Chương
III
LỢI
THA
A.
BIẾT ƠN TRẢ ƠN
Đức
Phật bảo các ông trưởng giả Diệu Đức, Dũng Mãnh, Thiện
Pháp ở trong thành Vương Xá rằng: Này các trưởng giả! Ta
sắp nói pháp mầu nhiệm, vì muốn lợi ích cho những ai chưa
biết ơn đức trong đời vị lai. Ơn trong thế gian và xuất
thế gian có 4 thứ:
Ơn
cha mẹ
Ơn
chúng sanh
Ơn
quốc vương
Ơn
Tam bảo
Bốn
ơn này tất cả chúng sanh, bình đẳng cõng đội.
Kinh
Tâm Địa Quán
Người
nào biết ơn, tuy còn ở trong sanh tử mà căn lành chẳng hư.
Kẻ chẳng biết ơn, căn lành diệt mất. Vậy nên các đức
Phật khen ngợi những người biết ơn trả ơn.
Kinh
Đại Phương Quảng Bất Tư Nghì Cảnh Giới
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng: nếu có chúng sanh
nào biết trả ơn, người ấy đánh kính. Ơn nhỏ còn chẳng
quên, huống chi ơn lớn. Kẻ ấy dầu cách đây trăm ngàn do
tuần cũng chẳng khác gì gần bên ta. Ta thường khen ngợi.
Trái lại có chúng sanh chẳng biết trả ơn, ơn lớn còn chẳng
nhớ huống là ơn nhỏ; dầu có gần Ta, Ta cũng chẳng gần,
dầu cho mặc áo Tăng ở hai bên ta, hữu gần Ta đi nữa, người
ấy vẫn như xa ta.
Kinh
Tăng Nhứt A Hàm
Người
biết ơn sẽ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, người
trả ơn cũng sẽ dạy chúng sanh phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
Kinh
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân
Nếu
có ai hỏi rằng: ai là người biết ơn và có thể đã trả
ơn? Nên đáp ngay với họ rằng: Đức Phật là người biết
ơn và đã trả ơn vậy. Vì sao thế? Vì tất cả trong thế
gian người biết ơn và đã trả ơn, không ai hơn Phật vậy.
Kinh
Bát Nhã
Chẳng
nghe vị Địa thần đã nói sao? "Ta, chở cõi đại địa có
tất cả sự vật và sức nặng của núi Tu di nữa mà ta chẳng
nhàm chán nhưng đối với 3 hạng người ta thường ngán lắm.
Kẻ
ôm tâm phản nghịch muốn mưu hại vị nhơn vương
Kẻ
bỏ ơn tôn thân bất hiếu với cha mẹ
Kẻ
bác bỏ không cho có nhơn quả, hủy báng Tam bảo, phá pháp
luân Tăng, trở ngại người làm lành. Những người như vậy
trong một giây lát ta cũng không muốn chở họ."
Kinh
Hoa Nghiêm
B.
VUA – TÔI – CHỦ – TỚ
Làm
vua trị hóa là khôn khéo dạy khiến bề tôi. Cha dạy con,
anh dạy em, chồng dạy vợ, nhà cửa trong ngoài thân thuộc
bằng hữu dạy bảo lẫn nhau, phải đạo làm lành, phụng
kinh trì giới, mỗi người giữ lấy trên dưới kính nhau,
không luận sang hèn trai gái tu giới thanh tịnh thảy đều
vui vẻ; phải lẽ hòa thuận, vui vẻ hiếu hiền, cùng nhau
răn dạy.
Kinh
Đại A Di Đà
Nước
không vua, như thân không đầu, khó mà sống lâu.
Kinh
Tự Ái
Ơn
của Quốc vương, vì Quốc vương là kẻ phước đức cao cả
hơn hết, tuy cũng là người sanh ở nhơn gian mà được tự
tại, nên các vị Thiên tử ở cõi trời ba mươi ba thường
giúp sức ủng hộ vậy. Với cả cõi nước sơn hà đại địa
và cả ngàn mé biển cả, đều thuộc Quốc vương, phước
đức cao hơn tất cả phước của chúng sanh. Vậy nên vị
Đại thánh vương, lấy chánh pháp mà trị hóa, có thể khiến
chúng sanh đều được an vui; ví như các tòa cung điện, cây
cột là cội gốc; nhơn dân no ấm, vua là cội gốc, vì là
của vua vậy.
Quốc
vương, nếu chẳng lấy chánh pháp mà trị hóa để làm chỗ
nương nhờ cho nhân dân. Nếu lấy chánh pháp mà trị hóa thời
những kẻ xâm lăng ở ngoại nước, kẻ phản nghịch ở trong
nước, và những ác qủy, đ?#243;i khát cùng những khủng bố
mưa gió bất thời không thể có được.
Quốc
vương xem nhơn dân như con, ngày đêm chẳng rời lòng lo ủng
hộ, thì ơn ủng hộ ấy đáng gọi là lớn vậy.
Vì
quốc vương có 10 đức:
Soi
tỏ: lấy mắt trí huệ soi khắp thế gian vậy
Trang
nghiêm: lấy đại phước trí trang nghiêm nước vậy
Ban
vui: lấy đại an lạc cho nhơn dân vui vậy
Dẹp
oán: hành phục tất cả oán địch vậy
Lìa
sợ: có thể đẩy lui các tai nạn, hết khủng bố vậy
Dùng
người hiền: là tập trung các bực Hiền sĩ cùng giúp việc
nước vậy
Đặt
pháp luật: là nhơn dân ở yên trong cõi nước vậy
Trị
an: là lấy chánh pháp duy trì thế gian vậy
Nghiệp
chủ: là các sự nghiệp đều thuộc Quốc vương vậy
Nhơn
chủ: là các sự nghiệp đều thuộc Quốc vương vậy
Tất
cả các vị Quốc vương đều nhờ phước đời trước mới
được trọn nên 10 món phước đức thù thắng như vậy.
Nếu
có nhơn dân nào siêng tu lòng thành, để giúp rập cho vị
vua có nhơn đức, tôn trọng như Phật, ấy đời hiện nay
yên ổn giàu vui. Cầu muốn việc chi đều được vừa lòng
là nhờ ơn đức của Thánh vương rộng lớn như vậy.
Kinh
Tâm Địa Quán
Vua
như cha mẹ, thương mến bình đẳng, người dân như con, trọn
bề trung hiếu.
Kinh
Phật Vị Thắng Quang Thiên Tử Thuyết Vương Pháp
Vua
lấy lòng lành xem tất cả nhân dân đã như con, thời tất
cả nhân dân đối với nhà vua như cha mẹ.
Kinh
Thắng Quân Vương Sở vấn
Dân
lấy vua làm mạng, vua lấy Pháp làm thân. Thế đạo được
hòa bình, Phật Pháp bắt đầu từ đấy.
Trong
nước có vua, được mọi sự yên ổn; vậy nên nhà vua phải
lấy sự an vui của tất cả chúng sanh mà làm gốc.
