PHẦN
III – NHƠN QUẢ
CHƯƠNG
I
MUÔN
VẬT TRONG VŨ TRỤ
(Chương
này hơi khó hiểu, vì đạo lý cao siêu. Lời dịch giả)
A.
THẬT TƯỚNG CỦA MUÔN VẬT
Gây
Quả là Nhơn, được Quả là Quả.
Luận
Chỉ Quán
Thật
tướng là mẹ cuả các đức Phật ba đời.
Kinh
Bát Nhã
Nầy
các Thiện nam tử! Bồ Tát trụ đạo mới thấy chơn nghĩa
các pháp. Chơn ấy là chơn thật vậy. Mà thật nghĩa là in
như hư không tức là chơn như. Chơn như là tự mình thân chứng
bên trong, chớ chẳng phải dùng văn tự mà có thể phô bày
được. Tại sao? Vì nó siêu vượt tất cả văn tự ngôn thuyết
và những lời nói vô nghĩa vậy. Nó xa lìa các tướng ra vào,
phân biệt, xa lìa các cảnh giới tà ma và phiền não. Tự
tính yên lặng, nên không nhơ, và không thấm nhơ, rất trong
sạch mầu nhiệm hơn hết. Thường trú bất động chẳng hoại
diệt; nếu các đức Phật có ra đời, hoặc không ra đời
nó vẫn thường trú mà chẳng biến đổi.
Nay
các Bồ tát vì muốn làm lợi ích cho các Thiện nam tử, nên
mới đem sức dũng mãnh tinh tiến mà chứng lấy vậy thôi;
nên mới có nhiều tên gọi sai khác là: chơn như, thật tướng,
nhất thế trí, nhất thế chủng trí và bất khả tư nghì
v.v... Cho nên chúng ta, nhờ dùng trí huệ nghe, hoặc suy nghĩ
chớ chưa được khéo chứng.
Ví
như có người gặp mùa nóng bức mà đang đi giữa đồng nội;
người này từ Đông đi qua Tây; lại có người khác từ Tây
đi qua Đông. Người qua Tây vì khát nước rất ngặt, gặp
người từ Đông qua liền hỏi thăm nước để uống. Người
từ Đông qua đáp: "cách đây chẳng xa có một suối nước,
tôi mới vừa uống, từ đây qua đó, giữa đường có hai
đường trẽ, anh nên đi trẽ qua đường bên hữu, mà đừng
đi đường bên tả, thời anh sẽ thấy trên quả núi có đám
rừng xanh biếc; trong đám rừng ấy có một suối nước mát
mẻ, có thể giải khát cho anh."
Nầy
các Thiện nam tử! Người kia bị nắng nóng và khát nước
khó chịu lắm, nhưng nhờ nghe được tên nước mà có thể
chữa được bịnh khát nước. Người bị khổ khát nước
ấy, trong thân sẵn có nước thanh tịnh, nhiên hậu mới trừ
được bịnh nóng và khát. Cũng như chỉ nghe và suy nghĩ như
thế, chớ chẳng phải đã chứng được chơn như.
Này
các Thiện nam tử! Đồng nội, chỉ cho sanh tử. Nóng và khát,
chỉ cho vì nóng phiền não mà bị khát. Kẻ chỉ đường,
chỉ cho Bồ tát Thiện tri thức. Mình tự uống, chỉ cho phương
tiên khéo léo vậy.
Kinh
Bảo Võ
Tâm
chơn như là bản thể đại tổng tướng pháp môn của nhất
pháp giới vậy. Có chỗ đã gọi là tâm tính chẳng sanh chẳng
diệt, cả thảy các pháp chỉ do vọng niệm mà có sai khác.
Nếu xa lìa vọng niệm thời không có tướng sai khác của
tất cả các cảnh giới. Cho nên tất cả các pháp từ hồi
nào đến giờ, xa tướng nói phô, lìa tướng danh tự và xa
lìa các tướng tâm duyên rốt ráo bình đẳng không có biến
đổi sai khác, không thể phá hoại; duy chỉ nhất tâm, nên
gọi là chơn như.
