗi lát rơi xuống một giọt mật trúng
ngay miệng anh, nên anh chỉ nhớ mật mà quên hết sự nguy
hiểm đang xảy ra đến cho mình; và nguy hơn nữa lại còn
chẳng muốn ra khỏi cái giếng nguy hiểm này.
Con
voi điên là dụ vô thường của cảnh đời, giếng là dụ
nhà của chúng sanh, độc long là dụ địa ngục; bốn rắn
độc là dụ cho thân bốn đại; rễ cây dụ cho mạng căn
người, hai con chuột đen trắng, dụ cho ngày và đêm. Mạng
người ngày càng mòn dần mà chẳng chút ngừng nghỉ, kẻ
tu hành phải quan sát cơn vô thường để xa lìa các nỗi khổ
lụy.
Kinh
Thí Dụ
Xưa
có ba người tu Đạo cũng hỏi nhau rằng: Các anh nhờ đâu
mà được Đạo? Một người đáp: Khi tôi còn ở trong nước
tôi, một buổi mai tôi thấy giàn nho trái rất đẹp, quá trưa
người ta đến hái hết trái và làm cho cành là hư hao tàn
tạ. Tôi nhận thấy vậy, mới giác ngộ lẽ vô thường. Đó
là duyên cớ tôi đắc Đạo.
Người
kế đáp tiếp: Khi tôi ngồi bên bìa nước, thấy có người
đàn bà đang quậy tay rửa bát, hai chiếc hoàn nơi cánh tay
chạm vào nhau, do nhơn duyên hội hợp mà phát ra thành tiếng,
tôi do đó mà đắc Đạo.
Người
thứ ba đáp: Lúc tôi đang ngồi bên hồ sen, thấy hoa sen rất
đẹp, khi quá trưa có vài chục chiếc xe đến, rồi nào là
người ngựa lội xuống tắm bơi, làm hư nát tan tành bao nhiêu
những đóa hoa tuyệt hảo. Tôi mới giác ngộ các pháp vô
thường là như thế. Do đó tôi đắc Đạo.
Kinh
Tạp Thí Dụ
Xưa
có Vị Quốc vương, bỏ nước không làm vua, mà làm Sa môn,
vào trong núi tinh cầu tu niệm; lấy tranh cỏ làm nhà, lấy
lá cây chất đống làm giường nằm, coi bộ đắc ý lắm,
nên bỗng nhiên cười to la lớn lên rằng: khoái thay, khoái
thay.
Gần
bên có kẻ Đạo nhân hỏi rằng: Ngồi một mình tu trong núi,
đâu có sướng gì mà la như thế?
Sa
môn đáp: Khi ta còn làm vua lo sợ trăm bề; nào lo sợ các
vua ở gần tới cướp nước; nào lo sợ kẻ cướp tới lấy
của cải; nào lo sợ người tham lam của công; nào lo sợ bọn
hạ thần đương triều lợi dụng của cải của ta mà làm
phản; thì còn ai mà trị. Chớ như nay ta làm một sa môn thời
còn ai tham gì với ta nữa. Thật sướng chẳng thể nói, mà
chẳng nói sướng. Còn nói gì nữa.
Kinh
Tạp Thí Dụ
Vua
A Dục có người em ruột tên là Thiện Dung, một hôm vào trong
núi săn bắn chơi, nhận thấy các ông Phạm Chí ở trần truồng
tu khổ hạnh, mà chẳng được quả vị gì. Thiện Dung suy
nghĩ: Các Phạm Chí này ăn sương uống gió, khí lực mòn mỏi
mà hãy còn dâm dục, tội lỗi chẳng trừ, huống chi các ông
Sa môn họ Thích, ăn sang mặc đẹp, ấm lạnh theo mùa, ở
nhà cao, nằm giường kỹ còn thêm hương hoa thơm tho thì làm
gì vô dục được.
Bấy
giờ vua A Dục nghe em bàn luận như thế, ôm lòng lo lắng:
Ta chỉ có một đứa em mà nó vừa sanh lòng tà kiến e sẽ
đọa đày nhiều kiếp, ta nên tìm cách trừ ác niệm cho chú
nó mới xong.
Vua
liền vào cung, bảo các kỹ nữ mỗi đứa tự trang điểm
tử tế cùng đến chỗ Thiện Dung mà đàn hát cho hay. Và vua
mật bàn trước với một đại thần rằng: Trẫm có lập
chút mưu, nếu khi trẫm sắc cho người giết Thiện Dung thì
ngươi liền can rằng: Xin cho qua bảy ngày rồi sẽ giết.