Những
kẻ xuất gia tại gia thành tâm tu đạo đều nhờ chánh quốc
được duy trì và diễn hóa khắp nơi. Nếu nhà vua bất lực,
công hạnh chẳng thành, chánh pháp bị diệt mất, thời còn
đâu giúp ích? Vậy nên, tu tất cả công đức, một trong sáu
phần thuộc về nhà vua. Câu nguyện cho nhà vua được phước
như quả núi, bền vững khó mà sụp đổ.
Kinh
Hoa Nghiêm
Vua
Nghiêm Xí hỏi Ni Kiền Tử rằng: "Các ông vua sao gọi tên
vua?" Đáp rằng: "Này Đại vương! Vua là cha mẹ của nhân
dân vậy. Hay y Pháp mà nhiếp hộ chúng sanh được an vui vậy,
nên gọi là vua. Đại Vương nên biết, vua mà nuôi dân như
mẹ nuôi con đỏ, dời khô bỏ ướt, không đợi nó đòi.
(Khi mẹ con cùng ngủ, con đái , dời con đến chỗ khô, mẹ
nằm chỗ ướt!) Tại sao? Đại Vương phải biết, ngôi vua
mà được bền vững lấy dân làm cõi nước. Lòng dân chẳng
an, nước sẽ nguy vậy. Vậy nên làm vua, thường phải thương
dân nghĩ đến dân, như mẹ nghĩ niệm đến đứa con đỏ,
lòng chẳng lúc nào rời bỏ được. Phải biết việc vui,
khổ của người dân trong nước, tùy thời mà thi hành, biết
mùa lụt mùa hạn, biết khi gió khi mưa, biết lúc được mùa
mất mùa, biết khi no khi đói, biết có biết không, biết kẻ
buồn người vui, biết kẻ già người trẻ, kẻ bệnh người
mạnh, biết đứa ngục tù, người kiện tụng, biết kẻ có
tội, người không tội, biết tội nhẹ tội nặng.
Nếu
đối với các bậc Vương tử, đại thần, bách quan, biết
kẻ nào có công người nào không công v.v...Biết như vậy
gọi là bất ly tâm.
Đại
vương! Phải biết, nhà vua với trong nước thì biết như vậy
rồi, dùng thế lực mà ủng hộ. Kẻ đáng thưởng phải thưởng
kịp thời, kẻ đánh phạt phải cân nhắc cho kỹ lưỡng.
Những kẻ quan lại cũng phải biết thời, chẳng nên cướp
đoạt quyền lợi của dân; nghiêm cấm tham lam bạo ngược.
Người dân được yên vui, ấy là nhiếp hộ. Mới đáng gọi
là vua."
Vua
lại hỏi nữa rằng: "Lấy những pháp gì gọi là Vương luận,
khiến các Tiểu vương nương nơi luận pháp kia mà trị nước
an dân, gọi là như pháp có thể nhiếp hộ chúng sanh?"
Ngài
Ni kiền Tử đáp: "Đại vương! Bỏ các tâm điên đảo tham
lam, bỏ các tâm điên đảo giận dữ, bỏ các tâm điên đảo
ngu si rồi: y đối trị, y thiệt thế, y sai biệt, y lợi ích.
Y đối trị và thiệt thế là pháp bị đối trị vậy; có
chỗ gọi nó là cội gốc bất tham, bất sân và bất si. Làm
sao có thể phát khởi được pháp bị trị và hay trị? Pháp
bị trị ấy là tâm buông lung và tâm vô từ. Còn pháp hay
trị là nhà vua phải tu pháp hạnh có tâm chẳng buông lung
và tâm đại từ bi, nhận biết thân mạng và sự vật giúp
sống đều là vô thường, tự quan sát bản thân thấy các
tội lỗi hiểu biết đúng sự thật mà thọ dụng các vật
cần thiết giúp cho sự sống.
Nhà
vua tu pháp hạnh tuy được tự tại tự do nhưng chẳng nên
làm những điều phi pháp; được như vậy gọi là tâm chẳng
buông lung.
Đại
vương! Phải biết y cứ theo phép vương luận, thì chẳng nên
được của, có được cũng chẳng nên lấy, tuy là được
của hợp lý mà phi thời cũng chẳng nên lấy. Nếu y theo thời
tiết được của hợp lý đối với kẻ nghèo cùng khốn khổ
cũng chẳng nên lấy. Đến như những nạn gươm giáo, nạn
giặc giã, nạn phản nghịch, nạn hại nhau; lúc có những
nạn như thế thời nhà vua nên khởi từ tâm chẳng sợ nguy
hiểm đến bản thân mà hộ các chúng sanh.
Với
kẻ nghèo cùng cho họ cơm áo. Với kẻ bạo ác, dạy họ pháp
lành, ấy gọi là từ tâm.
Đại
vương! Phải biết: y cứ theo hai pháp này, mới gọi là nhà
vua tu pháp hạnh, chính là để hộ trì cho chúng sanh, là có
tâm bất phóng dật, tâm đại từ bi vậy.
Kinh
Ni Kiền Tử
Vua
hỏi Đại sư rằng: "Vua tu pháp hạnh đã có tâm từ bi, làm
sao có thể trị những chúng sanh còn ác?"
Đáp
rằng: "Nhà vua tu pháp hanh nếu cần trị chúng sanh làm ác
trước phải khởi từ tâm lấy trí huệ xem xét và suy nghĩ
5 pháp, nhiên hậu mới trị. Những gì là năm?
Y
sự thật, chớ nên y bất thật
Y theo
thời, chẳng nên y bất thời
Y nghĩa,
chẳng nên y vô nghĩa
Dùng
lời mềm dịu chớ nên dùng lời xẳng xóm
Y từ
tâm, chớ nên y sân tâm mà trị."
Nhà vua
hỏi thêm Ngài Ni kiền Tử rằng: "Vua tu pháp hạnh làm sao
trị những chúng sanh khởi nghịch?"
Đáp
rằng: "Này Đại Vương! Nhà Vua tu pháp hạnh, trước lấy
điều lành mà dạy, đúng như pháp mà chỉ vẽ, nếu nghe theo
mệnh lệnh mà bỏ nghịch tâm, xin lỗi xin tội với vua, thời
Vua đại ân xá, tha thứ trọng tội, cho an trí ở một nơi
nào trong nước mà chẳng nên diệt mạng, chẳng đoạt của
và cũng chẳng cần đuổi ra khỏi nước. Vì sao thế? Vì muốn
khiến Vua biết có ba điều: 1. Có đức tin. 2. Có ơn. 3. Có
đại lực, để khiến cho những kẻ chưa hàng phục phải
hàng phục; kẻ đã hàng phục chẳng dám tái phạm, kẻ muốn
phản nghịch chẳng dám manh khởi.