Bởi
vì tất cả lời nói phô là gia danh chứ không thật, chỉ
tùy theo vọng niệm, chứ chẳng khá được vậy. Mà nói là
chơn như cũng không có tướng, nghĩa là cùng tột của lời
nói vậy thôi, bởi vì đem lời nói để khiển trừ lời nói,
mà bản thể của chơn như không thể khiển trừ được, vì
tất cả pháp đều là "chơn", và cũng không thể thành lập
được, vì tất cả pháp đều là "như".
Cho
nên phải biết, tất cả pháp chẳng khá nói, chẳng khá nghĩ,
cho nên gọi là chơn như.
Có
lời hỏi: Nếu như các nghĩa vừa nói trên, thì các chúng
sanh làm sao "thuận theo" mà có thể "chứng vào" được?
Đáp:
Nếu biết tất cả pháp, tuy nói mà không có pháp hay nói và
bị nói; tuy nghĩ mà cũng không có pháp hay nghĩ và bị nghĩ.
Ấy là thuận theo, nghĩa là nếu xa lìa được vọng niệm
gọi là được chứng vào.
Lại
nữa: Chơn như, mà nương theo sự phân biệt do lời nói phô
thì có hai nghĩa: một là như thật không, vì hay hiện thật
rốt ráo vậy; hai là như thật bất không, vì tự thể có
đầy đủ tánh công đức vô lậu vậy.
Nói
rằng: "như thật không" là từ hồi nào đến giờ, nó chẳng
tương ưng với tất cả các pháp ô nhiễm nghĩa là xa lìa
tướng sai khác của tất cả các pháp, bởi vì nó không có
tâm niệm hư vọng vậy.
Và
phải biết: tự tánh của chơn như, chẳng phải có tướng,
chẳng phải không tướng, chẳng phải chẳng có tướng, chẳng
phải chẳng không tướng; chẳng phải tướng có không chung
lại. Chẳng phải nhất tướng, chẳng phải dị tướng; chẳng
phải chẳng nhất tướng, chẳng phải chẳng dị tướng; và
cho đến nói tóm tắt.
Bởi
tất cả chúng sanh đem vọng tâm mỗi niệm phân biệt đều
chẳng tương ưng, cho nên nói là "không". Nếu rời vọng tâm,
thật không thể nói là "không" vậy.
Còn
nói rằng "bất không" là vì đã hiển hiện pháp thể, thời
không còn vọng tâm, tức là chơn như, thường hằng chẳng
biến đổi, các pháp trong sạch đầy đủ, nên gọi là "bất
không". Cũng không có tướng có thể nắm lấy được vì nó
xa lìa cảnh giới tâm tướng, duy chỉ chứng được mới tương
ưng mà thôi.
Luận
Đại Thừa Khởi Tín
Tướng
của các pháp như trò huyển thuật, không có tự tánh cũng
không có tha tánh, xưa kia tự nhiên, nên nay chẳng diệt.
Kinh
Duy Ma Cật
Tự
tính của các pháp chẳng khá được, in như hành dâm trong
chiêm bao thảy đều hư giả.
Kinh
Bảo Tích
Hiểu
thấu các thế gian, giả danh không có thật, chúng sanh và thế
gian, như chiêm bao, ánh sáng.
Kinh
Hoa Nghiêm
Rõ
biết các thế gian, như ánh nắng, ánh sáng, như tiếng vang
và mộng, như trò huyển và biến hóa.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Phật dạy ngài Đức Bổn rằng: Nầy Đức Bổn! Các pháp
ước lược có 3 món: một là các pháp đều giả danh mà an
lập, tùy theo mà khởi ra lời nói, là tướng chấp đắm của
chúng sanh; hai là tất cả pháp do nhơn duyên sanh, nghĩa là
do vô minh duyên sanh ra hành, cho đến duyên cuối cùng là nhóm
họp một đống đại khổ; ba là hiện ra tướng trạng tuy
có sai khác, nhưng bản tính của tất cả pháp ấy thảy đều
bình đẳng chơn như. Biết được bản tính của các pháp
như vậy, thời quay về lại bản tính.
