Hán
bộ quyển thứ bảy mươi mốt.
Bấy
giờ Thiện-Tài Đồng-Tử ở chỗ Dạ-Thần Phổ-Cứu-Chúng-Sanh-Diệu-Đức,
nghe pháp-môn giải-thoát bồ-tát phổ-hiện-nhất-thiết-thế-gian-điều-phục-chúng-sanh.
Thiện-Tài biết rõ tin hiểu tự-tại an-trụ trong môn giải-thoát
đó.
Thiện-Tài
đến chỗ Dạ-Thần Tịch-Tịnh-Ấm-Hải, đảnh lễ nơi chân
Dạ-Thần hữu nhiễu vô-số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch
đức Thánh ! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề. Tôi muốn
nương theo thiện-tri-thức để học bồ-tát-hạnh, nhập bồ-tát-hạnh,
tu bồ-tát-hạnh, trụ bồ-tát-hạnh. Mong đức Thánh thương
xót vì tôi mà tuyên nói Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh,
thế nào tu bồ-tát-đạo ?
Dạ-Thần
nói:
Lành
thay, lành thay ! Nầy thiện-nam-tử ! Ngươi có thể nương thiện-tri-thức
cầu bồ-tát-hạnh.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta được môn giải-thoát bồ-tát niệm-niệm-xuất-sanh-quảng-đại-hỉ-trang-nghiêm.
Thiện-Tài
Thưa:
Đại-Thánh
! Môn giải-thoát nầy sự nghiệp thế nào ? Cảnh-giới thế
nào ? Khởi phương-tiện gì ? Quán-sát thế nào ?
Dạ-Thần
nói:
Nầy
thiện-nam-Tử ! ta phát khởi tâm nguyện bình-đẳng thanh-tịnh.
Ta phát khởi tâm nguyện ly tất cả trần cấu thế-gian thanh-tịnh
kiên-cố trang-nghiêm chẳng hư hại. Ta phát khởi tâm trọn
chẳng thối chuyển phan-duyên địa-vị bất-thối-chuyển.
Ta phát khởi tâm bất động trang-nghiêm công-đức bửu sơn.
Ta phát khởi tâm vô-trụ-xứ. Ta phát khởi tâm cứu-hộ hiện
thân trước khắp tất cả chúng-sanh. Ta phát khởi tâm không
nhàm đủ thấy tất cả phật-hải. Ta phát khởi tâm nguyện-lực
thanh-tịnh cầu tất cả Bồ-Tát. Ta phát khởi tâm trụ nơi
đại-trí quang-minh hải. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả
chúng-sanh vượt khỏi đồng hoang lo buồn. Ta phát khởi tâm
làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời sầu lo khổ não. Ta phát
khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời sắc thanh hương
vị xúc pháp chẳng vừa ý. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả
chúng-sanh bỏ rời ái-biệt-ly-khổ và oán-tắng-hội-khổ.
Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời những
khổ ác duyên ngu si. Ta phát khởi tâm làm chỗ nương tựa
cho tất cả chúng-sanh bị hiểm nạn. Ta phát khởi tâm làm
cho tất cả chúng-sanh thoát khỏi chỗ khổ sanh tử. Ta phát
khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời những khổ sinh,
lão, bệnh, tử. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh
thành-tựu pháp-lạc vô-thượng của Như-Lai. Ta phát khởi
tâm làm cho tất cả chúng-sanh đều thọ hỉ lạc.
Ta
phát khởi những tâm như vậy rồi, lại vì chúng-sanh mà thuyết
pháp, làm cho họ lần đến bực nhất-thiết-trí.
Như
là, nếu thấy chúng-sanh mến luyến nhà cửa cung-điện của
họ ở, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thấu rõ tự
tánh của các pháp lìa chấp trước.
Nếu
thấy chúng-sanh mến luyến cha mẹ anh em chị em, thời ta vì
họ mà thuyết pháp, cho họ được dự chúng-hội thanh-tịnh
chư Phật Bồ-tát.
Nếu
thấy chúng-sanh mến luyến vợ con, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ bỏ rời sanh tử ái nhiễm khởi tâm đại-bi,
với tất cả chúng-sanh bình-đẳng vô-nhị.
Nếu
thấy chúng-sanh ở vương-cung thể-nữ hầu hạ, thời ta vì
họ mà thuyết pháp, cho họ được hội họp với thánh-chúng
vào giáo-pháp của Như-Lai.
Nếu
thấy chúng-sanh nhiễm trước cảnh-giới, thời ta vì họ mà
thuyết pháp, làm cho họ được nhập Như-Lai cảnh-giới.
Nếu
thấy chúng-sanh nhiều sân hận, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, làm cho họ được Như-Lai nhẫn-nhục ba-la-mật.
Nếu
thấy chúng-sanh có lòng giải-đãi, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được thanh-tịnh tinh-tấn ba-la-mật.
Nếu
thấy chúng-sanh tâm tán loạn, thời ta vì họ mà thuyết-pháp,
làm cho họ được Như-Lai thiền ba-la-mật.
Nếu
thấy chúng-sanh vào rừng rậm kiến chấp vô-minh ám chướng,
thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thoát khỏi si ám.
Nếu
thấy chúng-sanh không trí-huệ, thời ta vì họ thuyết pháp,
cho họ được bát-nhã ba-la-mật.
Nếu
thấy chúng-sanh nhiễm trước tam-giới, thời ta vì họ mà
thuyết pháp, cho họ thoát khỏi sanh tử.
Nếu
thấy chúng-sanh chí ý hạ-liệt, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ viên-mãn Phật bồ-đề nguyện.
Nếu
thấy chúng-sanh an-trụ hạnh tự-lợi, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ phát khởi tâm nguyện lợi ích tất cả chúng-sanh.
Nếu
thấy chúng-sanh chí lực kém yếu, thời ta vì họ mà thuyết
pháp cho họ được bồ-tát lực-ba-la-mật.
Nếu
thấy chúng-sanh tâm ngu si mê tối, thời ta vì họ mà thuyết
pháp cho họ được bồ-tát trí-ba-la-mật.
Nếu
thấy chúng-sanh sắc tướng không đủ, thời ta vì họ mà
thuyết pháp cho họ được Như-Lai thanh-tịnh sắc-thân.
Nếu
thấy chúng-sanh hình dung xấu-xí, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được pháp-thân thanh-tịnh vô-thượng.
Nếu
thấy chúng-sanh sắc-tướng thô ác, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được Như-Lai vi-diệu sắc thân.
Nếu
thấy chúng-sanh lòng nhiều ưu não, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được Như-Lai rốt ráo an lạc.
Nếu
thấy chúng-sanh khổ vì nghèo cùng, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được bửu-tạng công-đức của Bồ-Tát.
Nếu
thấy chúng-sanh ở nơi núi rừng, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ siêng cầu nhơn-duyên phật-pháp.
Nếu
thấy chúng-sanh đi nơi đường sá, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ xu-hướng đạo nhất-thiết-trí.
Nếu
thấy chúng-sanh ở trong tụ-lạc thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ thoát khỏi tam giới.
Nếu
thấy chúng-sanh ở nhơn-gian, thời ta vì họ mà thuyết pháp,
cho họ siêu-việt nhị-thừa-đạo, an-trụ nơi như-lai-địa.
Nếu
thấy chúng-sanh cư ngụ thành quách, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được ở trong thành Pháp-Vương.
Nếu
thấy chúng-sanh ở nơi bốn hướng, thời ta vì họ mà thuyết
pháp, cho họ được trí-huệ tam-thế bình đẳng.
Nếu
thấy chúng-sanh ở các phương, thời ta vì họ mà thuyết pháp,
cho họ có trí huệ thấy được tất cả pháp.
Nếu
thấy chúng-sanh nhiều tham, thời ta vì họ mà nói môn đại-từ-quán,
cho họ được nhập siêng năng tu tập.
Nếu
thấy chúng-sanh nhiều si, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho
họ được trí sáng quán-sát các pháp-hải.
Nếu
thấy chúng-sanh thích vui sanh tử, thời ta vì họ mà thuyết
pháp cho họ nhàm lìa.