Phần
các kỹ nữ tuân lệnh vua đến chỗ Thiện Dung đàn hát chưa
được bao lâu thì nhà vua giả bất ngờ đi đến mà nộ Thiện
Dung rằng: Sao ngươi cả gan dám cùng với kỹ nữ và thê thiếp
của ta chơi bời như thế này là sao? Rồi vua liền triệu
tập các Đại thần mà phán rằng: Trẫm chưa già yếu gì;
cũng chẳng có giặc giã chi xâm lấn biên cảnh, Trẫm từng
nghe lời ngạn ngữ các bực cổ hiền nói rằng: Hễ người
có phước bốn biển quy phục; mà phước đức mỏng manh thì
kẻ vây cánh phản loạn, nhưng nay ta tự xét ta chưa đến
nỗi thế. Vậy mà Thiện Dung em ta dám dỗ những kẻ kỹ nữ
và vợ hầu của ta mà lung chơi như thế là nghĩa làm sao?
Ta
ra lệnh các ngươi đem nó ra ngoài chợ mà giết đi cho thiên
hạ biết. Có vị Đại thần đồng can rằng: Cúi xin Đại
Vương tha lỗi cho lời nói mọn của kẻ hạ thần, xin Đại
Vương hoãn cho sau bảy ngày rồi sẽ thi hành việc ấy cũng
chẳng muộn. Nhà vua giả vờ lặng lẽ nghe theo lời can, và
lại còn khoan ân bảo các Đại Thần: Đem đồ phục sức
của Trẫm mà mặc cho chú nó và dẫn chú nó vào trong cung
kín của Trẫm, khiến bọn kỹ nữ ca hát, đàn địch cho chú
nó thỏa mãn một lúc rồi sẽ hay. Rồi vua còn sắc với một
Đại thần rằng: Ngươi mặc áo giáp cho oai và cầm chiếc
gươm thiệt bén và đến chỗ chú nó mà bảo rằng: Tâu Vương
Tử mãn hạn bảy ngày bắt đầu từ nay thì Vương tử phải
bị giết vì theo lệnh của Hoàng Thượng đã phán quyết,
vậy nên Vương Tử nỗ lực mở tung năm căn mà hưởng năm
món dục lạc cho khoái thích kẻo uổng, bằng nay chẳng tận
hưởng cho khoái để đến khi sắp chết có ăn năn cũng vô
ích.
Qua
một ngày vua sai kẻ Tôi ấy đến bảo cho Thiện Dung biết
chỉ còn sáu ngày nữa là hết hạn. Cứ tuần tự như vậy
cho đến còn một ngày là mãn hạn. Vị Đại thần ấy đến
bảo: Thưa Vương Tử đã hết sáu ngày rồi, sáng mai đây
Ngài phải đến pháp trường mà chịu chết, vậy phải ráng
sức mà hưởng cho khoái kẻo uổng.
Sáng
ngày thứ bảy, vua đích thân đến chỗ Thiện Dung giả lời
hỏi: Sao? Mấy hôm qua tâm ý của Hiền đệ được tự do
hưởng khoái lạc có sung sướng không?
Đáp:
Tâu Vương huynh, thật em chẳng thấy chẳng nghe gì cả, thì
có đâu mà sung sướng. Vua lại hỏi nữa: Em mặc đồ sức
phục của anh vào ở trong cung điện của anh, và cùng với
bọn kỹ nữ của anh mà hưởng vui, và lại ăn những món
ăn hảo hạng. Mà nói chẳng thấy chẳng nghe, chẳng vui sướng
gì hết; sao dám nói khi với anh như thế?
Đáp:
Người đáng chết tuy là mạng căn chưa dứt, nhưng với người
đã chết chẳng khác mấy, thì còn lòng dạ nào mà hưởng
vui sướng gì nữa.
Nhà
vua mới nói rõ dụng ý: Theo thiển ý của anh thì Hiền đệ
chỉ lo rầu cho cái thân một đời, mà hãy còn khổ đến
như thế. Khi nghe thân sắp chết, hiện đang ở trong cảnh
ngũ dục mà chẳng vui, huống chi các vị Sa Môn lo nghĩ nỗi
khổ não trong ba đời: một khi thân này chết rồi lại thụ
một thân khác, cứ như thế trải qua ngàn vạn ức kiếp nhiều
thân chịu khổ, thật là cái khổ vô lượng không sao nói
cùng. Vì các Ngài nghĩ việc cay đắng này, mới xuất gia tu
đạo đễ tìm phương pháp vô vi độ thế; nếu các Ngài chẳng
tinh tiến tu trì thì sẽ chịu khổ trải qua nhiều kiếp, nhiều
đời. Hiền đệ có hiểu không?
Bấy
giờ Thiện Dung Vương tử mới sáng mắt, đến trước vua
mà thưa rằng: Em nghe những lời Vương Huynh dạy mới được
tỉnh ngộ: sanh, già, đau, chết thật là đáng sợ; lo buồn
khổ não trôi lăn chẳng dừng. Cúi xin Đại Vương, cho tôi
xuất gia cầu đạo cẩn thận mà tu trì. Nhà vua hoan hỷ: Phải
lắm, nhằm lúc, nhằm lúc.
Thế
là Thiện Dung từ giã vương cung xuất gia mà làm Sa Môn tinh
tấn tu Đạo, chứng quả A La Hán.