Ví
như có người mắt bị bệnh mù lòa, dụ cho món thứ nhất;
như người mù lòa ấy, thấy các tướng hiện ra sai khác hoặc
xanh vàng đỏ trắng, dụ cho món thứ hai; như khi người ấy
trừ được bệnh mù lòa, mắt được trong sáng, biết được
bản tính, là dụ cho món thứ ba.
Kinh
Giải Thâm Mật
Các
pháp do nhơn duyên sanh khởi, không có tự tính, vì không có
tự tính, tức là rốt ráo "không"; cái rốt ráo "không" ấy,
từ hồi nào đến giờ vẫn là "không", chớ chẳng phải Phật
hay người nào làm cho nó mới bị "không".
Luận
Trí Độ
Các
pháp chẳng phải có, cũng chẳng phải không, vì do nhơn duyên
phát khởi các pháp vậy.
Kinh
Duy Ma Cật
Bồ
tát dùng chánh niệm mà quan sát các pháp trong thế gian đều
bởi nghiệp duyên mới có, và quan sát tất cả pháp đều
do nhơn duyên mà phát khởi, không có sanh cho nên không có diệt.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Phật dạy: Tự tính của các pháp, xưa nay vắng lặng, là
tự tánh Niết bàn; vì Niết bàn nên chẳng nhận được tự
tính, nên nói là không có tự tính. Vì chấp đắm các pháp
là có, nên mới có tướng chúng sanh, chỉ là giả danh mà
không thật có.
Lại
nữa, các pháp do nhơn duyên mới được thành lập, thế thì
giả dối là có; mà chơn thật thời không.
Lại
nữa: bản tính của các pháp, chẳng khá nghe, không sanh cũng
không diệt.
Kinh
Giải Thâm Mật
Các
Đức Phật Như Lai đã chứng được pháp tính, pháp ấy, pháp
nào an trụ vị trí pháp nầy; Như Lai có ra đời hay không
ra đời, pháp ấy vẫn thường trú mà chẳng biến đổi.
Kinh
Lăng Già
Này
các Phật tử! Tướng chơn thật của các pháp là không có
tướng, vì chẳng sanh chẳng diệt; chẳng thường chẳng đoạn;
chẳng một chẳng khác; chẳng đến và chẳng đi.
Kinh
Phạm Võng
Tất
cả chúng sanh đều "Nhu", tất cả các pháp đều "Nhu", các
bậc Hiền Thánh cũng đều "Nhu", cho đến Ngài Di Lặc cũng
là "Nhu" vậy.
Kinh
Duy Ma Cật
Tất
cả các pháp đều "Nhu", tất cả cảnh giới các Đức Phật
cũng vậy, cho đến không có một pháp nào ở trong "Nhu" mà
có sanh diệt; nhưng vì chúng sanh vọng phân biệt, nên mới
có Phật và thế giới. Nếu hiểu thấu pháp tính thời không
có Phật và thế giới.
Kinh
Hoa Nghiêm
Tất
cả pháp tính thường vắng lặng, không một pháp nào năng
tạo tác.
Kinh
Hoa Nghiêm
Pháp
giới tức là Như Lai, vì đấy là chơn thân Như Lai vậy.
Kinh
Tối Thắng Vương
Bấy
giờ Ngài Đại Trang Nghiêm Bồ tát và tám muôn các vị Đại
Bồ tát vừa nói xong bài kệ khen Phật, và đồng thành thưa
Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Cả tám muôn Bồ tát chúng
tôi nay đối trong chánh pháp của Như Lai có điều muốn thưa
hỏi, vậy chẳng biết Thế Tôn có rũ lòng thương xót mà
cho phép chăng?
Đức
Phật bảo Ngài Đại Trang Nghiêm và tám muôn Đại Bồ tát
rằng: Hay thay! Hay thay! Các Thiện nam tử, các ngươi khéo biết
nhắm thời, mặc ý các ngươi muốn hỏi gì cứ hỏi; Như
Lai chẳng còn bao lâu nữa sẽ vào Niết bàn. Sau khi ta vào
Niết bàn khiến mọi chúng sanh không còn nghi ngờ gì nữa.