Đại
Vương phải biết những kẻ có tội mà được khởi tội
lại được phục chức vị cũ thời nhơn dân được yên ổn
vậy. Những nhà Vua đúng như pháp mà trị hóa thời đuợc
phước vô lượng, tiếng tăm đồn khắp. Nếu kẻ bị tội
được mệnh lệnh Vua mà chẳng chịu phục tội thời phải
trị cho xứng đáng, nhưng đừng giết chết hay làm tổn hại
thân thể mà chỉ nên tịch thu tài sản và đày ra khỏi nước,
để làm gương cho kẻ khác chẳng dám khởi nghịch tâm mà
thôi.
Đại
Vương phải biết! Như vậy là Vua tu pháp hạnh mà trị tội
những kẻ khởi nghịch.
Kinh
Ni Kiền Tử
Nếu
có vị Hiền Vương sáng sớm dậy, trước vào Đạo tràng,
kính lễ Thánh Hiền cầu nguyện phúc lành, cúng lạy Tổ tông,
trả đền ân đức; dạy dân hiếu kính thầm ích cho muôn
dân.
Xong
rồi mới lâm Triều cùng với các Đại thần mà lo việc nước,
và phê chuẩn, xong hai việc này rồi mới dùng bữa. Dùng bữa
xong mới đi tắm rửa, và dạo chơi hoa viên.
Đến
buổi chiều, bày hội đàm luận ở Vương cung, mời các vị
Sa Môn, Bà La Môn có Đại trí huệ trong nước đến diễn
thuyết Chánh pháp cho Vua nghe và Vua hỏi han các điều thiện
ác, chánh tà và việc gì đáng làm, việc gì chẳng đáng làm.
Rồi mới triệu tập các vị Cựu Thần có tài đức, và những
kẻ ẩn dật có kiến thức cao xa, nhà Vua dọ hỏi việc quốc
chánh để cho họ bình luận việc đắc việc thất. Như vậy
là Vua tự tỉnh thức, phước đức của Vua càng tăng thêm
rồi mới hàng phục các nước láng giềng, được bầy tôi
tôn kính, trong ngoài một lòng.
Kinh
Hoa Nghiêm
Hễ
lên ngôi quốc vương phải tu 5 điều:
Lãnh
trị muôn dân không có oan uổng, nhũng lạm
Nuôi
dưỡng tướng sĩ tùy thời thăng thưởng
Tu
niệm pháp lành, phước đức nối luôn
Phải
tin những lời can gián của bậc trung thần chánh trực, đừng
nghe kẻ sàm nịnh mà thương tổn đến bậc chánh trực quốc
sĩ.
Phải
tiết độ việc tham dục, tâm chẳng buông lung
Tu năm
điều này tiếng thơm khắp bốn biển, phước lộc tự đến.
Trái lại chẳng tu năm điều này thời các pháp luật chẳng
thi hành được, nhơn dân nghèo cùng mưu loạn, tất nhiên tướng
sĩ phải mệt nhọc thế lực suy yếu; bấy giờ các vị phước
thần không ủng hộ, bởi Vua mà hỏng việc lớn; các bực
trung thần chẳng can gián; tâm nhà Vua càng buông lung, việc
nước phế bỏ, thời nhơn dân lắm điều oán thán.
Kinh
Pháp Cú Thí Dụ
Đức
Phật nói: Ngày xưa nước Ca Thi có ông Vua tàn ác, làm những
điều phi pháp khiến trăm họ khốn khổ. Bấy giờ có vị
Hiền giả muốn can gián nhà Vua bằng cách dạy chim anh võ
nói rằng: "Làm Vua mà có bảy điều phi pháp thời thân Vua
nguy vậy:
Say
mê nữ sắc, chẳng kính bậc chơn chánh
Say
rượu, chẳng thương quốc dân
Tham
cờ bạc, chẳng tu lễ kính
Săn
bắn sát sanh, không lòng từ bi
Ưa
nói lời dữ, chẳng nói lời lành
Nặng
sưu dịch, lại thêm hình phạt biếm trích
Cướp
đoạt của dân chẳng nhằm nghĩa lý
Bảy
điều phi pháp thân Vua nguy khốn."
Lại
nữa:
Gần
gũi những kẻ gian ác tà nịnh
Chẳng
tin những kẻ hiền lương
Háo
chiến nước người, chẳng nuôi nhơn dân
Ba việc
phi pháp này là nước nguy vậy. Nếu Vua chẳng trừ bỏ các
phi pháp nói trên, thời trong một mai chiều sẽ khuynh quốc,
bại thân.
Là
kẻ làm Vua, cả nước đều nhờ, như chiếc cầu muôn người
nhờ qua lại; như cái cân, đối với kẻ thân người sơ đều
công bình; như mặt trời, soi khắp thế gian; như mặt trăng,
cho muôn vật mát mẻ; như cha mẹ, ơn lành nuôi dưỡng thương
mến; như trời che khắp tất cả; như đất chở nuôi muôn
vật; như lửa đốt trừ ác hoạn và như nước thấm nhuần
muôn dân.
Nhà
vua nghe chim anh võ nói như trên, rất hổ trẽn, về sau tu chánh
hạnh. Do đó mà chánh giáo được thịnh hành trong nước.
Và cũng nhờ đó mà tiếng xấu tiêu diệt, từ đây trở đi
bà phu nhơn và các bề tôi đều trung thành cung kính nhà Vua,
muôn dân đều vui mừng.
Kinh
Tạp Bảo Tạng
Chủ
nhà xem sóc tôi tớ có 5 điều:
Phải
thường cấp cho cơm áo, mền mùng
Đau
ốm phải mời thầy thuốc trị chữa
Chẳng
nên đánh đập quấy quá
Nó
có của riêng chẳng nên cướp lấy
Khi
phân chia vật gì phải bình đẳng
Tôi tớ
đối với chủ nhà cũng có 5 điều:
Phải
dậy sớm, đừng để chủ nhà gọi
Việc
nên làm tự động làm ngay
Phải
yêu tiếc vật của chủ
Khi
chủ đi, về phải lo đưa, đón
Phải
khen ngợi điều hay của chủ, chẳng nên nói việc xấu
Kinh
Lục Phương Lễ
Chủ
nhà đối với những kẻ tôi tớ giúp việc: Sai khiến cho
vừa sức; thường cho cơm áo; cho vật ngon; ban lời dạy; khi
đau ốm cho nghỉ việc. Ấy là năm điều mà chủ nhà cần
có vậy.
Làm
khéo, làm khéo mà nên việc, biết phục thiện, tối đến
ngủ, sáng dậy sớm, học tập, làm việc siêng, chủ nhà nghèo
cũng đừng khinh, những lúc thiếu thốn, cũng chẳng bỏ nhau,
và đi ra khỏi cửa thời khen ngợi chủ nhà. Ấy là 10 điều
mà kẻ tôi tớ cần phải có. Chủ tớ được như vậy thế
thời việc lành chẳng suy bại.
Kinh
Thiện Sanh Tử
C.