Đức
Phật bảo các đệ tử: Các Đức Phật chỉ nói nửa bài
kệ rằng:
Các
hạnh vô thường
Là
pháp sanh diệt
Dứt
xong sanh diệt
Yên
lặng là vui.
Kinh
Cầu Ly Lao ngục
B.
THÂN NGƯỜI
Đức
Phật kể chuyện với các Tỳ kheo rằng: Ngày xưa xa có một
vị Ngũ thông Tỳ kheo tên là Tinh Tấn Lực, ngồi dưới gốc
cây trong núi yên lặng mà tu Đạo, cũng chính nơi đây và
lúc này có bốn con cầm thú, nương ở xung quanh là: chim cáp,
chim quạ, con rắn và con nai. Có một đêm chúng nó tự hỏi
với nhau rằng cái khổ trong đời, thứ nào nặng hơn?
Chim
quạ nhọn mồm có ý kiến trước: Đói khát là khổ hơn hết:
những khi đói khát, thân ốm, mắt mờ, lòng dạ chẳng yên,
cũng vì thế lắm khi thân sa vào cạm lưới, chẳng tránh mũi
nhọn. Chúng ta tán thân thất mạng đâu chẳng bởi vì đói
khát.
Chim
cáp: Dâm dục là khổ hơn hết: mỗi khi sắc dục bức bách
thì không chỗ nào là không nghĩ tới. Cũng nhơn đó rồi bị
nguy thân thiệt mạng. Nó báo hại hơn cả, theo ý tôi.
Đến
lượt rắn độc: Riêng tôi thì giận dữ là khổ hơn hết:
một khi nổi giận là chẳng kể gì kẻ thân người sơ, và
lắm khi làm hại mình, hại người nữa là khác.
Cuối
cùng là con nai: Tôi cho sự kinh hãi là khổ hơn hết: tôi ở
trong rừng lòng thường lo hồi hộp run sợ, những kẻ thợ
săn, chó săn, lang sói, chợt nghe có tiếng đô?g phảng phất,
thôi thì tuông chạy, bán sống bán chết, ruột gan run sợ,
bỏ cả mẹ con, lắm khi bị sa hầm sụp hố, nguy hiểm đến
tính mạng nữa là khác. Sau khi nghe chúng bàn luận, Tỳ kheo
đính chánh rằng: Những điều các ngươi vừa nói đó là
chỉ là thứ khổ ngọn ngành chứ chưa xét đến cái khổ
cội gốc. Nỗi khổ trong thiên hạ không gì bằng cái thân.
Thân là cái món đồ để đựng mọi thứ khổ, cho nên ta
bỏ tục xuất gia tu Đạo, chính vì muốn tiêu diệt ý tưởng
xằng xiên, chẳng tham đắm thân tứ đại giả dối, mục
đích là dứt nguồn đau khổ vậy.
Kinh
Pháp Cú
Cho
rằng thứ khổ cũ là thật khổ, mà thứ khổ mới là vui,
như người gánh nặng trở vai.
Kinh
Tọa Thiền Tam Muội
Quan
sát tấm thân do cha mẹ sanh giống như thổi một mảy bụi
trần vào giữa thái hư không mười phương hoặc còn hoặc
mất; lại cũng như biển cả đại dương yên lặng, chợt
nổi lên một bong bóng trôi nổi lênh đênh sanh hay diệt cũng
chẳng từ đâu mà có.
Kinh
Lăng Nghiêm
Thân
này như bọt, chẳng đặng còn lâu; thân này như huyễn do
điên đảo khởi; thân này như mộng từ vọng thấy sanh; thân
này như bóng bởi nghiệp duyên hiện.
Kinh
Duy Ma
Ngày
xưa có một người con ông Trưởng giả, vợ chồng mới cưới
rất yêu kính nhau. Chồng bảo vợ: Em vào trong nhà bếp lấy
rượu ra đây cùng uống cho vui. Người vợ vào vừa giở nắp
lu, chợt thấy bống mình hiện ở trong lu, liền cho là người
khác đã ẩn tự bao giờ, nổi tam bành lục tặc, trở ra sân
si với chồng rằng: Anh đã chứa dấu đàn bà trong lu còn
cưới tôi về làm chi nữa?
Chồng
tức quá vào xem lại thấy bống mình, nổi sân chạy ra nạt
vợ rằng: Mày dấu trai trong đó mà đổ thừa cho tao dấu
gái? Thế là hai đứa sân si ẩu đả kịch liệt, thôi thì
đánh nhau dữ dội la khóc om sòm, đàng nào cũng cho mình là
phải. Giây lát có Thầy Tỳ kheo đi ngang qua nghe được nguyên
do việc xảy ra đám đánh, đến mà xem thử mới biết là
đánh lộn bóng, mà bùi ngùi tự than rằng: Người đời quá
ngu cho cái giả là thật. Rồi tự đấm ngực xung phong mà
rằng: Ta sẽ vì các ngươi mà bắt người trong lu ra cho; rồi
Ngài lấy một cục đá to đập lu vỡ, rượu chảy linh láng,
con người bóng trong lu cũng mất biến. Giải quyết cái bóng
xong, đôi vợ chồng ôm lòng hổ trẽn.