Các ngươi muốn hỏi điều chi, thì nên hỏi ngay.
Liên
khi ấy, Ngài Đại Trang Nghiêm cùng tám muôn Bồ tát tức thì
đồng thanh mà thưa Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Đại
Bồ tát muốn được mau trọn nên quả Chánh đẳng Chánh giác
cao tột, cần nên tu hành những pháp môn nào? Và những pháp
môn nào có năng lực khiến các Đại Bồ tát mau chứng được
quả cao tột ấy.
Đức
Phật bảo Đại Trang Nghiêm Bồ tát và tám muôn Bồ tát rằng:
Các Thiện nam tử! Có một pháp môn khiến Bồ tát mau chứng
được quả Chánh đẳng Chánh giác cao tột; nếu Bồ tát nào
học được pháp môn ấy thì chắc mau được chứng quả cao
tột kia.
Các
Bồ tát thưa: Bạch đức Thế Tôn! Pháp môn ấy danh tự là
gì? Nghĩa nó thế nào và Bồ tát làm sao tu học?
Phật
dạy: Các Thiện nam tử! Pháp môn ấy gọi là "Vô lượng nghĩa".
Bồ tát muốn được tu học pháp Vô lượng nghĩa, cần phải
quan sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tính, tướng văng
lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, chẳng trụ
chẳng động, chẳng tiến chẳng thoái; in như hư không, không
có hai thứ. Mà các chúng sanh luống dối quấy chấp: là đây
là kia, là được là mất, rồi sanh niệm bất thiện, gây
các ác nghiệp; do đó bị trôi lẵn trong sáu thú chịu bao
khổ sở, vô lượng ức kiếp không thể tự ra khỏi. Các
Đại Bồ tát quan sát kỹ càng như thế, mới sanh lòng thương
xót, phát tâm đại từ bi mà cứu vớt chúng sanh.
Lại
nữa: phải quan sát sâu vào trong tất cả các pháp; pháp nầy
tướng như thế, nên "Sanh" pháp như thế, pháp nầy tướng
như thế, nên "Trụ" pháp như thế; pháp nầy tướng như thế,
nên "Dị" pháp như thế; pháp nầy tướng như thế, nên "Diệt"
pháp như thế.
Pháp
nầy tướng như thế, hay "Sanh" ác pháp; pháp này tướng như
thế, hay "Sanh" thiện pháp. "Trụ, Dị, Diệt" cũng đều quan
sát như thế.
Bồ
tát quan sát đầu đuôi của bốn tướng như thế, hiểu biết
tường tận khắp cả, rồi mới lần lữa quan sát kỹ càng,
tất cả các pháp, từng mỗi niệm chẳng đứng dừng, mới
mới luôn, vì sanh diệt; và lại quan sát: chính đang lúc sanh
diệt ấy vẫn gồm đủ sanh, trụ, dị, diệt đủ bốn tướng.
Quan
sát như thế rồi, mới quan sát sâu vào tính dục của các
căn cơ chúng sanh; vì tính dục nhiều vô lượng nên nói pháp
cũng phải nhiều vô lượng; vì nói pháp nhiều vô lượng
thời nghĩa cũng nhiều vô lượng; mà nghĩa nhiều vô lượng
là từ "một pháp" mà sanh ra; một pháp ấy tức là vô tướng
vậy. Vô tướng như thế, là vô tướng tức bất tướng,
bất tướng tức vô tướng, gọi là thật tướng.
Kinh
Vô Lượng Nghĩa
Đức
Thế Tôn từ trong chánh định quang minh xuất định và thong
thả đứng dậy rồi bảo Ngài Xá Lợi Phất rằng: Trí huệ
của các đức Phật sâu thẳm không lường được, cửa trí
huệ ấy khó hiểu khó vào, nên tất cả hàng Thanh Văn và
Bích Chi Phật không thể biết được. Ta đã từng gần gũi
cúng dường các đức Phật nhiều vô số trăm ngàn vạn ức,
và tu hết đạo pháp của các đức Phật nhiều vô lượng,
cho nên danh tiếng mạnh mẽ tinh tấn được đồn khắp, và
trọn nên pháp thẳm sâu chưa từng có, tùy theo căn cơ mà
nói pháp, ý thú rất khó hiểu.