KHEN NGỢI HIẾU LÀNH
Điều
lành cao tột chẳng gì bằng hiếu. Điều cực ác là bất
hiếu vậy.
Kinh
Nhẫn Nhục
Đặng
ngọc báu cao từ dưới đất lên đến cõi trời 28, lấy đem
bố thí cho người được phước báo chẳng bằng cúng dường
cha mẹ.
Kinh
Mạt La Mạt
Thờ
cúng trời đất quỉ thần chẳng bằng hiếu thảo với cha
mẹ, cha mẹ là hai vị Thần sống cao tột vậy.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương
Gặp
đời không có Phật, nếu biết khéo phụng sự cha mẹ tức
là phụng sự Phật vậy.
Kinh
Đại Tập
Quả
báo công đức thỏa thuận cúng dường cha mẹ ngang với công
đức của vị Bồ Tát nhứt sanh bổ xứ vậy.
Kinh
Tăng Nhất A Hàm
Đức
Phật nói: Chẳng những ngày nay Ta mới khen ngợi hạnh từ
hiếu mà trong vô lượng kiếp về trước Ta cũng khen ngợi
nhiều rồi!
Kinh
Tạp Bảo Tạng
Nương
nhờ ơn nuôi dưỡng của hai vị Từ Phụ và Bi mẫu cho nên
tất cả các con trai gái đều được an vui. Thế là ơn cha
cao như núi Chúa, ơn mẹ sâu như bể cả.
Kinh
Tâm Địa Quán
Dù
cho có người một vai cõng cha, một vai cõng mẹ, đến trọn
đời mà chẳng phút xa lìa, và cung cấp áo cơm thuốc men,
các món cần dùng. Như thế cũng chưa có thể gọi là đã
trả xong ơn sâu nặng với cha mẹ.
Kinh
Bổn Sự
Cha
mẹ với con có 5 điều:
Khiến
con bỏ ác làm lành
Lấy
sách vở dạy cho con
Cho
con trì kinh giới
Cưới
vợ cho con
Gia
tài phải để lại cho con hết.
Kinh
Lục Phương Lễ
Phật
nói: Ơn cha mẹ thương con, Ta ở đời này lâu đến một kiếp
nói cũng khó hết. Ta nay chỉ nói một phần ít thôi. Nay ông
Trưởng giả: nếu có người giàu có mời một trăm Thầy
Bà La Môn tịnh hạnh, một trăm vị Thần tiên và 100 người
bè bạn đến vào trong ngôi nhà làm bằng bảy thứ ngọc sang
trọng mà bày tiệc cúng dường đầy đủ trăm ngàn món ăn
ngon tột bực, nơi phòng nghỉ, treo chuỗi anh lạc và dùng
các giường mùng, mền gối và trăm thứ ngọc báu để trang
hoàng; lại dùng thứ thuốc bạch được để trị bịnh. Nuôi
như thế mãn trăm ngàn kiếp mà chẳng bằng phát khởi một
niệm lòng hiếu thuận dùng chút ít vật chất cúng dường
cha mẹ và theo bên hầu hạ.
Bà
mẹ hiền thương con, thật không biết lấy vật gì để so
sánh cho cân xứng vậy. Từ khi con vào thai, trải qua thời
gian mười tháng những lúc mẹ đi, đứng, ngồi, nằm, chịu
trăm điều khổ não mà miệng mẹ không thể nói ra. Muốn
những đồ uống ăn hay áo mặc, dù có được mẹ cũng chẳng
mừng vì lòng lo lắng không khi nào dứt, chỉ lo nghĩ đứa
con sắp sanh sao cho hoàn hảo là hơn thôi. Nếu khi đẻ khó
thời như trăm ngàn mũi dao đồng thời đâm cắt toàn thân;
nếu khi sanh đẻ được an lành, bà mẹ với các thân thuộc
cùng chung vui sướng in như kẻ nghèo được ngọc báu; sự
đau khổ trong mười tháng của mẹ do một tiếng khóc đầu
tiên của đứa con khi mới lọt lòng mà nổi khổ ấy mẹ
liền quên mất và vui sướng như nghe âm nhạc. Con lấy nơi
bụng ngực của mẹ làm chỗ ngủ, lấy hai cổ vế là chỗ
dạo chơi và do nước giêng cam lồ nơi ngực mẹ chảy ra mà
nuôi lớn. Ôi! Ơn đức của mẹ, núi cao biển sâu cũng chẳng
thể sánh kịp. Nếu đứa con nào biết tùy thuận nghe theo
những lời dạy bảo của từ mẫu mà không trái nghịch thời
được các chư thiên hộ niệm, phước đức vô cùng. Nếu
có kẻ trai lành gái thiện nào muốn trả ơn cha mẹ, trải
qua thời gian một kiếp, cứ mỗi ngày ba lần từ cắt thịt
nơi thân đem nuôi cha mẹ cũng chưa có thể gọi là đã trả
ơn được một ngày vậy.
Kinh
Tâm Địa Quán
Người
trong thế gian ai giàu hơn hết ai nghèo hơn hết? Bi mẫu sống
còn gọi là giàu có; Bi mẫu qua đời gọi là nghèo khổ. Khi
còn bị mẫu gọi mặt trời trưa; bi mẫu qua đời gọi mặt
trời lặn. Khi còn bi mẫu, gọi đêm trăng sáng, bi mẫu qua
đời là đêm không trăng. Vậy nên các người siêng năng tu
tập hiếu thuận nuôi dưỡng hai đấng Từ thân. Những người
như vậy, được phước ngang như phước cúng như Phật không
chút hơn kém.
Kinh
Tâm Địa Quán
Phàm
là con thảo phải lấy năm việc kính thuận cha mẹ. Những
gì là năm?
Cúng
dường đầy đủ đừng để thiếu thốn
Phàm
làm việc gì, phải trước thưa cha mẹ
Cha
mẹ có làm, kính thuận chẳng nghịch
Chánh
lịnh cha mẹ, chẳng dám chống trái
Cha
mẹ có làm, chánh nghiệp chẳng dứt
Kinh
Trường A Hàm
Con
thờ cha mẹ phải có năm điều:
Phải
lo sanh kế
Dậy
sớm sai khiến tôi tớ lo làm cơm nước cho kịp thời
Chẳng
nên làm cha mẹ lo thêm
Phải
nhớ ơn cha mẹ
Khi
cha mẹ có bệnh, phải lo sợ liền mời thầy chửa thuốc
kịp thời
Kinh
Lục Phương Lễ
Đạo
làm con đối với cha mẹ có năm việc:
Lo
gia sự
Lo
trả nợ nần
Phải
hiểu lời dạy
Cúng
dường
Làm
sao cho cha mẹ vui
Kinh
Thiện Sanh Tử
Cung
phụng đồ ăn uống và châu báu chưa đủ trả được ơn
cha mẹ. Hướng dẫn cha mẹ xoay về chánh pháp mới là báo
hiếu.