Nếu
thấy chúng-sanh nhàm khổ sanh tử đáng được Như-Lai hóa
độ, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ có thể phương-tiện
thị hiện thọ sanh.
Nếu
thấy chúng-sanh mến luyến ngũ-uẩn, thời ta vì họ mà thuyết
pháp cho họ được an-trụ cảnh giới vô-y.
Nếu
thấy chúng-sanh tâm họ hạ liệt, thời ta vì họ mà thị
hiện đạo thắng trang nghiêm.
Nếu
thấy chúng-sanh tâm sanh kiêu-mạn, thời ta vì họ mà nói pháp
nhẫn bình-đẳng.
Nếu
thấy chúng-sanh tâm siểm-khúc, thời ta vì họ mà nói Bồ-tát
trực-tâm.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ta dùng vô-lượng pháp-thí như vậy để nhiếp
độ tất cả chúng-sanh, nhiều phương-tiện giáo-hóa điều-phục,
cho họ khỏi ác đạo, hưởng vui nhân thiên, thoát sự trói
buộc của tam giới, an-trụ nhất-thiết-trí.
Lúc
đó ta bèn được đại-hoan-hỉ pháp-quang-minh-hải. Tâm ta
vui vẻ an ổn thư thới.
Lại
nầy Thiện-nam-tử ! Ta thường quán-sát đạo tràng chúng-hội
tất cả Bồ-Tát, tu những hạnh nguyện, hiện những tịnh-thân
có những thường-quang, phóng những quang-minh, dùng những phương-tiện
nhập môn nhất-thiết-trí, nhập những tam-muội, hiện những
thần-biến, phát ra những âm-thanh-hải, đủ những thân trang-nghiêm,
nhập những như-lai-môn, đến những quốc-độ-hải, thấy
chư Phật-hải, được những biện-tài-hải, chiếu những
cảnh giải-thoát, được những trí quang-hải, nhập những
tam-muội-hải, du hí những môn giải-thoát, dùng những pháp-môn
xu hướng nhất-thiết-trí, trang-nghiêm hư-không pháp-giới,
dùng những mây trang-nghiêm che khắp hư-không, quán-sát những
đạo tràng chúng-hội, họp những thế-giới, nhập những
phật-sát, đến những phương-hải, thọ những như-lai mạng,
theo những chỗ Như-Lai, cùng chư Bồ-Tát câu-hội, tuôn những
mây trang-nghiêm, vào những phương-tiện Như-Lai, quán những
pháp-hải Như-Lai, vào những trí-huệ-hải, ngồi những tòa
trang-nghiêm.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ta quán-sát chúng-hội đạo-tràng nầy, biết
Phật thần-lực vô-lượng vô-biên sanh lòng rất hoan-hỉ.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta quán Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai, niệm niệm xuất
hiện bất-tư-nghì sắc-thân thanh-tịnh. Thấy như vậy rồi
lòng ta rất vui mừng.
Lại
thấy đức Như-Lai trong mỗi niệm phóng đại-quang-minh sung-mãn
pháp-giới. Thấy như vậy rồi, lòng ta rất vui mừng.
Lại
thấy đức Như-Lai, mỗi lỗ lông, niệm niệm xuất hiện vô-lượng
phật-sát vi-trần-số quang-minh-hải. Mỗi quang-minh có vô-lượng
phật-sát vi-trần-số quang-minh làm quyến thuộc, mỗi mỗi
châu biến tất cả pháp giới, tiêu-diệt tất cả chúng-sanh
khổ. Thấy như vậy rồi, lòng ta rất vui mừng.
Lại
quán Như-Lai, đảnh đầu và chặng mày, niệm niệm xuất hiện
phật-sát vi-trần-số mây bửu-diệm-sơn sung mãn tất cả
pháp-giới mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.
Lại
quán Như-Lai, mỗi mỗi lỗ lông, niệm niệm xuất sanh phật-sát
vi-trần số mây hương-quang-minh, sung mãn tất cả cõi Phật
mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.
Lại
quán Như-Lai mỗi mỗi tướng, niệm niệm phát ra phật-sát
vi-trần-số mây như-lai-thân đủ tướng trang-nghiêm, đến
khắp tất cả thế-giới mười phương. Thấy như vậy rồi,
ta rất vui mừng.
Lại
quán Như-Lai mỗi mỗi lỗ lông trong niệm niệm xuất sanh phật-sát
vi-trần-số mây phật-biến-hóa, thị-hiện đức Như-Lai từ
sơ-phát-tâm, tu ba-la-mật, đủ đạo trang-nghiêm nhập bồ-tát-địa.
Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.
Lại
quán Như-Lai mỗi mỗi lỗ lông niệm niệm xuất hiện bất-khả-thuyết-bất-khả-thuyết
phật-sát vi-trần-số mây Thiên-Vương thân và tự-tại thần-biến
đầy khắp tất cả thế-giới mười phương, người đáng
do thân Thiên-Vương mà đắc độ thời hiện ra trước họ
thuyết-pháp cho họ. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.
Những
thân-vân: Long-Vương, Dạ-Xoa-Vương, Càn-Thát-Bà Vương, A-Tu-La
Vương, Ca-Lâu-La Vương, Khẩn-Na-La Vương, Ma-hầu-La-Già Vương,
Nhơn-Vương, Phạm-Vương, đều trong mỗi lỗ lông của Như-Lai
niệm niệm xuất hiện, thuyết pháp như thân-vân Thiên-Vương.
Thấy như vậy rồi, ta rất hoan-hỉ, rất tin mến, lượng
bằng pháp-giới nhất-thiết-trí, chỗ xưa chưa được mà
nay mới được, chỗ xưa chưa chứng mà nay mới chứng, chỗ
xưa chưa nhập mà nay mới nhập, chỗ xưa chưa mãn mà nay mới
mãn, chỗ xưa chưa thấy mà nay mới thấy, chỗ xưa chưa nghe
mà nay mới nghe.
Tại
sao vậy ?
Bởi
có thể biết rõ tướng pháp-giới. Vì biết tất cả pháp
chỉ một tướng. Vì có thể bình-đẳng nhập đạo tam-thế.
Vì có thể nói tất cả vô-biên pháp.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta nhập bồ-tát niệm niệm xuất sanh quảng-đại-hỉ
trang-nghiêm giải-thoát quang-minh-hải nầy.
Giải-thoát
nầy vô-biên, vì vào khắp tất cả pháp-giới môn.
Giải-thoát
nầy vô-tận, vì khắp pháp tâm nhất-thiết-trí-tánh.
Giải-thoát
nầy vô-tế, vì vào trong tâm tất cả chúng-sanh không giới
hạn.
Giải-thoát
nầy thậm-thâm, vì là cảnh sở-tri của trí huệ tịch-tịnh.
Giải-thoát
nầy quảng đại, vì châu biến tất cả Như-Lai cảnh.
Giải-thoát
nầy vô-hoại, vì là cảnh sở-tri của Bồ-Tát trí-nhãn.
Giải-thoát
nầy không đáy, vì tận nguồn đáy nơi pháp-giới.
Giải-thoát
nầy chính là phổ-môn, vì trong một sự thấy khắp tất cả
thần-biến.
Giải-thoát
nầy trọn chẳng thể lấy, vì tất cả pháp-thân bình-đẳng
không hai.
Giải-thoát
nầy trọn không có sanh, vì rõ biết được pháp như huyễn.
Giải-thoát
nầy như ảnh tượng, vì nhất-thiết-trí nguyện-quang sanh
ra.
Giải-thoát
nầy dường như biến hóa, vì hóa sanh những thắng-hạnh bồ-tát.
Giải-thoát
nầy dường như đại-địa vì là chỗ sở-y của tất cả
chúng sanh.
Giải-thoát
nầy dường như đại-thủy, vì có thể dùng đại-bi nhuận
tất cả.
Giải-thoát
nầy dường như đại-hỏa, vì khô cạn nước tham ái của
tất cả chúng-sanh.
Giải-thoát
nầy dường như đại-phong, vì làm cho chúng-sanh mau đến nhất-thiết-trí.
Giải-thoát
nầy dường như đại-hải, vì những công-đức trang- nghiêm
tất cả chúng-sanh.