Bấy
giờ Thầy Tỳ kheo vì nói pháp, khiến cho đắc Đạo. Đức
Phật lấy thí dụ: thấy bóng đánh lộn là bởi người đời
chẳng biết cái "khổ không" của năm uẩn và bốn đại mà
phải bị khổ sanh tử chẳng lúc nào dứt vậy.
Kinh
Tạp Thí Dụ
Xưa
có ngôi nhà hoang tương truyền nhà ấy thường có con ác quỉ,
mọi người đều chẳng ai dám đến ở hay ngủ.
Bây
giờ có một thanh niên tự xưng mình to gan và bảo với người
ta rằng: "Tôi dám vào trong nhà hoang ấy mà ngủ một đêm
cho bà con biết mặt." Tức thì anh vào ngủ thật.
Lát
sau lại có một chàng nữa ở xóm khác, thường ngày tự cho
mình là gan dạ và mạnh bạo hơn ai hết, cũng nghe người
ta nói trong nhà hoang có quỉ, anh liền vác dùi đến và xô
cửa vào mà đánh.
Thì
anh chàng vào trước tưởng là quỉ thật ở ngoài đánh vào
mình, nên anh giữ cửa rất chặt, phòng thủ cẩn thận, chẳng
cho quỉ ngoài tiến vào. Thì anh ở ngoài lại quả quyết trong
nhà đã sẵn có quỉ thật, nên dùng tận lực đánh vào...
Thế
là trong đánh ra, ngoài đánh vào rất là kịch liệt, cho đến
khi trời sáng mới nhìn nhau biết chẳng có quỉ quái gì cả.
Mọi
người trong đời cũng như vậy. Do nhơn duyên mà tạm gặp
nhau, thật chẳng có cái ta, nhưng các chúng sanh nào có biết!
Rồi ngang chấp có ta, mới cưỡng sanh ra trang tụng.
Kinh
Bách Dụ
Vua
Di Lan hỏi ngài Na Tiên Tỳ Kheo rằng: Sa môn có tự yêu tấm
thân mình không?
Na
Tiên đáp: Là Sa môn chẳng còn tự yêu thân nữa.
Vua
nói: Nếu chẳng tự yêu thân sao còn ở nhà ấm, ăn thức
ngon, và tự muốn bảo vệ lấy nó?
Na
Tiên gạn lại: Nhà vua đã từng vào trận chiến chứ?
Vua
đáp: Có. Tôi đã có vào trận chiến.
Na
Tiên hỏi: Khi vào trận đã có bị thương chưa?
Vua
đáp: Đã có bị thương, vì mũi dao và tên nó chọt.
Na
Tiên hỏi: Rồi làm sao cho vết thương?
Vua
đáp: Tôi liền lấy thuốc và vải băng bó.
Na
Tiên hỏi: Vì yêu vết thương mà băng bó hay sao?
Vua
đáp: Chẳng phải yêu vết thương.
Na
Tiên hỏi: Chẳng phải yêu mà chăm sóc làm chi?
Vua
đáp: Muốn nó mau lành.
Ngài
Na Tiên thuyết: Các vị Sa môn cũng thế. Các Ngài chẳng phải
yêu vì cái thân, nên việc ăn mặc cũng chẳng phải vì ăn
sang mặc đẹp, mà chỉ dùng để chi độ cho thân thể đặng
phụng hành đạo pháp của đức Phật mà thôi, cho nên trong
kinh nói: thân người có 9 lỗ là 9 chỗ thúi hôi bất tịnh.
Vua
Di lan khen: Hay quá, Ngài nói hay quá!
Kinh
Na Tiên Tỳ Kheo
Đức
Phật dạy các đệ tử: Mọi kẻ phàm phu ăn cơm mặc áo,
dùng đồ nằm là muốn cho thân tâm vui sướng. Bồ tát, nếu
khi phải dùng áo chẳng vì thân, mà chỉ vì pháp, cho nên chẳng
kiêu mạn, mà phải thấp xuống; chẳng vì trang sức, chẳng
vì xấu hổ, mà chỉ vì che lạnh nóng, gió độc mà thôi.
Với việc ăn cũng thế, tâm chẳng tham đắm, chẳng vì kiêu
mạn, chẳng vì thân lực... ăn với mặc như nhau.
Kinh
Niết Bàn
Đức
Phật dạy ngài Văn Thù rằng: Vì chúng sanh không có sức từ
bi, ôm lòng sát hại, cho nên phải cấm dứt ăn thịt; nếu
chẳng ôm lòng sát hại, có lòng đại từ bi, vì muốn giáo
hóa tất cả chúng sanh, thì không có tội lỗi.