Kinh
Bất Tư Nghì Quang
Nếu
cha mẹ không tin, khuyên phát khởi lòng tin; nếu chưa có giới
pháp, khuyên thọ trì giới pháp; nếu tánh tình bủn xỉn,
khuyên tu hạnh bố thí; nếu không trí huệ, khiến kia tu trí
huệ. Làm con được như thế, mới được gọi là trả ơn.
Luật
Tỳ Na Da
Bầy
giờ đức Thế Tôn bảo Ưu bà Di rằng: Ngày trước Ta đi
xuất gia, Ta có tâu thề với Phụ Vương Ta rằng, khi nào chứng
được Phật đạo sẽ trở về độ cha mẹ. Thế là nay Ta
đã chứng được Phật đạo và công đức thành tựu, quyết
phải trở về nước, chẳng dám trái lời tâm hứa ngày trước.
Kinh
Phổ Diệu
Khi
vua Tịnh Phạn lâm bệnh nặng, Ngài nghĩ muốn thấy mặt các
con một lần chót.
Bây
giờ đức Phật ở tại thành Vương xá cách chừng năm mươi
do tuần. Phật mới bảo A Nan, Nan Đà và La Vân liền dùng
thần túc mà về vương cung. Rồi ngài phóng hào quang sáng
rực soi khắp thân Phụ vương thì bịnh tình được thuyên
giảm chút ít; và Ngài lại lấy tay rờ trên trán Phụ vương
mà an ủi rằng: Phụ vương là người tu tịnh giới, đã diệt
sạch tâm phiền não cấu nhiễm; nay Phụ vương nên vui mừng
và nghĩ nhớ lời kinh pháp.
Đức
Phụ vương nghe nằm chắp tay đem tâm mà kính lễ! Liền lát
sau Ngài thăng hà. Các Thích tộc và triều đình lo việc tẩn
liệm vào quan tài và đem quan tài tôn trí trên tòa sư tử.
Đức
Phật và ngài Nan Đà nghiêm chỉnh đứng trước linh xa; ngài
A Nan và La Vân đứng sau linh xa. A Nan quì thưa Phật rằng:
cho tôi xin gánh quan tài Bá phụ; La Vân cũng xin với Phật
cho mình gánh quan tài ông nội. Đức Thế Tôn nói lời an ủi:
con người sau nầy đều là hung bạo, bất hiếu chẳng biết
trả ơn dưỡng dục của cha mẹ, Ta vì chúng sanh bất hiếu
ấy mà bày ra phương pháp để giáo hóa. Rồi Như Lai đích
thân gánh quan tài phụ vương và tự tay bưng lư hương đứng
trước mà đi đến nơi Lăng mộ!
Đức
Như Lai kiếp trước ở trong sanh tử, thời gian như vậy nhiều
như số vi trần không thể nghĩ bàn được, và trong hình loại
tất cả chúng sanh chịu đủ mọi thân hình. Vì chịu nhiều
thân hình nên tất cả chúng sanh đã từng làm cha mẹ đức
Như Lai, và Như Lai cũng đã từng làm cha mẹ tất cả chúng
sanh. Vì từng làm cha mẹ tất cả chúng sanh nên thường tu
những khổ hạnh khỏ tu, hay bỏ những vật khó bỏ. Siêng
tu tinh tấn, trì giới, bố thí, đa văn, thiền định, trí
huệ cho đến đầy đủ tất cả muôn hạnh, chẳng nghỉ chẳng
thôi, tâm không mệt mỏi. Vì hiếu dưỡng cha mẹ, biết ơn
trả đức nên ngày nay được chóng thành tựu quả vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Kinh
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân
Phật
bảo A Nan rằng: Đời trước, khi Ta làm con là nhơn hiếu;
khi làm vua là từ dục; khi làm dân là kính phụng. Do đó mà
tự gây nên đấng cao cả trong ba cõi.
Kinh
Viêm Tử
D.
ĐẠO THẦY TRÒ
Kẻ
Thiện tri thức nói lời đúng pháp, đúng như lời nói mà
làm. Thế nào gọi là nói đúng pháp, và đúng như lời nói
mà làm? Nghĩa là tự mình chẳng sát sanh, chẳng dạy người
khác sát, cho đến tự mình tu chánh kiến và dạy người cũng
tu chánh kiến; nếu ai được như vậy, mới được gọi là
chơn chánh Thiện tri thức. Lại nữa tự tu đạo Bồ Đề
và dạy người cũng tu Bồ Đề, vì nghĩa ấy nên gọi là
Thiện tri thức. Hoặc là tự có thể tu hạnh tín, giới, bố
thí, đa văn, trí huệ và cũng có thể dạy người tu hành
tín, giới, bố thí, đa văn, trí huệ, vì những lẽ đó mà
gọi là Thiện tri thức. Kẻ thiện tri thức cần phải có
pháp lành. Pháp lành gì? Là việc mình tự chẳng cầu vui cho
mình mà thường vì cầu vui cho chúng sanh. Khi thấy người
có lỗi mình chẳng nên nói điều dở mà thường nói điều
trọn lành. Bởi những nghĩa đó mà gọi là Thiện tri thức.
Kinh
Niết Bàn
Nếu
ai gần gủi Ác tri thức, đời nầy chẳng được tiếng tăm
tốt, bởi vì gần gủi bạn bè xấu, đời sau sẽ đọa ngục
A Tỳ. Ai mà gần gủi Thiện tri thức, hiện tại dầu chẳng
được chúng lợi thế gian, đời sau sẽ được hết nhân
khổ.
Kinh
Phật Bổn Hạnh
Cần
cầu kẻ Thiện tri thức, thân tâm đừng sanh mệt mỏi, thấy
Thiện tri thức đừng sanh lòng nhàm chán; học hỏi với Thiện
tri thức, đừng sợ khó nhọc; gần gủi Thiện tri thức đừng
thối lui, cúng dường Thiện tri thức đừng cho gián đoạn;
tùy thuận theo lời dạy dỗ của Thiện tri thức mà đừng
chống trái; những công đức của Thiện tri thức, đừng sanh
lòng nghi; khi Thiện tri thức diễn nói, phải quyết định
mở cửa lòng xuất ly mà nghe; nhân thấy Thiện tri thức tùy
thuận theo hạnh phiền não, đừng sanh lòng hiềm quái. Đối
với Thiện tri thức phải lòng tin vững chắc đừng biến
đổi. Tại sao? Vì Bồ tát nhờ Thiện tri thức mà được
học hỏi các hạnh Bồ Tát. Do đó mới được thành tựu
tất cả công đức của Bồ tát và được xuất sanh đại
nguyện cùng là trí huệ quang minh rực rỡ. Và cũng nhờ đó
mới được dẫn phát thiện căn Bồ tát và chứng được
Đạo quả Như Lai bồ đề, để nhiếp lấy hạnh mầu nhiệm
và sức tự tại cùng là xuất sanh sức đại từ đại bi
của Bồ tát vậy.