Nầy
Xá Lợi Phất! Ta từ khi thành Phật đến nay, đã dùng các
món nhơn duyên, thí dụ để rộng diễn nói giáo pháp, và
dùng vô số phương tiện khéo léo để dắt dẫn chúng sanh,
khiến xa lìa các chấp trước, ấy là Như Lai đầy đủ phương
tiện tri kiến rốt ráo vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, thiền
định, giải thoát vô lượng, vô ngại, và sức vô sở úy
quan sát sâu vào các pháp không ngằn mé, trọn nên tất cả
các pháp chưa từng có.
Nầy
Xá Lợi Phất! Như Lai hay dùng nhiều món phân biệt khéo léo
mà nói pháp, lời lẽ êm dịu, để cho những kẻ nghe ưa thích.
Này Xá Lợi Phất! Phật thảy đều trọn nên ngần ấy pháp
chưa từng có, nhiều vô lượng vô biên. Nhưng thôi, Ta chẳng
cần nói nữa. Những pháp mà Phật đã trọn nên là hiếm
có và khó hiểu đệ nhứt, duy Phật với Phật mới có thể
cùng tột thật tướng của các pháp. Gọi là thật tướng
là hành tướng các pháp như thế, tự tính như thế, bản
thể như thế, năng lực như thế, tác dụng như thế, chánh
chơn như thế, trợ duyên như thế, kết quả như thế, nghiệp
báo như thế, và trước sau rốt ráo vẫn như thế.
Kinh
Pháp Hoa
B.
MUÔN VẬT SANH KHỞI
Tâm
sanh diệt ấy, là vì nương Như Lai tạng nên có tâm sanh diệt;
có chỗ nói: bất sanh bất diệt hòa hiệp với sanh diệt,
chẳng phải một, chẳng phải khác, gọi đó là thức A lại
da. Thức này có hai nghĩa hay thu nhạn tất cả các pháp, và
hay sanh ra tất cả các pháp. Nhưng hai nghĩa gì? Một là nghĩa
giác, hai là nghĩa bất giác. Nghĩa giác, nghĩa là bản thể
của tâm xa lìa tưởng niệm; xa lìa tưởng niệm ấy, là như
cõi hư không, không chỗ nào chẳng khắp, pháp giới nhất
tướng tức là Như Lai bình đẳng pháp thân vậy. Còn nghĩa
bất giác ấy, là vì chẳng như thật trí chơn như pháp nhất,
nên sanh khởi tâm bất giác mà có ra niệm; niệm ấy không
có tư tưởng, vì chẳng lìa bản giác; giống như người mê
đương vì nương theo phương hướng nên mới có mê, nếu lìa
phương hướng thời không có mê. Chúng sanh cũng thế, nương
nơi "giác" nên mới có "mê", nêu lìa giác tính thời không
có bất giác. Vì có tâm bất giác vọng tưởng, nên mới hay
biết danh nghĩa, gọi là chơn giác. Nếu lìa tâm bất giác
thời không có tư tưởng của chơn giác mà khá nói.
Luận
Đại Thừa Khởi Tín
Trong
Phật pháp của Ta lấy tâm làm chủ, tất cả các pháp đều
do tâm sanh.
Kinh
Tâm Địa Quán
Tâm,
như kẻ họa sĩ, có thể họa các thế gian, năm món uẩn đều
sanh. Nếu người tâm hành thời khắp biết tạo các thế gian,
người ấy sẽ thấy Phật, vì hiểu rõ Phật chớn thật tính
vậy. Tại sao thế? Vì tâm, Phật và chúng sanh ba pháp ấy
không sai khác. Nếu ai muốn biết rõ các đức Phật ba đời
nên quan sát pháp giới tánh, tất cả chỉ tâm tạo.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đối
tất cả pháp, tâm là kẻ dẫn đường; nếu biết được
tâm là đều biết các pháp. Các món thế pháp đều do tâm
tạo.