Kinh
Văn Thù Sư Lợi Vấn
Đức
Phật bảo các Tỳ kheo rằng: Chốn đại địa này biến thành
biển cả; bấy giờ có con rùa mù sống lâu vô lượng qua
trăm ngàn năm nó mới ngóc đầu lên một lần. Tại biển
cả có một cây nổi lênh đênh, khi đong khi tây, vì bị sóng
dập gió dồi liên tiếp; mà trong thân cây chỉ có một cái
lỗ. Thế thì khi rùa mù ngóc đầu tìm cây và chui đầu vào
cây chừng có dễ gặp không?
Ngài
A Nan trả lời rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Khó mà gặp được,
bởi lẽ rùa thì rùa mù, biển đông hải mênh mông, cây lại
cây nổi, trôi theo chiều sóng gió đẩy đưa, đông tây bốn
hướng nào có đình đậu nơi nào. Cho nên chắc chắn khó
mà gặp được.
Phật
dạy: Rùa mù, cây trôi tuy khó gặp, nhưng còn có hy vọng;
chớ đến như kẻ phàm phu ngu si trôi nổi trong năm thú mà
tái sanh được thân người, mới thật là khó hơn rùa gặp
cây gấp mấy. Vậy nên các ngươi chính ngày nay phải tinh
tiến tìm mọi phương tiện phát khởi tâm muốn học đạo
càng tăng cao mới được.
Kinh
Tạp A Hàm
C.
TÂM NGƯỜI
Tâm
và vật bị có của tâm, bản tính vắng lặng, chẳng thấy
nghe gì được cả. Tâm như trò huyển, do chúng sanh so đo chấp
trước nên khởi ra vọng tưởng mà chịu mọi nỗi khổ vui.
Công dụng của tâm như nước chảy, sanh diệt từng niệm
một mà chẳng chút dừng. Tâm như gió mạnh trong một giây
lát rất ngắn, hoa khắp mọi nơi. Nó cũng như đèn đuốc
khi các duyên hòa hợp thời phát ra công dụng; như chớp sáng
diện khí, chẳng đúng giây lát; nó xáu láu như con khỉ đột
chuyền trên cây ngũ dục.
Lại
cái tâm khéo léo như chàng họa sĩ, vẽ đủ màu sắc, đủ
hình tượng. Và ngược lại nó vụng về mộc mạc như những
kẻ đầy tớ, bị bọn phiền não sai sử như chong chóng.
Rồi
nó cũng hung dữ như kẻ giặc cướp mà cướp hết các của
công đức. Nó nhơ nhớp như bầy heo nái, ưa ăn các thứ tạp
uế thậm tệ; và nó say đăm cũng như bầy ong mật trít trát
trên những đóa hoa có khí vị.
Nhưng
bản tính nó vẫn là phi khứ phi lai, nó giống như hư không
chẳng hạn. Và bản tánh nó tuyệt nhiên không có những tướng
sai biệt như: lớn nhỏ, khổ, vui hay là thượng, trung, hạ
gì cả. Nhưng nó là thường trụ bất biến rất là thù thắng
vậy.
Kinh
Tâm Địa Quán
Tâm
trôi theo cảnh giới, như đá nam châm hút sắt vậy.
Kinh
Lăng Nghiêm
Các
vị Bồ tát có đức tin tưởng phi thường: tin các pháp do
nhơn duyên hòa hiệp mà sanh; tin không có tướng ta, tướng
người, tướng chúng sanh, tướng kẻ trường thọ; tin không
có kẻ tạo tác, kẻ lãnh lấy; tin không có cái ta và những
vật bị có của cái ta. Với thế gian chẳng sợ hãi, chăm
tu tinh tiến chỉ mong cầu thấu rõ cái tâm. Tâm là thế nào?
Tham dục, sân nhuế, ngu si chăng? Hay hiện tại, quá khứ, vị
lai chăng? Xét ra vị lai chưa đến, quá khứ đã khứ đã qua
mất rồi, hiện tại chuyển biến luôn chẳng đứng yên. Tâm
này chẳng ở trong, chẳng ở ngoài và cũng chẳng ở chặn
giữa. Nó không sắc không hình cho đến không thể thấy nghe
được; nó chỉ là nương nhơn duyên điên đảo và vọng tưởng
mà sanh ra các tướng sai biệt ấy thôi.
Nầy
Thiên nam tử! Vọng tâm ấy như trò huyển, do nhớ tưởng
phân biệt mà sanh khởi các món nghiệp nhơn; nó cũng giống
như dòng nước chảy, sanh diệt chẳng chút ngừng; như lửa
trên đèn có các duyên hòa hiệp mới phát hiện; như điện
khí một sát na cũng chẳng dừng; như hư không chỉ vì bị
khách trần phiền não làm ngăn ngại; như con vượn chuyền
nhảy mọi cảnh giới; như họa sĩ tự do vẽ vời mà không
nhất định; như kẻ oan gia gây mọi điều khổ não; như con
voi cuồng phá hoại tất cả căn lành. Nó còn như cá tham mồi
nuốt câu; với nguy mà tưởng là an; như trong cảnh chiêm bảo,
với trong cảnh không "ta" mà sanh lòng tưởng có cái ta; như
con ruồi xanh, với món nhơ nhớp mà cho là thơm ngon.