Nầy
Thiện nam tử! Bồ tát nhờ sự giúp đỡ của Thiện tri thức
mà chẳng sa đọa ác thú; nương nhờ sự thành tựu của Thiện
tri thức mà được tự tại thọ sanh; nương nhờ sức mạnh
của Thiện tri thức mà phá tan nghiệp báo; nhờ mặc áo giáp
nhẫn nhục của Thiện tri thức mà chẳng bị một lời nói
xấu ác; và nương nhờ sự sanh trưởng của Thiện tri thức
mà tiêu diệt được các tội lỗi kiêu mạn vậy.
Kinh
Hoa Nghiêm
Đức
Phật dạy: kẻ nào biết ơn thầy, khi có thầy thì lo phụng
sự; khi vắng thầy thời lo suy nghĩ những lời thầy đã dạy
bảo; giống như kẻ hiếu tử nghĩ nhớ cha mẹ, và như người
đói khát nhớ nghĩ đến việc uống ăn.
Kinh
Trang Tâm
Là
kẻ Sư trưởng cần lấy 5 điều mà đối xử với đệ tử:
Tùy
thuận theo phép điều ngự
Dạy
những điều mà trò chưa biết
Tùy
theo sự nghe biết của trò mà khiến cho hiểu thấu căn lành
Chỉ
kẻ hiền lành cho trò kết bạn
Đem
hết chỗ hiểu biết của mình mà dạy trao cho trò không nên
lẫn tiếc
Kinh
Trường A Hàm
Thầy
dạy đệ tử có 5 điều:
Khiến
trò mau hiểu
Dạy
trò giỏi hơn đệ tử của kẻ khác
Phải
dạy trò biết rồi nhớ mãi chẳng quên
Phải
giải nói các điều nghi nan cho trò hiểu rõ
Muốn
khiến trí huệ của trò cao hơn mình
Kinh
Lục Phương Lễ
Hay
khiến học hay dạy bảo, khiến học siêng năng đem về đạo
lành, cho trò làm với kẻ hiền hữu. Ấy là năm điều mà
thầy đối với trò vậy.
Kinh
Thiện Sanh Tử
Đệ
tử kính phụng sư trưởng cũng có 5 điều:
Phải
hầu hạ
Lễ
kính cúng dường
Tôn
trọng trên đầu cổ
Những
lời thầy dạy bảo phải cung kính tùy thuận, chớ không được
chống trái
Khi
đi theo thầy nghe được điều gì hay, khéo nhớ giữ gìn,
chớ bỏ lãng quên
Kinh
Thiện Sanh Tử
Đệ
tử thờ thầy phải có 5 điều:
Kính
mến là khó gặp
Phải
nhớ ơn thầy
Nghe
theo lời dạy
Nghĩ
nhớ chẳng nhàm
Khi
đi theo sau hầu hạ phải khen ngợi điều hay của Người
Kinh
Lục Phương Lễ
Lóng
nghe cho chắc, ưa học hỏi, siêng làm việc, không phạm lỗi,
cúng dường thầy. Ấy là năm điều đệ tử thờ thầy vậy.
Kinh
Thiện Sanh Tử
Phàm
là kẻ đệ tử, mỗi khi thấy thầy tức thì đứng dậy.
Luật
Căn Bổn Tỳ Na Da
Đệ
tử theo thầy đi, chân chẳng nên đạp nơi bóng thầy.
Kinh
Sa Di Giới Luật
Đệ
tử, khi tham học với thầy phải tránh 6 chỗ:
Chẳng
nên đứng trước mặt
Chẳng
nên đứng sau lưng
Chẳng
nên đứng quá xa
Chẳng
nên đứng quá gần
Chẳng
nên đứng chỗ cao hơn chỗ thầy
Chẳng
nên đứng hướng trên gió
Luật
Thiện Kiến Tỳ Bà Ta
Phật
dạy: đứa ác muốn hại kẻ hiền, như ngửa miệng lên trời
khạc nhổ, khạc chẳng đến mà rơi lại nơi mình. Lại như
kẻ đứng đầu gió lấy chân quấy bụi, bụi chẳng đến
người mà đã dơ thân mình. Người hiền không thể hủy hoại
lại diệt mình.
Có
người nghe Phật giữ Đạo, tu Đại nhơn từ, họ cố ý đến
mắng Phật, Phật làm thinh không phản ứng. Họ mắng đã
rồi thôi.
Phật
hỏi: ngươi đem lễ vật cho người ta, người ta không nhận
lễ vật ấy trở về ngươi chớ sao? Người kia đáp: phải.
Phật nói: khi nãy ngươi mắng Ta mà Ta không nhận, ngươi tự
đem họa ấy về nơi thân người: giống như vang ứng theo
tiếng, như bóng hiện theo hình, quyết không sai một mảy.
Ngươi cẩn thận chớ làm ác.
Kinh
Tứ Thập Nhị Chương
A Nan
thưa Phật rằng: người đời và đệ tử Phật khinh rẻ bực
Thầy và họ đem ác tâm đến bậc Thầy và người đạo đức
thì tội ấy thế nào?
Phật
bảo A Nan rằng: là con người thời phải ưa mến đức của
người khác và vui mừng điều lành của họ, chẳng nên ganh
tị. Còn như đem ác tâm đến bậc Thầy và người đạo đức
thì cũng như đem ác tâm đến Phật không khác chi cả. Ví
phỏng đem cái cung nặng một vạn tạ bắn vào thân mình chừng
có đau hay không? A Nan thưa: thật đau lắm đau lắm. Phật
nói: người có ác ý đem đến người đạo đức cùng là
bậc Thầy hãy còn đau hơn gấp mấy lần cái mũi tên kia bắn
vào thân minh.
Là
kẻ đệ tử chẳng nên khinh dễ bậc Thầy và đem ác ý đến
kẻ đạo đức. Người có đạo đức phải xem họ như Phật
chớ chẳng nên ganh tị hủy báng. Người có giới đức cảm
động đến các Thiên long qủy thần không một vị nào chẳng
cung kính.
Thà
lao mình vào đống lửa, cẩn thận chớ nên ganh tị và hủy
báng kẻ thiện nhơn, tội ấy chẳng phải nhỏ nhen, cho nên
phải cẩn thận lắm.
Kinh
A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung
Đệ
tử có 5 việc mới nên quở mắng:
Bất
tín
Biếng
nhác
Ác
khẩu
Tâm
không biết xấu hổ
Gần
gũi ác tri thức
Phật
nói: chỉ phạm một trong năm món vừa kể trên cũng nên quở
mắng.
Có
Tỳ kheo thưa Phật rằng: quở mắng cách nào? Phật đáp: có
5 pháp:
Chẳng
nói năng với hắn
Chẳng
dạy trao gì hết
Cho
thọ dụng chẳng đồng đều
Chẳng
dạy cho việc lành
Chẳng
cho ở chung một nhà
Trong
5 pháp nầy tùy theo trường hợp mà dạy quở.