Giải-thoát
nầy như núi Tu-Di, vì xuất hiện biển pháp nhất-thiết-trí.
Giải-thoát
nầy như thành quách lớn, vì tất cả pháp được trang-nghiêm.
Giải-thoát
nầy như hư không, vì dung khắp thần-lực của tất cả Phật
tam thế.
Giải-thoát
nầy như mây lớn, vì mưa pháp-vũ cho khắp chúng-sanh.
Giải-thoát
nầy như mặt nhật, vì phá được tối ngu-si của chúng-sanh.
Giải-thoát
nầy như mặt trăng tròn, vì mãn túc biển phước-đức quảng
đại.
Giải-thoát
nầy dường chơn-như, vì đều có thể cùng khắp tất cả
chỗ.
Giải-thoát
nầy như bóng của mình, vì do thiện-nghiệp của mình hóa
xuất ra.
Giải-thoát
nầy như tiếng vang, vì tùy nghi mà thuyết pháp.
Giải-thoát
nầy như ãnh tượng, vì tùy tâm chúng-sanh mà chiếu hiện.
Giải-thoát
nầy như đại-thọ-vương vì nở xòe tất cả hoa thần-thông.
Giải-thoát
nầy như kim-cang, vì bổn lai bất-khả-hoại.
Giải-thoát
nầy như châu ma-ni, vì xuất sanh vô-lượng sức tự-tại.
Giải-thoát
nầy như ly-cấu-tạng ma-ni-vương, vì thị-hiện tất cả tam-thế
Như-Lai thần-lực.
Giải-thoát
nầy như hỉ-tràng ma-ni-bửu, vì có thể bình-đẳng phát ra
tiếng phát-luân của tất cả chư phật.
Nầy
thiện-nam-tử ! Nay ta vì ngươi mà nói những ví-dụ nầy.
Ngươi nên tư-duy tùy thuận ngộ nhập.
Thiện-Tài
thưa:
Bạch
Đại-Thánh ! Tu hành thế nào để được môn giải thoát nầy.
Dạ-Thần
nói:
Nầy
thiện-nam-tử ! Bồ-Tát tu hành mười đại-pháp-tạng được
giải thoát nầy:
Một
là tu bố-thí quảng-đại-pháp-tạng, tùy tâm chúng-sanh đều
khiến đầy đủ.
Hai
là tu tịnh-giới quảng-đại pháp-tạng vào khắp tất cả
biển phật công-đức.
Ba
là tu kham-nhẫn quảng đại pháp-tạng, có thể khắp tư-duy
tất cả pháp-tánh.
Bốn
là tu tinh-tấn quảng-đại pháp-tạng, vì xu hướng nhất-thiết-trí
hằng chẳng thối-chuyển.
Năm
là tu thiền-định quảng-đại pháp-tạng, vì có thể diệt
trừ tất cả chúng-sanh nhiệt-não.
Sáu
là tu bát-nhã quảng-đại pháp-tạng, vì có thể biết rõ
khắp tất cả pháp-hải.
Bảy
là tu phương-tiện quảng-đại pháp-tạng, có thể thành-thục
khắp những chúng-sanh-hải.
Tám
là tu những nguyện quảng-đại pháp-tạng, vì tận vị-lai
kiếp tu bồ-tát-hạnh khắp tất cả cõi phật, tất cả chúng-sanh.
Chín
là tu những lực quảng đại pháp-tạng, vì niệm niệm hiện
thành Đẳng-Chánh-Giác nơi tất cả pháp-giới, nơi tất cả
quốc-độ thường chẳng thôi dứt.
Mười
là tu tịnh-trí quảng-đại pháp-tạng, được như-lai-tri biết
khắp tất cả pháp tam-thế không có chướng ngại.
Nếu
chư Bồ-Tát an-trụ mười pháp-tạng nầy thời có thể chứng
được giải-thoát như vậy.
Thiện-Tài
thưa :
Đại-Thánh
phát tâm vô-thượng bồ-đề đã bao lâu ?
Dạ-Thần
nói :
Nầy
thiện-nam-tử ! Phía đông của Hoa-Tạng-Trang-Nghiêm-Thế-Giới-Hải
nầy, qua khỏi mười thế-giới-hải, có thế-giới-hải tên
là Nhất-Thiết-Tịnh-Quang-Bửu. Trong thế-giới-hải nầy có
thế-giới-chủng tên là Nhất-Thiết-Như-Lai-Nguyện-Quang-Minh-Ấm,
trong đó có thế-giới tên là Thanh-tịnh-Quang-Kim-Trang-Nghiêm,
thể chất bằng hương-kim-cang ma-ni-vương, hình như lâu các.
Diệu-bửu-vân làm biên-tế, ở trong biển nhất-thiết-bửu-anh-lạc.
Mây diệu-cung-điện che trên. Tịnh-uế lẫn lộn.
Trong
thế-giới đó, thuở xưa có kiếp tên là Phổ-Quang-Tràng.
Nước tên là Phổ Mãn-Diệu-Tạng. Đạo-tràng tên là Nhứt-Thiết-Bửu-Tạng-Diệu
Nguyệt-Quang-Minh. Có Phật tên là Bất-Thối-Chuyển-Pháp-Giới-Ấm,
thành Đẳng-Chánh-Giác nơi đạo tràng này.
Thuở
đó ta làm Bồ-đề Thọ-Thần tên là Cụ-Túc-Phước-Đức-Đăng-Quang-Minh-Tràng.
Ta thủ hộ đạo tràng ấy.
Ta
thấy đức Phật Pháp-Giới-Ấm thành Đẳng-Chánh-Giác thị-hiện
thần lực, ta phát tâm vô-thượng bồ-đề. Liền lúc đó
ta được tam-muội tên là Phổ-chiếu-như-lai công-đức-hải.
Kế
đó, trong đạo-tràng ấy có Như-Lai xuất thế hiệu là Pháp-Thọ-Oai
Đức-Sơn.
Bây
giờ ta mạng chung sanh trở lại làm đạo-tràng Chủ-Dạ-Thần,
tên là Thù-Thắng-Phước-Trí-Quang.
Ta
thấy đức Oai-Đức-Sơn Như-Lai hiện đại thần-thông chuyển
chánh pháp-luân, liền được tam-muội tên là Phổ-chiếu-nhất-thiết-ly-tham-cảnh-giới.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Nhứt-Thiết-Pháp-Hải-Ấm-Thanh-Vương.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là sanh-trưởng-nhất-thiết-thiện-pháp-địa.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Bửu-Quang-Minh-Đăng-Tràng-Vương.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là Phổ-Hiện-Thần-Thông-Quang-Minh-Vân.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Công-Đức-Tu-Di-Quang.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là Phổ-Chiếu-Chư-Phật-Hải.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Pháp-Vân-Ấm-Thanh-Vương.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là Nhất-Thiết-Pháp-Hải-Đăng.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Trí-Đăng-Chiếu-Diệu-Vương.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là Diệt-Nhất-Thiết-Chúng-Sanh-Khổ-Thanh-Tịnh-Quang-Minh-Đăng.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Pháp-Dũng-Diệu-Đức-Tràng.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là Tam-Thế Như-Lai-Quang-Minh-Tạng.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Sư-Tử-Dũng-Mãnh-Pháp-Trí-Đăng.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là nhất thiết-thế-gian-vô-chướng-ngại-trí-huệ-luân.
Kế
đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Trí-Lực-Sơn-Vương.
Bấy
giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường.
Ta liền được tam-muội tên là phổ-chiếu-chúng-sanh-chư-căn-hạnh.
Nầy
thiện-nam-tử ! Trong thế-giới Thanh-Tịnh-Quang-Kim-Trang-nghiêm,
thuở kiếp Phổ-Quang-Minh-Tràng, có phật-sát vi-trần số Như-Lai
xuất thế như vậy.
Trong
thời-gian đó, ta hoặc làm Thiên-Vương, Long-Vương, hoặc làm
Dạ-Xoa-Vương, Càn-Thát-Bà-Vương, A-Tu-La-Vương, Ca-Lâu-La-Vương,
Khẩn-Na-La-Vương, Ma-Hầu-La-Già-Vương, hoặc làm Nhân-Vương,
Phạm-Vương, hoặc làm Thiên-Thân, Nhân-Thân, làm nam-tử, nữ-nhân,
làm đồng-nam, đồng-nữ.