Kinh
Bảo Vũ
Trong
cảnh chiêm bao, thật không có việc lành mà cho là lành, việc
không đáng giận dữ mà giận dữ nổi lên, việc không đáng
sợ mà run sợ. Chúng sanh ở trong ba cõi cũng như thế ấy.
Vì cái mê vô minh nó còn ngủ trong lòng, cho nên chẳng đáng
sân mà sân, chẳng đáng buồn mà buồn.
Phải
biết rằng ngoài tâm chẳng có cảnh chi sai khác, chỉ có chút
mê tĩnh mà vọng thấy nhiễm cảnh mà thôi. Cho đến ngoài
tâm không có tướng địa ngục, khi mà ác nghiệp thành tựu
thời mới thấy có chịu khổ vậy thôi.
Luận
Trí Độ
Đức
Phật dạy đại chúng: Cảnh chẳng phải khổ mà cho là khổ,
ngược lại cảnh khổ mà cho là vui. Lạc là cảnh giới Như
Lai mà kẻ nào chẳng biết là điên đảo số một.
Trong
vô thường mà cho là thường, ngược lại thường cho là vô
thường. Thường là cảnh giới Như Lai mà kẻ nào chẳng biết
là điên đảo số hai.
Trong
chơn ngã mà cho là vô ngã, ngược lại trong vô ngã cho là
ngã. Ngã là Phật tính mà kẻ nào hiểu trái lẽ là điên
đảo số ba.
Trong
bất tịnh mà cho là tịnh, ngược lại trong tịnh cho là bất
tịnh. Tịnh cũng là Phật tính, vậy là điên đảo số bốn.
Kinh
Niết Bàn
Có
một người mê, chỉ đông là tây, chỉ tây là đông, nam bắc
cũng thế, người đời mê muội cũng giống như thế. Đời
có ba hạng người: một cuồng, hai si, ba bị bệnh gió. Những
người này, tay cầm chiếc gươm, ý muốn chém đông mà lại
chém tây, muốn chém nam mà lại chém bắc.
Người
bài báng chánh pháp cũng giống như vậy: cho chánh pháp là
tà pháp, ngược lại cho tà pháp là chánh pháp; cho pháp thường
trú là vô thường, mà cho pháp vô thường là thường trú;
cho lạc pháp là khổ, mà cho khổ pháp là lạc; cho bất tịnh
là tịnh, mà cho tịnh là bất tịnh. Cho bậy như thế là kẻ
đã bị mất tánh bình thường. Cho nên ta dùng mọi phương
tiện: với chỗ tối tăm soi ánh sáng rực rỡ; vì muốn đắt
dẫn ra, nên mở thông cửa ngỏ; vì kẻ ngu si mở ánh sáng
trí huệ; vì kẻ lạc đường, chỉ cho biết nẻo chánh đạo;
vì muốn độ cho qua, ban cho cầu, thuyền.
Muốn
khiến cho tất cả chúng sanh đem lòng từ bi mà đối đãi
lẫn nhau, như cha mẹ anh em chị em vậy.
Kinh
Thập Trụ
Ngài
Văn Thù Bồ tát thưa với đức Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn, vì sao gọi là tâm địa? Xin Thế Tôn vì các chúng sanh
diễn nói để: với kẻ chưa lìa khổ khiến lìa; chưa phát
tâm Bồ đề khiến phát, và chưa chứng được quả Bồ đề
khiến chứng.
Đức
Phật khen: Văn Thù! Ngươi là mẹ đẻ trí huệ thật, vì muốn
dắt dẫn những kẻ mới phát tâm Bồ đề mà hỏi nghĩa này,
Ta sẽ vì chúng sanh mà nói: Tâm địa là Pháp rất thù thắng
của mười phương Như Lai; là pháp đốn ngộ của tất cả
phàm phu; là nơi điện ngọc để hưởng vui pháp lạc; là
kho tàng bảo ngọc tặng vật lợi ích cho chúng sanh; là nguồn
gốc sanh công đức của chư Phật. Và còn công năng tiêu trừ
ác nghiệp cho tất cả chúng sanh; độ qua hiểm nạn sanh tử,
làm im sóng mòi nơi biển khổ; làm cạn khô biển lão bệnh
tử; đem đuốc đại trí soi sáng trên con đường dài sanh
tử tối tăm. Mà nó cũng là pháp vô thượng, và ngọn cờ
thù thắng nhất của chư Phật vậy; giống như bậc Đại
thánh quốc vương tùy thời trị nước mới được đại thái
bình an vui, tất nhiên kẻ nào trái lệnh là bị giết.
Ba
cõi đều lấy tâm làm chủ. Kẻ nào hay quán sát tâm là có
thể chứng được cứu cánh Niết bàn, mà chẳng quán được
bị trầm luân khổ ải.