Luật
Hữu Bộ Căn Bổn Tỳ Nại Da
A Nan
thưa Phật rằng: bực Thầy có quyền la mắng đệ tử, tội
nhỏ cho là to, chừng như Thầy có lỗi hay không?
Phật
đáp: không nên không nên! Đạo nghĩa Thầy trò phải lấy
đạo cảm hóa tự nhiên, phải cùng nhau có lòng tin cậy thân
hậu; xem trò như mình, việc chi mình chẳng muốn làm, đừng
trách sao trò không làm. Phải lấy đạo đức rộng dạy: kính
trọng, lễ phép cho trò, phải thuận hòa trung tiết, không
nên đem lòng oán trách kiện cáo cùng nhau. Kẻ đệ tử cùng
Thầy hai bên đều chân thành: bực Thầy cho ra bực Thầy,
kẻ làm trò cho đáng kẻ làm trò thì mới được.
Kinh
A Nan Vấn Phật Sự Cát Hung
E.
BẰNG HỮU THIỆN ÁC
Đức
Thế Tôn với ngài trưởng lão Nan Đà cùng nhau đi vào trong
thành Ca tỳ la bà tộ. Đi đến gần một nhà buôn cá. Phật
bảo Nan Đà rằng: Ngươi vào trong nhà buôn cá kia xin lấy
một nắm cỏ tranh mà họ thường tủ trên cá chết.
Nan
Đà vâng lời làm theo. Rồi đức Phật bảo Nan Đà cầm theo
một lát rồi sẽ vất nó đi. Nan Đà y lời cầm đi theo một
đỗi rồi mới vất xuống đất.
Bấy
giờ đức Phật bảo Nan Đà: ngươi ngửi tay ngươi coi có
nghe mùi chi không? Nan Đà thưa: dạ có mùi bất tịnh hôi tanh.
Phật liền dạy Nan Đà rằng: Thiệt đúng vậy đó. Nếu người
nào gần gũi với bọn ác tri thức giao kết làm bè bạn trong
chừng giây lát thời ác nghiệp nhiễm thành thói quen, tiếng
xấu người ấy bị đồn khắp.
Đức
Thế Tôn lại cùng với trưởng lão Nan Đà đi gần đến nhà
làm nhang, Ngài bảo Nan Đà: Ngươi vào nhà kia xin một bao nhang
đem đây. Nan Đà vâng lời vào nhà xin lấy một chiếc bì
họ đã đựng nhang cầm ra. Phật bảo: Ngươi cầm một lát
rồi sẽ vất nó đi. Nan Đà y lời cầm một lát rồi vất
xuống đất.
Bấy
giờ Phật mới bảo Nan Đà: Ngươi tự ngửi tay ngươi coi
có nghe mùi chi chăng? Nan Đà thưa rằng: Dạ thưa Thế Tôn!
Tay con có mùi thơm ngạt ngào thật không thể tả được.
Đức Phật bảo: Thật vậy! Nếu ai gần gũi với kẻ Thiện
tri thức thường tự tùy thuận thấm nhuần đạo đức của
họ thời được tiếng tăm tốt đẹp.
Kinh
Phật Bổn Hạnh
Chỗ
đất có miếng giấy cũ, Phật bảo Tỳ kheo lại nhặt. Tỳ
kheo vâng lời lại nhặt lấy. Phật hỏi miếng giấy chi vậy?
Dạ thưa miếng giấy bao hương, tuy bị bỏ đã lâu mà mùi
hương vẫn còn thơm.
Thầy
trò đi một đỗi nữa lại gặp một khúc giây. Phật bảo
Tỳ kheo lại nhặt, rồi Phật hỏi giây chi đó? Dạ thưa giây
chi không biết, mà người ta dùng buộc cá, nên có mùi tanh
hôi.
Phật
nói: hai vật ấy trước kia sạch sẽ chẳng có mùi gì mà
vì nhơn duyên nên mới có thơm, thúi khác nhau. Gần kẻ hiền
minh thời hấp thụ được nhiều đạo nghĩa, mà bạn với
đứa ngu ám thời tai họa chắc đến thân. Cũng in như 2 vật
giấy kia đựng hương thời thơm mà buộc cá thời hôi; nó
thấm nhiễm dần dần mà tự nó nào có hay biết.
Kinh
Pháp Cú Thí Dụ
Phật
dạy: Này Thiện Sanh! Làm bạn với đứa trộm, có bốn điều
ác: tham của người khác; cho ít trong nhiều, vì sợ nên học
tập, vì lợi nên học tập.
Bạn
với đứa vọng ngữ, cũng có 4 điều: bày tỏ việc riêng
của người, việc riêng của mình dấu mất, trước mặt khen
hay, sau lưng chê dở.
Bạn
với đứa tin tà giáo, cũng có bốn điều: nó dạy mình sát
sanh, dạy ăn trộm, dạy tà dâm và dạy mình dối trá.
Trái
lại bạn với kẻ đồng tâm, khi khổ vui có mặt với nhau
có bốn điều lành: họ cho mình của báu, cho điều lợi,
cho của nhà sẵn có, cho lời nói trung thật.
Bạn
với kẻ siêng năng sự nghiệp cũng có bốn điều lành: lấy
lợi làm sự nghiệp, lấy sức mạnh làm sự nghiệp, hoặc
mình có buông lung thì họ can gián, và lấy điều lành làm
sự nghiệp.
Và
lại bạn với kẻ nhơn từ cũng có bốn điều lành: được
họ khuyên dạy thành tín, thành giới, thành văn và thành thi.
Kinh
Thiện Sanh Tử
Phật
dạy: Ác tri thức có 4 bọn:
Bên
trong ôm oán tâm, mà bên ngoài gắng gượng làm ra vẻ bạn
tri thức
Trước
mặt nói tốt mà sau lưng nói xấu
Lúc
mình có việc gấp, đối trước mặt bộ sầu khổ mà sau
lưng thì vui mừng
Bề
ngoài giả làm như thân hậu mà bề trong toan mưu gây oán
Thiện
tri thức cũng có 4 thứ:
Bề
ngoài hình như không tốt, mà bên trong có ý tốt
Thẳng
thắn can gián ngay trước mặt mà sau lưng thì vẫn nói điều
tốt của bạn
Những
khi đau ốm, hoặc bị huyện quan đòi hỏi, hay phải đi chinh
chiến thời lo lắng tìm hết cách che chở giải cứu.