Nơi
tất cả thân, ta đều kính thờ cúng-dường tất cả Như-Lai,
nghe Phật thuyết-pháp.
Khi
mạng-chung, ta sanh trở lại trong thế-giới đó, trải qua phật-sát
vi-trần-số kiếp tu bồ-tát-hạnh.
Sau
đó, ta mạng-chung sanh nơi Ta-Bà thế-giới trong Hoa-Tạng-Trang-Nghiêm-Thế-Giới-Hải
nầy, gặp và cúng-dường đức Câu-Lưu-Tôn-Đà Như-Lai. Ta
được tam-muội tên là ly-nhất-thiết-trần-cấu-quang-minh.
Kế
đó gặp đức Câu-Na-Hàm-Mâu-Ni Như-Lai, ta kính thờ cúng-dường,
được tam-muội tên là Phổ-Hiện-Nhất-Thiết-Chư-Sát-Hải.
Kế
đó gặp đức Ca-Diếp Như-Lai, ta kính thờ cúng-dường, được
tam-muội tên là Diễn-Nhất-Thiết-chúng-Sanh-Ngôn-Ấm-Hải.
Kế
đó gặp đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như Lai thành Đẳng-Chánh-Giác
nơi đạo-tràng nầy niệm niệm thị-hiện đại-thần-thông-lực.
Do đó ta được môn giải-thoát niệm-niệm-xuất-sanh-quảng-đại-hỉ-trang-nghiêm.
Được
giải thoát nầy rồi, ta có thể nhập mười bất-khả-thuyết
bất-khả-thuyết phật-sát vi-trần-số pháp-giới an-lập hải.
Ta
thấy trong tất cả pháp-giới an lập-hải, bao nhiêu vi-trần
của tất cả phật-sát. Trong mỗi vi-trần có mười bất-khả-thuyết
bất khả-thuyết phật sát vi-trần-số phật-độ. Mỗi phật-độ
đều có Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai ngồi đạo-tràng, trong mỗi
niệm thành Đẳng-Chánh-Giác hiện đại-thần-biến. Những
thần-biến của Như-Lai hiện đều khắp pháp-giới-hải.
Ta
cũng thấy thân mình ở tại chỗ của tất cả Như-Lai, cũng
nghe Phật nói diệu-pháp.
Ta
cũng thấy tất cả chư Phật, nơi mỗi lỗ lông xuất hiện,
thần-thông biến hóa khắp tất cả pháp-giới-hải, khắp
tất cả thế-giới hải, khắp tất cả thế-giới chủng,
trong tất cả thế giới tùy tâm chúng-sanh mà chuyển chánh-pháp-luân.
Nhơn
đó ta được sức tốc-tật đà-la-ni, thọ trì tư-duy tất
cả văn nghĩa. Dùng trí minh-liễu vào khắp tất cả pháp-tạng
thanh-tịnh. Dùng trí tự-tại dạo khắp tất cả thậm thâm
pháp-hải. Dùng trí châu-biến biết khắp những nghĩa quảng-đại
trong tam thế. Dùng trí bình-đẳng đạt khắp pháp vô-sai-biệt
của chư Phật.
Ta
hiểu rõ tất cả pháp-môn như vậy. Trong mỗi mỗi pháp-môn,
hiểu rõ tất cả tu-đa-la-vân. Trong mỗi mỗi tu-đa-la-vân,
ta hiểu rõ tất cả pháp-hải. Trong mỗi mỗi pháp-hải, ta
hiểu rõ tất cả pháp-phẩm. Trong mỗi mỗi pháp-phẩm, ta
hiểu rõ tất cả pháp-vân. Trong mỗi mỗi pháp-vân, ta hiểu
rõ tất cả pháp-lưu. Trong mỗi mỗi pháp-lưu xuất sanh tất
cả đại-hỉ-hải. Mỗi đại-hỉ-hải xuất sanh tất cả
địa. Mỗi địa xuất sanh tất cả tam-muội-hải. Mỗi tam-muội-hải
được tất cả kiến-phật-hải. Mỗi kiến-phật-hải được
tất cả trí-quang-hải. Mỗi trí-quang-hải chiếu khắp tam-thế,
vào khắp mười phương, biết những hạnh-hải thuở xưa của
vô-lượng Như-Lai, biết những bổn-sự hải của vô-lượng
Như-Lai, biết năng-xả nan-thí-hải của vô-lượng Như-Lai,
biết thanh-tịnh giới-luân-hải của vô-lượng Như-Lai, biết
thanh-tịnh kham-nhẫn-hải của vô-lượng Như-Lai, biết quảng-đại-tinh-tấn
hải của vô-lượng Như-Lai, biết thậm-thâm thiền-định
hải của vô-lượng Như-Lai, biết bát-nhã ba-la-mật hải của
vô-lượng Như-Lai, biết phương-tiện ba-la-mật hải của vô-lượng
Như-Lai, biết nguyện ba-la-mật hải của vô lượng Như-Lai,
biết lực ba-la-mật hải của vô-lượng Như-Lai, biết trí
ba-la-mật hải của vô-lượng Như-Lai, biết vô-lượng Như-Lai
thuở xưa siêu bồ-tát-địa, trụ bồ-tát-địa, hiện thần-thông
lực trong vô-lượng kiếp hải.
Cũng
biết vô-lượng Như-Lai thuở xưa nhập bồ-tát-địa, tu bồ-tát-địa,
trụ bồ-tát-địa, quán bồ-tát-địa.
Biết
vô-lượng Như-Lai, thuở xưa, lúc làm Bồ-Tát thường thấy
chư Phật-hải, kiếp-hải đồng-trụ.
Biết
vô-lượng Như-Lai, thuở xưa, lúc làm Bồ-Tát, dùng vô-lượng
thân sanh khắp sát-hải.
Biết
vô-lượng Như-Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-Tát, cùng khắp pháp-giới
tu hạnh quảng-đại.
Biết
vô-lượng Như-Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-Tát, thị-hiện những
phương-tiện-môn điều phục thành-thục tất cả chúng-sanh.
Biết
vô-lượng Như-Lai phóng đại quang-minh chiếu khắp tất cả
sát-hải mười phương.
Biết
vô-lượng Như-Lai hiện đại-thần-lực ra trước tất cả
chúng-sanh.
Biết
trí quảng-đại của vô-lượng Như-Lai.
Biết
vô-lượng Như-Lai chuyển chánh-pháp-luân.
Biết
vô-lượng Như-Lai thị-hiện tướng-hải.
Biết
vô-lượng Như-Lai thị-hiện thân hải.
Biết
vô-lượng Như-Lai quảng-đại lực hải.
Tất
cả chư Như-Lai đó từ sơ phát tâm nhẩn đến pháp-diệt,
trong mỗi niệm ta đều thấy biết.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ngươi hỏi ta phát tâm đã bao lâu ?
Nầy
thiện-nam-tử ! Thuở xưa quá hai phật sát vi-trần-số kiếp
như đã nói ở trên, trong thế-giới thanh-tịnh-Quang-Kim-Trang-Nghiêm,
ta làm Bồ-Đề-Thọ thần nghe đức Bất-Thối-Chuyển-Pháp-Giới
Ấm Như-Lai thuyết pháp, ta phát tâm vô-thượng bồ-đề, tu
bồ-tát hạnh suốt hai phật-sát vi-trần-số kiếp sau đó
mới sanh trong Hiền-Kiếp nơi Thế Giới Ta-Bà nầy, từ Câu-Lưu-Tôn-Đà
Phật, đến Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, và tất cả Phật vị-lai
trong kiếp nầy, ta đều thân-cận cúng dường như vậy.
Trong
tất cả thế-giới tất cả kiếp vị-lai đây có tất cả
chư Phật, ta cũng đều thân-cận cúng-dường như vậy.
Nầy
thiện-nam-tử ! Thế-giới Thanh-tịnh-Quang-Kim-Trang-Nghiêm hiện
nay vẫn còn, chư Phật nối tiếp xuất hiện không dứt. Ngươi
nên nhứt tâm tu môn bồ-tát-đại-dũng-mãnh nầy.