Tâm
như chốn đại địa hay sanh trưởng ngũ cốc, nghĩa là hay
sanh quả vị Bồ tát và Phật, cho nên gọi là tam giới duy
tâm. Do đó nên gọi tâm là địa. Hễ ai gần gũi bạn lành
nghe Pháp môn tâm địa, đúng như lý mà quán sát, đúng như
pháp mà tu hành là có thể chứng được đạo quả vô thượng
chánh đẳng chánh giác vậy.
Kinh
Tâm Địa Quán
Ta
thấy chúng sanh đều ở trong cảnh phiền não tham dục, sân
nhuế và ngu si v.v… đầy đủ Phật trí, Phật nhãn, Phật
thân đồ sộ chẳng lay động. Thiện nam tử! Tất cả chúng
sanh tuy ở trong phiền não mà thường đâu có ô nhiễm Như
Lai tạng, đức tướng đầy đủ như Ta không khác. Ví như
Chơn kim sa vào trong bất tịnh, chìm ngấm chẳng nổi, trải
qua nhiều năm chẳng ai hay biết mà chất chơn kim kia không
hề hư hoại, duy người có thiên nhãn mới thấy biết nơi
ấy có hòn chơn kim báu quý vô giá.
Chúng
sanh vốn sẵn có Phật tánh chứ chẳng phải từ nơi nào khác
đem đến. Thí như có người trong chiếc áo đang mặc sẵn
có viên ngọc như ý mà tự chẳng hay biết gì cả. Lại như
bảo vật nă? sẵn trong kho tàng của mình mà chẳng tự biết
để đến nổi phải bôn tẩu tìm cầu từng miếng ăn nuôi
sống hằng ngày.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm
Tất
cả chúng sanh quyết định sẽ được tâm Đại trí, cho nên
Ta nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Kinh
Niết Bàn
Tâm
tánh của tất cả chúng sanh vốn thanh tịnh, các phiền não
không thể làm ô uế được, in như hư không, không khi nào
bị thứ gì làm nhơ bẩn.
Kinh
Đại Tập
Cái
thanh tịnh của tâm tánh giống như mặt trăng nằm dưới đáy
nước.
Kinh
Bảo Tích
Tâm
mà xa lìa được những đục vẩn, thời ta nói tâm ấy là
Phật đó.
Kinh
Nhập Lăng Già
Bồ
tát ngoài việc giác ngộ tự tâm thì chẳng còn ngộ gì nữa.
Tại sao thế? Vì giác ngộ tự tâm tức là đã giác ngộ tâm
của tất cả chúng sanh vậy. Nếu tâm mình được thanh tịnh
thì tất cả tâm của chúng sanh cũng đều được thanh tịnh;
vì thể tánh của tâm mình tức là thể tánh của tâm tất
cả chúng sanh vậy. Cho nên tự tâm mình xa lìa nhơ bẩn: tham,
sân, si thời tâm của tất cả chúng sanh cũng đều được
xa lìa nhơ bẩn: tham, sân, si vậy. Được như thế mới gọi
là kẻ nhất thế trí giác.
Kinh
Đại Trang Nghiêm Pháp Môn
Này
Bảo Tích: "Vì Bồ tát muốn nhiêu ích chúng sanh nên mới nói
tịnh pháp, vì nói tịnh pháp nên trí huệ tịnh, trí huệ
tịnh nên tâm mới tịnh; vì tâm tịnh nên tất cả công đức
được tịnh, vì công đức tịnh nên cõi nước mới được
thanh tịnh vậy."
Cho
nên muốn được cõi nước thanh tịnh, thời trước phải
tịnh tâm; do tâm tịnh nên Phật độ cũng thanh tịnh theo.
Bấy
giờ ngài Xá Lợi Phất sanh lòng nghi thưa với Phật rằng:
Bạch Đức Thế Tôn! Nếu Bồ tát tâm tịnh thời cõi Phật
cũng tịnh như lời Thế Tôn vừa dạy. Thế thì khi Thế Tôn
còn là địa vị Bồ tát tâm ý chẳng tịnh hay sao mà cõi
Ta bà đây bất tịnh như thế này?
Đức
Phật dạy: Này Xá Lợi Phất! Kìa mặt trời mặt trăng có
thanh tịnh sáng chói không? Mà sao những kẻ mù chẳng thấy;
vậy thì lỗi do mặt trời trăng hay lỗi bởi kẻ mù?
Xá
Lợi Phất thưa: Chẳng phải mặt trời trăng chẳng cho người
thấy, mà lỗi do người mù không thể thấy được.
Phật
kết: Thế thì cõi Ta bà này tuy là thanh tịnh mà bọn các
ngươi chẳng thấy đó thôi, là vì con mắt trí tuệ của các
ngươi chưa mở được.
Kinh
Duy Ma
D.
TỘI ÁC
Tâm
là nguồn tội ác, hình là rừng ác tội.