Thấy
kẻ nghèo cùng không nỡ bỏ qua, thường nghĩ tìm phương tiện
khiến cho được giàu có
Ác tri
thức cũng có 4 thứ:
Khó
can gián hiếu dụ khiến họ làm lành vì họ cố ý lân la
với kẻ ác
Muốn
khiến họ đừng bè bạn với kẻ ưa rượu mà họ cố ý
lân la với bợm nghiện rượu
Muốn
khiến họ tự giữ mình, nhưng họ lại càng sanh đa sự
Muốn
khiến họ làm bạn với kẻ hiền, mà họ cố ý với kẻ
ác
Thiện
tri thức cũng có 4 thứ:
Thấy
kẻ nghèo cùng quẫn bách, khiến cho họ có phương sanh kế
Không
khi nào tranh cãi cùng nhau
Thường
hỏi thăm tin tức với nhau
Thường
nghĩ nhớ nhau những lúc gặp gỡ
Thiện
tri thức cũng có 4 thứ nữa:
Bị
quan nã bắt đem giấu kín thì tìm cách giải cứu
Khi
bị đau ốm thì đến thăm viếng giúp đỡ
Khi
bạn chết chóc đến xem sóc tẩm liệm
Bạn
đã qua đời, về sau cứ nghĩ nhớ mãi!
Thiện
tri thức lại có 4 điều:
Muốn
đấu tranh là ngăn cản ngay
Muốn
làm bạn với ác tri thức là can gián liền
Chẳng
muốn làm việc để sanh sống thì khuyên nhủ nên làm việc
để sanh sống
Chẳng
biết kinh giáo đạo lý thì dạy cho hiểu biết, và sanh lòng
tin vui mừng
Ác tri
thức cũng có 4 bọn:
Bị
thiệt chút ít quyền lợi là nổi sân to
Mình
có việc gấp mượn nhờ đi đâu đó, mà chẳng chịu đi
Thấy
bạn có việc gấp liệu bề tránh mất
Thấy
người bạn bị chết chóc, bỏ lơ chẳng hề ngó tới
Đức
Phật dạy: nên chọn lựa bạn lành mà theo; mà kẻ ác nên
tránh xa. Ta nhờ nương theo bạn lành nên mới được thành
Phật.
Kinh
Lục Phương Lễ
Đừng
làm việc chung với kẻ ác tri thức và đứa ngu, mà phải
giao kết với kẻ thiện tri thức và người trí. Con người
vốn không phải ác nếu gần gui?kẻ ác về sau thành người
ác, thời tiếng xấu đồn khắp thiên hạ. Mà thiện tri thức
thì trái lại. Cho nên cần phải gần gũi.
Kinh
Tăng Nhất A Hàm
Ông
Bột nói rằng: (tiền thân Phật Thích Ca) bạn có bốn thứ
cần phải biết: có thứ như hoa, có thứ như cân, có thứ
như núi và có thứ như đất. Sao gọi như hoa, là khi tươi
đẹp lấy cắm trên đầu, lúc héo xấu thời vất bỏ; khi
giàu sang thì phụ họa mà lúc nghèo hèn thì bỏ lơ, ấy là
bạn như hoa. Sao gọi như cân? Nghĩa là vật nặng là thấp
xuống, mà vật nhẹ thời cao lên, ấy là bạn như cái cân.
Sao gọi như núi? Ví như loại chim thú tập trung đậu trên
quả núi vàng thời lông vảy của chúng nó đều sáng vàng
rực rỡ; nghĩa là mình được sanh trọng cũng khiến cho bạn
được vinh hiển, giàu sang chung cùng vui vẻ; ấy là bạn như
núi. Sao gọi là bạn như đất? Là trăm giống và của báu
tất cả đều bao cấp cho bạn, thí cấp dưỡng hộ ân hậu
rất đậm đà, ấy là bạn như đất vậy.
Kinh
Bột
Vị
Đại Bồ Tát xem kẻ ác tri thức như con voi dữ hay loại ác
thú không hơn không kém. Vì sao thế? Vì đều là loại hại
thân thể vậy. Đại Bồ tát đối với voi dữ hay thú dữ,
tâm không sợ hãi, chứ đối với ác tri thức tâm sanh khiếp
sợ. Tại sao thế? Vì voi dữ hay thú dữ chỉ có thể hại
thân mà không thể hại tâm, còn ác tri thức hại luôn cả
thân tâm. Voi dữ hay thú dữ chỉ hại một thân chớ ác tri
thức hại vô lượng thiện thân, vô lượng thiện tâm. Voi
dữ hay thú dữ chỉ hay phá hại cái thân nhơ nhớp bất tịnh
mà thôi, còn ác tri thức phá hoại tịnh thân lẫn tịnh tâm.
Voi dữ hay thú dữ phá hoại thân xác thịt, còn ác tri thức
phá hoại pháp thân. Bị voi dữ giết chẳng đọa ba ác đạo,
mà bị ác tri thức giết quyết đoạ ba ác đạo. Voi dữ hay
thú dữ chỉ là kẻ oán của thân, còn ác tri trức là kẻ
oán của thiện pháp.
Vậy
nên Bồ tát thường phải xa lìa bọn ác tri thức mới được.
Kinh
Niết Bàn
Tìm
bè bạn khắp nơi, không được vừa ý mình, thôi gắng giữ
tâm ta, đừng bạn với kẻ ngu. Khắp nơi tìm bè bạn, không
được vừa ý ta, thà khéo giữ tâm mình, chẳng làm bạn kẻ
ác.
Luật
Tứ Phần
Nếu
ai gần gũi với bạn trí huệ và hiền lành thời có thể
khiến cho nội tâm và ngoại thân đều được trong sạch.
Thế mới gọi là bậc trượng phu chơn thiện.
Kinh
Đại Trang Nghiêm
Bạn
hiền là nền tảng của muôn phước; đời hiện tại này
khỏi nạn lao ngục quan vua; sau khi chết đóng bít được cửa
tam đồ ác đạo vậy. Có thể lên trời đắc Đạo, ấy là
đều nhờ sức giúp đỡ của Hiền hữu vậy.
Kinh
Hoan Dự
Bạn
lành đủ 7 pháp mới thành thân hữu:
Việc
khó làm hay làm được
Cái
khó cho hay cho được
Việc
khó nhẫn hay nhẫn được
Việc
kín cho biết lẫn nhau
Che
đậy lẫn nhau
Gặp
khổ chẳng bỏ nhau
Nghèo
hèn chẳng khinh bỏ nhau
Luật
Tứ Phần
Bằng
Hữu có 3 yếu pháp:
Thấy
có lỗi lầm thời hiểu dụ can gián cho nhau
Thấy
có việc tốt thời hết lòng vui mừng
Bạn
lâm nạn đang ở trong cảnh nguy khốn cùng thời chẳng bỏ
nhau
Kinh
Nhơn Quả
Bạn
bè: chẳng nên nhơn một lời nói của kẻ khác mà liền bỏ
nhau, khi nghe một lời nói của kẻ khác cần phải quan sát
kỹ càng đã.
Luật
Căn Bổn Tỳ Nại Da
Người
đời với thân thuộc và bằng hữu phải có 5 điều:
Thấy
họ làm những việc tội ác, đem nhau riêng chỗ vắng vẻ
mà can gián, hiểu dụ, quở trách và ngăn cản
Khi
họ có chút việc gấp phải mau chạy đến cứu giúp
Có
nói lời chi riêng với mình, thời mình không nên nói lại
với kẻ khác
Phải
lễ kính lẫn