Bấy
giờ Chủ-Dạ-Thần Tịch-Tịnh-Ấm-Hải muốn tuyên lại nghĩa
giải-thoát nầy, vì Thiện-Tài Đồng-Tử mà nói kệ rằng
:
Thiện-Tài
nghe ta nói
Môn
thanh-tịnh giải thoát
Nghe
rồi sanh vui mừng
Siêng
tu cho rốt ráo
Xưa,
vi-trần kiếp hải.
Ta
phát tính nguyện lớn
Thanh-tịnh
như hư-không
Thường
quán nhất-thiết-trí
Ta
nơi tam thế Phật
Đều
có lòng tin mến
Cùng
chúng-hội đạo-tràng
Đều
nguyện thường thân-cận.
Xưa
tôi từng thấy Phật
Vì
chúng-sanh cúng-dường
Được
nghe pháp thanh-tịnh
Tâm
mình rất hoan-hỉ
Thường
tôn trọng phụ mẫu
Cung-kính
mà cúng-dường
Không
thôi trễ như vậy
Vào
môn giải-thoát nầy.
Người
già bệnh nghèo cùng
Căn
thân chẳng toàn vẹn
Đều
thương giúp tất cả
Cho
họ được an-ổn.
Nước,
lửa và vua, giặc
Trong
biển có khủng bố
Xưa
ta tu các hạnh
Vì
cứu chúng-sanh đó.
Phiền-não
hằng hẩy hừng
Nghiệp-chướng
luôn ràng buộc
Sa
vào các đường hiểm
Ta
cứu chúng-sanh đó.
Tất
cả các ác-thú
Vô-lượng
sự khốn khổ
Sanh
già bệnh chết thảy
Ta
sẽ đều trừ diệt.
Nguyện
tận kiếp vị-lai
Vì
khắp các chúng-sanh
Diệt
trừ khổ sanh tử
Được
Phật rốt ráo vui.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta chỉ biết môn giải-thoát niệm-niệm-sanh-quảng-đại-trí-trang-nghiêm
nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát thâm-nhập tất cả pháp-giới-hải, đều
biết tất cả những kiếp-số, thấy khắp tất cả cỏi thành
hoại. Ta thế nào biết được nói được công-đức-hạnh
đó.
Nầy
thiện-nam-tử ! Trong hội bồ-đề-tràng của đức Như-Lai
đây có Chủ-Dạ-Thần tên là Thủ-Hộ-Nhất-Thiết-Thành-Tăng-Trưởng-Oai-Lực.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát hạnh, tu bồ-tát-đạo.
Thiện-Tài
nhứt-tâm quan-sát thân của Chủ-Dạ-Thần-Tịch-Tịnh-Ấm-Hải
rồi nói kệ rằng :
Tôi
do Thiện-Hữu dạy
Đến
chỗ Chủ-Dạ-Thần
Thấy
Thần ngồi bửu-tòa
Thân
lượng lớn vô-biên.
Những
người chấp sắc-tướng
Chấp
các pháp là có
Kẻ
trí kém hiểu cạn
Chẳng
biết cảnh-giới Thần.
Trời
và người thế gian
Quan-sát
vô-lượng kiếp
Cũng
chẳng tính lường được
Vì
sắc-tướng vô-biên
Xa
lìa nơi năm uẩn
Cũng
chẳng trụ nơi xứ
Dứt
hẳn thế-gian nghi
Hiển
hiện sức tự tại
Chẳng
chấp pháp nội ngoại
Không
động không chướng ngại
Mắt
trí-huệ thanh-tịnh
Thấy
Phật thần-thông-lực
Thân
là chánh-pháp-tạng
Tâm
là trí vô-ngại
Đã
được trí quang chiếu
Lại
chiếu các quần-sanh
Tâm
nhóm vô-biên nghiệp
Trang-nghiêm
các thế gian
Biết
thế-gian là tâm
Hiện
thân khắp chúng-sanh
Biết
thế-gian như mộng
Tất
cả phật như bóng
Các
pháp đều như vang
Khiến
người không chấp trước
Vì
tam-thế chúng-sanh
Niệm
niệm thị-hiện thân
Mà
tâm vô-sở trụ
Mười
phương khắp nói pháp
Vô-biên
những sát-hải
Phật-hải
chúng-sanh-hải
Đều
ở trong một trần
Là
giải-thoát của Thần.
Nói
kệ xong, Thiện-Tài đảnh lễ Dạ-Thần hữu-nhiễu vô-số
vòng ân-cần chiêm-ngưỡng từ tạ mà đi.
Thiện-Tài
tùy thuận lời dạy của Chủ-Dạ-Thần Tịch-Tịnh-Ấm-Hải,
quán-sát pháp-môn của Dạ-Thần vừa nói mỗi câu mỗi chữ
đều không quên sót.
Nơi
vô-lượng thâm-tâm, vô-lượng pháp-tánh, tất cả phương-tiện,
thần-thông trí-huệ, nghĩ nhớ suy chọn tiếp nối không dứt,
tâm niệm quảng đại chứng nhận an-trụ.
Thiện-Tài
đi đến chỗ Dạ-Thần Thủ-Hộ Nhất-Thiết-Thành.
Thấy
Dạ-Thần nầy ngồi trên tòa sư-tử nhất-thiết-bửu-quang-minh-ma-ni-vương,
vô-số Dạ-Thần vây quanh, hiện thân nhứt-thiết-chúng-sanh-sắc-tướng,
hiện thân đối khắp tất cả chúng-sanh, hiện thân chẳng
nhiễm tất cả thế-gian, hiện thân số bằng tất cả chúng-sanh,
hiện thân siêu quá tất cả thế-gian, hiện thân thành thục
tất cả chúng-sanh, hiện thân mau đến tất cả mười phương,
hiện thân nhiếp khắp tất cả mười phương, hiện thân rốt
ráo như-lai thể tánh, hiện thân rốt ráo điều-phục chúng-sanh.
Thiện-Tài
xem thấy hớn hở vui mừng đảnh lễ nơi chân Dạ-thần, hữu-nhiễu
vô-lượng vòng, chắp tay cung kính mà thưa rằng :
Bạch
đức thánh ! Tôi đã phát tâm vô-thượng-bồ-đề, mà chưa
biết Bồ-Tát lúc tu bồ-tát-hạnh thế nào lợi ích chúng-sanh,
thế nào dùng pháp nhiếp vô-thượng để nhiếp chúng-sanh,
thế nào thuận theo lời dạy của Phật, thế nào gần ngôi
Pháp-Vương ?
Ngưỡng
mong từ mẫn tuyên nói cho.