Kinh
Bát Đại Nhân Giác
Cái
tâm nó lanh lẹ nhẹ nhàng động chuyển, khó nắm bắt, khó
điều phục; nó rông chạy lung tung như con voi đại ác; nó
thoạt qua mau chóng từng mỗi niệm như chớp sáng điện khí;
nó nhảy vọt rộn ràng chẳng đứng yên như con vượn khỉ.
A? là cội gốc của tất cả các điều tội ác vậy.
Kinh
Niết Bàn
Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý là mụ làm mai mối cho kẻ giặc
vào cướp đoạt của báu nhà mình.
Kinh
Lăng Nghiêm
Nước
hay hiện bóng, nếu đem đổ vào vò, rồi lấy vải bịt miệng
vò lại, mới lấy lửa đốt cho thật nóng, nước trong vò
sôi vọt. Chúng sanh đem mặt đến soi vào, chắc chẳng thấy
bóng hình gì cả. Cũng giống như thế, nơi tâm vốn sẵn có
ba món độc, nó sôi vọt ở trong, rồi năm món ngăn che là:
tham dục, giận dữ, ngủ nghỉ, loạn động và nghi ngờ, nó
bịt che bên ngoài thì làm sao mà thấy được Đạo.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương
Nữ?sắc
là cùm xiềng gông tròng của thế gian, với kẻ phàm phu say
sưa đắm đuối, không thể tự thoát được.
Kinh
Nhựt Minh Bồ Tát
Phật
dạy: Người mà chạy theo tình dục, tìm cầu thanh danh, khi
thanh danh vừa ló mùi, thời cái thân đã chết mất rồi vậy.
Lo tham thanh danh thế gian mà chẳng học Đạo, uổng công nhọc
sức như trầm hương đốt lửa, thiên hạ chưa kịp nghe ngửi
mùi thơm, mà nén hương đã tiêu thành tro mất rồi, là vì
lửa làm nguy hiểm cho thân ở sát một bên sau lưng vậy.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương
Bị
các nỗi khổ là bởi lòng tham dục làm gốc, nếu dứt tham
dục, thời khổ không nương vào đâu mà tồn tại.
Kinh
Pháp Hoa
Giận
dữ là cội gốc làm mất các pháp lành, là nhơn đọa ác
đạo, là kẻ oan gia của pháp vui, là đứa giặc cướp của
lòng lành vậy.
Luận
Trí Độ
Tấm
thân như đất, lòng lành như lúa, lòng ác như cỏ. Cỏ bẩn
chẳng trừ, lúa chẳng thành gạo. Người chẳng trừ ác, thời
chẳng đặng Đạo. Người mạ giận dữ, là đất sanh cỏ.
Lòng lành như điện, nó đến thì sáng, nó đi thì tối. Tà
niệm như mây che chẳng thấy trời; đã khởi lòng ác làm
gì thấy Đạo.
Kinh
Tam Huệ
Tội
lỗi rất lớn đối với đạo pháp chính là giận dữ. Các
Bồ tát đến với các Bồ tát khác, nêu khởi lòng giận dữ,
tức là đã mở xong trăm vạn cửa ngăn che. Đã có chỗ gọi:
ngăn che chẳng cho thấy đạo Bồ đề, ngăn che chẳng cho nghe
chánh pháp, ngăn che cho sanh về thế giới bất tịnh, ngăn
che cho sanh về các ác thú, ngăn che bị nhiều tật bịnh, ngăn
che bị nhiều hủy báng, ngăn che ôm lòng mất chánh niệm,
ngăn che thiếu khuyết trí huệ, ngăn che gần ác tri thức,
ngăn che ưa học tiểu thừa pháp, ngăn che chẳng đặng tin
kính kẻ đại oai đức, ngăn che chẳng muốn cùng ở với
người chánh kiến, và ngăn che chẳng đặng trừ sạch các
nghiệp tội lỗi.
Kinh
Hoa Nghiêm
Lòng
giận dữ độc hại hơn lửa dữ, thường phải đề phòng
chớ cho nổi lên. Kẻ giặc cướp của công đức, chẳng ai
bằng giận dữ.
Kinh
Di Giáo
Một
niệm khởi lửa giận, có thể đốt cháy gốc lành nhiều
vô lượng kiếp.
Kinh
Đại Nhựt
Thà
sanh khởi trăm ngàn lòng tham, chớ khởi một cơn giận dữ;
vì cái mà làm tổn hại lòng đại từ chẳng gì hơn bằng
giận dữ.
Kinh
Quyết Định Tì Ni
Kẻ
phàm phu bị trăm món dục trói buộc, nghĩa là thân lẫn tâm
bị ma ba tuần tự do dẫn đi như bọn thợ săn bắt được
con khỉ, rồi trói lại thay nhau gánh đem về nhà.
Kinh
Niết Bàn
Xưa
có con rắn, đầu đuôi tranh hơn với nhau. Cái đầu bảo:
ta có tai nghe, mắt thấy, miệng ăn, khi đi tất nh