Kinh
Bát Nhã
Rõ
thấu ba cõi do tâm, 12 pháp nhơn duyên cũng như thế. Sanh tử
đều do tâm gây nên, nếu dứt được tâm thời sanh tử liền
hết.
Kinh
Hoa Nghiêm
Nước
biển gió động, sóng mòi không dừng nghỉ; khi gió cảnh thổi
đến, sóng thức liền sanh ngay. Như nước biển đổi gió,
như đất không sai khác, vật ngăn che có khác, tạng thức
cũng như thế. Nội tâm hiện cảnh giới, lại duyên lấy nội
tâm.
Kinh
Mật Nghiêm
Trên
núi Tuyết sơn có con ác thú, mỗi khi nó thấy trâu thì hiện
hình trâu mà hại trâu ăn thịt, hay thấy ngựa dê cũng thế.
Những kẻ tà đạo cũng vậy, họ đối với thức A lại da
sanh lòng chấp "ta"; nương theo chỗ chấp đắm của mỗi người
đều có sai khác.
Kẻ
tà đạo chẳng biết đạo lý duy thức, rồi sanh ra chấp cái
"ta", rồi gắng gượng phân biệt cho là có ta, hoặc cho không
ta; hoặc cho là một cái ta, hay là nhiều cái ta. Còn những
người tu quán hạnh đối với "thức" thanh trừ chấp ta. Hành
giả tự tu tập và khuyên người khác cũng tu tập.
Kinh
Mật Nghiêm
Đức
Phật hỏi ngài Văn Thù rằng: Nầy Văn Thù Sư Lợi! Địa
ngục do tự mình phân biệt mà có hay tự nhiên mà sanh ra?
Ngài
Văn Thù đáp: Bạch Thế Tôn! Địa ngục mà có là do nương
theo sự luống dối phân biệt của kẻ phàm phu; súc sanh hay
ngạ quỉ cũng thế. Chớ như trước mắt tôi đâu có địa
ngục và khổ. Ví như có người chiêm bao thấy mình bị đọa
địa ngục, thân đang chịu khổ trong chảo nước sôi, buồn
rầu rất đỗi, hãi sợ la to rằng: " khổ thay". Bấy giờ
người nhà chẳng hiểu vì việc chi mà người ấy la khổ.
Kinh
Đại Pháp Cú Đà La Ni
Tâm
lấy địa ngục, lấy ngạ quỉ, tâm lấy súc sanh, và tâm
lấy trời, người. Hễ có các hình mạo đều do tâm gây nên.
Ai có thể uốn dẹp được tâm, kẻ ấy rất nhiều sức mạnh.
Ta
đã phấn đấu với tâm, nhiều kiếp đến vô số, nay mới
thành Phật, chỉ một mình ta ra khỏi ba cõi.
Kinh
Ngã Khổ Chương Cú
Ngài
Thiện Hiện hỏi đức Phật rằng: Phật trước có nói: như
chiêm bao, như hình tượng, như tiếng vang, như ánh sáng, như
ánh nắng, như huyển thuật, như đô thành tầm hương, (giả
hiện chẳng thiệt) như việc biến hóa. Những các pháp ấy
không có thật sự, vì nó đều lấy vô tính làm tự tính.
Nhưng làm sao lại được thành các pháp sai khác: nào là lành
dữ, nào là hữu lậu vô lậu, nào là thế gian, xuất thế
gian, nào la hữu vi vô vi?
Đức
Phật đáp rằng: Này Thiện Hiện! Chúng sanh trong thế gian,
chẳng biết như chiêm bao, như hình tượng, như tiếng vang,
như ánh sáng, như ánh nắng, nó cũng chẳng biết như trò huyển,
như đô thành tầm hương, và chẳng biết như việc biến hóa.
Cho nên mới điên đảo chấp đăm, rồi do thân, ngữ, ý gây
ra những hành nghiệp lành, chẳng lành, phước, chẳng phước
và nghiệp bất động; cho nên mới có sai khác, chớ kỳ thật
không có sai khác.
Kinh
Bát Nhã