Dạ-Thần
nói :
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ngươi vì cứu hộ tất cả chúng-sanh, vì nghiêm-tịnh
tất cả phật-độ, vì cúng-dường tất cả Như-Lai, vì muốn
trụ tất cả kiếp để cứu chúng-sanh, vì muốn giữ-gìn
tất cả phật-chủng, vì muốn vào khắp mười phương để
tu những công-hạnh, vì muốn vào khắp tất cả pháp-môn-hải,
vì muốn dùng tâm bình-đẳng khắp tất cả, vì muốn thọ
khắp tất cả phật-pháp, vì muốn tùy khắp sở-thích của
tất cả chúng-sanh mà mưa pháp-vũ, nên ngươi hỏi pháp-môn
của Bồ-Tát tu hành.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta được môn giải-thoát bồ-tát thậm thâm
tự-tại diệu-âm. Làm Đại-Pháp-Sư không còn chướng-ngại,
vì có thể khéo khai thị pháp-tạng của chư Phật. Đủ thệ
nguyện lớn, sức đại từ-bi, vì làm cho tất cả chúng-sanh
an trụ tâm bồ-đề. Có thể làm tất cả sự lợi cho chúng-sanh,
vì chứa nhóm thiện-căn không thôi nghỉ. Làm Điều-Ngự-Sư
cho tất cả chúng-sanh, vì khiến tất cả chúng-sanh an trụ
đạo nhất-thiết-trí. Làm pháp-nhật thanh-tịnh cho tất cả
thế-gian, vì chiếu khắp thế-gian khiến sanh căn lành. Tâm
bình-đẳng với tất cả thế gian, vì khắp làm cho chúng-sanh
tăng-trưởng pháp lành. Tâm thanh-tịnh nơi tất cả cảnh giới
vì trừ diệt tất cả nghiệp bất-thiện. Thệ nguyện lợi
ích tất cả chúng-sanh, vì thân hằng hiện khắp tất cả
quốc độ. Thị-hiện tất cả bổn-sự nhơn duyên, vì làm
cho các chúng-sanh an-trụ hạnh lành. Hằng thờ tất cả thiện-tri-thức,
vì khiến chúng-sanh an-trụ phật pháp.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta dùng pháp-thí ban bố cho chúng-sanh, khiến
họ sanh bạch-pháp cầu nhất-thiết-trí. Tâm được kiên cố
như kim-cang na-la-diên tạng, hay quán-sát phật-lực, ma-lực,
thường được gần-gũi thiện-tri-thức, dẹp phá tất cả
núi hoặc nghiệp chướng, họp pháp trợ-đạo nhất-thiết-trí,
tâm hằng chẳng bỏ bậc nhất-thiết-trí.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta dùng tịnh-pháp quang-minh như vậy để lợi
ích tất cả chúng-sanh. Lúc nhóm pháp trợ-đạo thiện-căn,
khởi mười thứ quán-sát pháp-giới :
Một
là ta biết pháp-giới vô-lượng, vì chứng được trí quang-minh
quảng đại.
Hai
là ta biết pháp-giới vô-biên, vì thấy chỗ thấy biết của
tất cả Phật.
Ba
là ta biết pháp-giới vô-hạn, vì vào khắp tất cả phật-độ
cung kính cúng-dường chư Như-Lai.
Bốn
là ta biết pháp-giới không mé, vì thị-hiện tu hành bồ-tát
hạnh khắp trong tất cả thế-giới-hải.
Năm
là ta biết pháp-giới không dứt, vì nhập nơi trí bất-đoạn
của Như-Lai.
Sáu
là ta biết pháp-giới một tánh vì Như-Lai một âm-thanh mà
tất cả chúng-sanh đều rõ biết.
Bảy
là ta biết pháp-giới tánh-tịnh, vì rõ Như-Lai nguyện độ
khắp tất cả chúng-sanh.
Tám
là ta biết pháp-giới khắp chúng-sanh, vì diệu-hạnh Phổ-Hiền
đều cùng khắp.
Chín
là ta biết pháp-giới một trang-nghiêm, vì diệu hạnh Phổ-Hiền
khéo trang-nghiêm.
Mười
là ta biết pháp-giới chẳng thể hư hoại, vì thiện-căn nhất-thiết-trí
sung-mãn pháp-giới chẳng thể hoại.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ta khởi mười thứ quán-sát pháp-giới trên
đây để nhóm họp những thiện-căn, hoàn tất pháp trợ-đạo,
biết rõ oai-đức quảng-đại của chư Phật, thâm-nhập cảnh-giới
nan tư của Như-Lai.
Lại
nầy Thiện-nam-tử ! Ta chánh niệm tư-duy như vậy, được
Như-Lai mười môn đại-oai-đức đà-la-ni-luân.
Những
là : đà-la-ni-luân vào khắp tất cả pháp.
Đà-la-ni-luân
trì khắp tất cả pháp.
Đà-la-ni-luân
nói khắp tất cả pháp.
Đà-la-ni-luân
niệm khắp tất cả Phật mười phương.
Đà-la-ni-luân
nói khắp danh hiệu của tất cả Phật.
Đà-la-ni-luân
vào khắp nguyện-hải của tam thế Phật.
Đà-la-ni-luân
vào khắp tất cả những thừa-hải.
Đà-la-ni-luân
nhập khắp tất cả chúng-sanh nghiệp-hải.
Đà-la-ni-luân
mau chuyển tất cả nghiệp.
Đà-la-ni-luân
mau sanh nhất-thiết-trí.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Mười đà-la-ni-luân này dùng mười ngàn đà-la-ni-luân
làm quyến-thuộc, hằng vì chúng-sanh diễn nói diệu-pháp.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Ta vì chúng-sanh hoặc nói văn-huệ-pháp, tư-huệ-pháp,
tu-huệ-pháp. Hoặc nói một hữu-pháp, hoặc nói tất cả hữu-pháp.
Hoặc vì họ mà nói danh-hải-pháp của một Như-Lai. Hoặc
nói danh-hải-pháp của tất cả Như-Lai. Hoặc vì họ mà nói
một thế-giới-hải-pháp. Hoặc nói tất cả thế-giới-hải-pháp.
Hoặc nói một Phật thọ ký-hải-pháp. Hoặc nói tất cả
Phật thọ-ký-hải-pháp. Hoặc nói chúng-hội đạo-tràng-hải-pháp
của một Như-Lai. Hoặc nói chúng hội đạo-tràng của tất
cả Như-Lai. Hoặc vì họ mà nói pháp-luân-hải-pháp của một
Như-Lai. Hoặc nói pháp-luân-hải-pháp của tất cả Như-Lai.
Hoặc nói tu-đa-la-pháp của một Như-Lai. Hoặc nói tu-đa-la-pháp
của tất cả Như-Lai. Hoặc nói tập-hội-pháp của một Như-Lai.
Hoặc nói tập-hội-pháp của tất cả Như-Lai. Hoặc nói tâm-hải-pháp
của một trí. Hoặc nói tâm-hải-pháp của nhất-thiết-trí.
Hoặc nói pháp xuất-ly của một thừa. Hoặc nói xuất-ly-pháp
của tất cả thừa. Ta vì chúng-sanh mà nói bất-khả-thuyết
pháp-môn như vậy.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta nhập Như-Lai vô-sai-biệt pháp-giới-môn-hải,
nói pháp vô-thượng nhiếp khắp chúng-sanh, tận vị-lai kiếp
trụ hạnh phổ-hiền.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta thành-tựu môn giải-thoát thậm-thâm tự-tại
diệu-âm nầy, ở trong mỗi niệm tăng trưởng tất cả những
môn giải-thoát, niệm niệm sung mãn tất cả pháp-giới.
Thiện-Tài
thưa :
Lạ
lùng thay, bạch đức thánh ! Môn giải-thoát nầy hi-hữu như
vậy Đức thánh chứng được đã bao lâu ?
Dạ-Thần
nói :
Nầy
thiện-nam-tử ! Thuở xưa, quá thế-giới-chuyển vi-trần số
kiếp có kiếp tên là Ly-Cấu-Quang-Minh, có thế-giới tên là
Công-Đức-Vân, thể chất bằng hiện-nhất-thiết-chúng-sanh
nghiệp-ma-ni-vương-hải, hình như liên-hoa, trụ trong tứ-thiên-hạ
vi-trần-số hương-ma-ni tu-di-sơn-võng, trang-nghiêm với xuất-nhất-thiết-như-lai
bổn-nguyện-âm liên-hoa, tu-di-sơn vi-trần-số liên-hoa làm
quyến-thuộc, xen lẫn với tu-di-sơn vi-trần-số hương-ma-ni.
Thế-giới đó có tu-di-sơn vi-trần tứ-thiên hạ. Mỗi tứ-thiên-hạ
có trăm ngàn ức na-do-tha bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết
thành.
Trong
đó có một tứ-thiên-hạ tên là Diệu-Tràng, có Vương-Đô
tên là Phổ-Bửu-Hoa-Quang. Cách không xa có Bồ-Đề tràng tên
là Phổ-Hiển-Hiện-Pháp-Vương-Cung-Điện. Tu-di-sơn vi-trần-số
Như-Lai xuất hiện trong đó. Tối-sơ Phật hiệu là Pháp-Hải-Lôi-Ấm-Quang-Minh-Vương.
Lúc
đức Phật đó xuất thế có Chuyển-Luân-Vương tên là Thanh-Tịnh-Nhựt-Quang-Minh-Diện,
Thọ trì tất cả phát-hải-triền tu-đa-la của Phật.
Sau
khi đức Phật nhập niết-bàn, nhà vua xuất gia hộ-trì chánh-pháp.
Lúc
pháp sắp diệt có ngàn bộ dị-chúng thuyết-pháp ngàn thứ.
Gần
lúc mạt-kiếp nghiệp hoặc chướng nặng, các ác Tỳ-Kheo
nhiều sự đấu tranh, thích chấp cảnh-giới chẳng cầu công-đức.
Thích nói vương-luận, tặc-luận, nữ-luận, quốc-luận, hải-luận,
nhẫn đến tất cả thế-gian-luận.
Lúc
đó Vương Tỳ-Kheo bảo họ rằng : Lạ thay khổ thay, đức
Phật trong vô-lượng kiếp-hải chứa nhóm ngọn đuốc pháp
nầy sao các người lại cùng nhau hủy diệt.
Nói
xong, Vương Tỳ-Kheo bay lên hư-không cao bảy cây đa-la, thân
phóng ra vô-lượng những mây màu sáng, những lưới đại
quang-minh nhiều màu, làm cho vô-lượng chúng-sanh trừ nóng
phiền-não, làm cho vô-lượng chúng-sanh phát tâm bồ-đề.
Nhờ nhân duyên nầy nên giáo-pháp của Như-Lai được hưng
thạnh thêm sáu vạn năm ngàn năm.
Lúc
đó có Tỳ-Kheo-Ni tên là Pháp-Luân-Hóa-Quang, vốn là con gái
của Chuyển-Luân-Vương, trăm ngàn Tỳ-Kheo-Ni làm quyến thuộc,
nghe lời-nói của Phụ-vương và thấy thần-lực, liền phát
tâm bồ-đề không thối-chuyển, được tam-muội tên là nhất-thiết-phật-giáo-đăng,
lại được môn giải-thoát thậm-thâm tự-tại diệu-âm này,
thân tâm nhu-nhuyến, liền được thấy tất cả thần-lực
của đức Pháp-Hải-Lôi Ấm Quang-Minh Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử ! Chuyển-Luân-Vương Tỳ-Kheo xưa kia chính là
Phổ-Hiền Bồ-Tát, Vương-Nữ Tỳ-Kheo-Ni chính là ta.
Thuở
ấy ta thủ-hộ phật-pháp làm cho mười vạn Tỳ-Kheo-Ni được
chẳng thối-chuyển nơi vô-thượng bồ-đề, lại được hiện
thấy tất cả phật tam-muội, lại được tất cả phật pháp-luân
kim-cang quang-minh đà-la-ni, lại được bát-nhã ba-la-mật vào
khắp tất cả pháp-môn-hải.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Ly-Cấu-Pháp-Quang-Minh.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Luân-Quang-Minh-Kế.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Nhật-Công-Đức-Vân.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Hải-Diệu-Ấm-Vương.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Nhật-Thí-Huệ-Đăng.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Hoa-Tràng-Vân.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Diệm-Sơn-Tràng-Vương.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Thậm-Thâm Pháp-Công-Đức-Nguyệt.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Trí-Phổ-Quang-Tạng.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Khai-Thị-Phổ-Trí-Tạng.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Công-Đức-Tạng-Sơn-Vương.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Phổ-Môn-Tu-Di-Hiền.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Nhất-thiết-Pháp-Tinh-Tấn-Tràng.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Phát Bửu-Hoa-Công-Đức-Vân.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Tịch-Tịnh-Quang-Minh-Kế.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Pháp-Quang-Minh-Từ-Bi-Nguyệt.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Công-Đức-Diệm-Hải.
Kế
đó có Phật xuất thế hiệu là Trí-Nhựt-Phổ-Quang-Minh.
Kế
đó có chư Phật đây thứ đệ nối tiếp xuất thế: Phổ-Hiền-Viên-Mãn-Trí
Phật. Thần-Thông-Trí-Quang-Vương Phật. Phước-Đức-Hoa-Quang-Đăng
Phật. Trí-Sư-Tử-Tràng-Vương Phật. Nhật-Quang-Phổ-Chiếu-Vương
Phật. Tu-Di-Bửu-Trang-Nghiêm-Tướng Phật, Nhật-Quang-Phổ-Chiếu
Phật. Pháp-Vương-Công-Đức-Nguyệt Phật. Khai-Phu-Liên-Hoa-Diệu-Ấm-Vân
Phật. Nhựt-Quang-Minh-Tướng Phật. Phổ-Quang-Minh-Pháp-Ấm
Phật. Sư-Tử-Kim-Cang-Na-La-Diên-Vô-Úy Phật. Phổ-Trí-Dũng-Mãnh-Tràng
Phật. Phổ Khai-Pháp-Liên-Hoa-Thân Phật. Công-Đức-Diệu-Hoa-Hải
Phật. Đạo-Tràng-Công-Đức-Nguyệt Phật. Pháp-Cự-Xí-Nhiên-Nguyệt
Phật. Phổ-Quang-Minh-Kế Phật. Pháp-Tràng-Đăng Phật. Kim-Cang-Hải-Tràng-Vân
Phật. Danh-Xưng-Sơn-Công-Đức-Vân Phật. Chiên-Đàn-Diệu-Nguyệt
Phật. Phổ-Diệu-Quang-Minh-Hoa Phật. Chiếu-Nhất-Thiết-Chúng-Sanh-Quang-Minh-Vương
Phật. Công-Đức-Liên-Hoa-Tạng Phật. Hương-Diệm-Quang-Minh-Vương
Phật. Ba-Đầu-Ma-Hoa-Nhơn Phật. Chúng-Tướng-Sơn-Phổ-Quang-Minh
Phật. Phổ-Danh-Xưng-Tràng Phật. Tu-Di-Phổ-Môn-Quang Phật.
Công-Đức-Pháp-Thành-Quang Phật. Đại-Thọ-Sơn-Quang-Minh Phật.
Phổ-Đức-Quang-Minh-Tràng Phật. Công-Đức-Kiết-Tường-Tướng
Phật. Dũng-Mãnh-Pháp-Lực-Tràng Phật. Pháp-Luân-Quang-Minh-Ấm
Phật. Công-Đức-Sơn-Trí-Huệ-Quang Phật. Vô-Thượng-Diệu-Pháp-Nguyệt
Phật. Pháp-Liên-Hoa-Tịnh-Quang-Tràng Phật. Bửu-Liên-Hoa-Quang-Minh-Tạng
Phật. Quang-Diệm-Vân-Sơn-Đăng Phật. Phổ-Giác-Hoa Phật. Chủng-Chủng-Công-Đức-Diệm-Tu-Di-Tạng
Phật. Viên-Mãn-Quang-Sơn-Vương Phật. Phước-Đức-Vân-Trang-Nghiêm
Phật. Pháp-Sơn-Vân-Tràng Phật. Công-Đức-Sơn-Quang-Minh Phật.
Pháp-Nhựt-Vân-Đăng-Vương Phật. Pháp-Vân-Danh-Xưng-Vương
Phật. Pháp-Luân-Vân Phật. Khai-Ngộ-Bồ-Đề-Trí-Quang-Tràng
Phật. Phổ-Chiếu-Pháp-Luân-Nguyệt Phật. Bửu-Sơn-Oai-Đức-Hiền
Phật. Hiền-Đức-Quảng-Đại-Quang Phật. Phổ-Trí-Vân Phật.
Pháp-Lực-Công-Đức-Sơn Phật. Công-Đức-Hương-Diệm-Vương
Phật. Kim-Sắc Ma-Ni-Sơn-Diệu-Ấm-Thanh Phật. Đảnh-Kế-Xuất-Nhất-Thiết-Pháp-Quang-Minh-Vân
Phật. Pháp-Luân-Xí-Thạnh-Quang Phật. Vô-Thượng-Công-Đức-Sơn
Phật. Tinh-Tấn-Cự-Quang-Minh-Vân Phật. Tam-Muội-Ần-Quang-Đại-Quang-Minh-Quang
Phật. Bửu-Quang-Minh-Công-Đức-Vương Phật. Pháp-Cự-Bửu-Cái-Ấm
Phật. Phổ-Chiếu-Hư-Không-Giới-Vô-Úy-Pháp-Quang-Minh Phật.
Nguyệt-Tướng-Trang-Nghiêm-Tràng Phật. Quang-Minh-Diệm-Sơn-Vân
Phật. Chiếu-Vô-Chướng-Ngại-Pháp-Hư-Không Phật. Khai-Hiển-Trí-Quang
Thân Phật. Thế-Chủ-Đức-Quang-Minh-Ấm Phật. Nhứt-Thiết-Pháp-Tam-Muội-Quang-Minh-Ấm
Phật. Pháp-Ấm-Công-Đức-Tạng Phật. Xí-Nhiên-Diệm-Pháp-Hải-Vân
Phật. Phổ-Chiếu-Tam-Thế-Tướng-Đại-Quang-Minh Phật. Phổ-Chiếu-Pháp-Luân-Sơn
Phật. Pháp-Giới-Sư-Tử-Quang Phật. Tu-Di-Hoa-Quang-Minh Phật.
Nhứt-Thiết-Tam-Muội-Hải-Sư-Tử-Diệm Phật. Phổ-Trí-Quang-Minh-Đăng
Phật.
Có
tu-di-sơn vi-trần-số chư Phật Như-Lai như vậy thứ đệ tiếp
nối xuất thế.
Tối
hậu Phật hiệu là Pháp-Giới-Thành-Trí-Huệ-Đăng, cũng xuất
thế trong kiếp Ly-Cấu-Quang-Minh.
Với
tất cả chư Phật trên đây ta đều kính thờ thân-cận cúng-dường
nghe pháp thọ-trì và xuất-gia học đạo hộ-trì pháp-giáo,
nhập môn giải-thoát bồ-tát thậm-thâm tự-tại diệu-âm
nầy, dùng nhiều phương-tiện giáo-hóa thành-thục vô-lượng
chúng-sanh.
Từ
đó đến nay trải qua phật-sát vi-trần-số kiếp, có bao nhiêu
chư Phật xuất thế, ta đều kính thờ cúng-dường thọ-hành
giáo-pháp.
Nầy
thiện-nam-tử ! Từ đó đến nay, ta ở trong chúng-sanh vô-minh
tăm tối sanh tử mà riêng mình giác ngộ, làm cho chúng-sanh
thủ hộ tâm-thành, bỏ tam-giới-thành mà an-trụ nơi pháp-thành
nhất-thiết-trí vô-thượng.
Nầy
thiện-nam-tử ! Ta chỉ biết môn giải-thoát thậm-thâm tự-tại
diệu-âm nầy, làm cho các thế gian rời hí-luận-ngữ, chẳng
nói nhị-ngữ, thường chơn-thiệt-ngữ, hằng thanh-tịnh-ngữ.
Như
chư đại Bồ-tát có thể biết tự-tánh của tất cả ngữ
ngôn. Trong mỗi niệm tự-tại khai ngộ tất cả chúng-sanh.
Vào biển ngôn âm của tất cả chúng-sanh. Đều biết rõ được
tất cả ngôn từ. Thấy rõ tất cả pháp-môn. Đã được
tự-tại nơi phổ-nhiếp-nhất-thiết-pháp đà-la-ni, tùy chỗ
nghi của tâm chúng-sanh mà vì họ thuyết pháp, rốt ráo điều
phục tất cả chúng-sanh, có thể nhiếp thọ khắp tất cả
chúng-sanh, khéo tu những nghiệp vô-thượng của Bồ-Tát. Thâm
nhập những trí vi-tế của Bồ-Tát. Có thể khéo quán-sát
bồ-tát-tạng. Có thể tự-tại diễn thuyết những bồ-tát-pháp.
Tại
sao vậy ?
Vì
đã được thành-tựu nhất-thiết-pháp-luân-đà-la-ni. Ta đâu
biết được nói được công-đức-hạnh đó.
Nầy
thiện-nam-tử ! Trong phật-hội nầy có Chủ-Dạ-Thần tên
là Khai-Phu-Nhất-Thiện-Thọ-Hoa.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học nhất-thiết-trí, thế
nào an lập tất cả chúng-sanh trụ nhất-thiết-trí.
Thủ-Hộ-Nhất-Thiết-Thành
Chủ-Dạ-Thần muốn tuyên lại nghĩa nầy, vì Thiện-Tài mà
nói kệ rằng :
Bồ-Tát
giải-thoát sâu khó thấy
Hư-không
như bình-đẳng-tướng
Thấy
khắp trong vô-biên pháp-giới
Tất
cả tam thế Phật Như-Lai.
Xuất
sanh vô-lượng thắng công-đức
Chứng-nhập
nan-tư chơn pháp-tánh
Tăng
trưởng nhất-thiết-trí tự-tại
Khai
thông tam-thế đạo giải-thoát.
Quá
xưa sát chuyển vi-trần kiếp
Bấy
giờ có kiếp tên Tịnh-Quang,
Thế-giới
tên là Pháp-Diệm-Vân,
Có
thành hiệu là Bửu-Hoa-Quang.
Trong
đó chư Phật nối xuất thế
Số
đến vô-lượng tu-di-trần :
Tối
sơ Phật hiệu Pháp-Hải-Ấm.
Ở
trong kiếp nầy xuất hiện trước.
Trong
kiếp Tịnh-Quang tối-hậu Phật.
Hiệu
là Pháp-Giới-Diệm Đăng Vương.
Tất
cả chư Như-Lai trên đây
Ta
đều cúng-dường thính thọ pháp.
Ta
thấy Pháp-Hải Lôi-Ấm-Phật
Thân
Phật chói rực màu chơn kim
Các
tướng trang-nghiêm như bửu-sơn
Phát
tâm nguyện được thành phật quả.
Ta
tạm thấy thân Như-Lai kia
Liền
phát tâm bồ-đề quảng-đại
Thệ-nguyện
siêng cầu nhất-thiết-trí
Tánh
cùng pháp-giới hư-không đồng.
Do
đây thấy khắp tam thế Phật
Và
cùng tất cả chúng Bồ-Tát
Cũng
thấy quốc-vương và chúng-sanh
Duyên
đó nên khởi tâm đại-bi
Tùy
các chúng-sanh tâm sở-thích
Thị
hiện đủ loại vô-lượng thân
Cùng
khắp mười phương các quốc độ
Động
địa phóng quang ngộ hàm-thức.
Thấy
đệ-nhị Phật kính thân-cận
Cũng
thấy mười phương sát-hải Phật
Nhẫn
đến tối-hậu Phật ra đời
Tu-di-sơn
trần-số như vậy.
Trải
qua sát-chuyển vi-trần kiếp
Có
những Như-Lai Chiếu-Thế-Đăng
Ta
đều gần-gũi mà kính thờ
Cho
môn giải-thoát nầy thanh-tịnh.
Bấy
giờ Thiện-Tài Đồng-Tử được nhập môn giải-thoát bồ-tát
thậm-thâm tự-tại diệu-âm nên nhập vô biên tam-muội-hải,
nhập quảng-đại tổng-trì hải, được bồ-tát đại thần-thông,
được bồ-tát đại-biện-tài.
Thiện-Tài
rất hoan-hỉ, ngắm nhìn Thủ-Hộ-Nhất-Thiết-Thành Chủ-Dạ-Thần
rối nói kệ khen rằng :
Đã
đi biển diệu-huệ quảng-đại
Đã
qua vô biên biển tam hửu
Thân
trí-tạng trường thọ không khổ
Oai-đức
quang-minh ở chúng nầy.
Liễu
đạt pháp-tánh như hư-không
Vào
khắp tam thế đều vô-ngại
Niệm
niệm phan-duyên tất cả cảnh
Tâm
tâm dứt hẳn các phân-biệt.
Liễu
đạt chúng-sanh không tự-tánh
Nhưng
với chúng-sanh khởi đại-bi
Thâm-nhập
Như-Lai môn giải-thoát
Rộng
độ quần mê vô-lượng chúng.
Quán-sát
tư-duy tất cả pháp
Biết
rõ chứng nhập các pháp-tánh
Như
vậy tu hành Phật trí-huệ
Giáo
hóa chúng-sanh khiến giải-thoát,
Ngài
là Đạo-Sư của chúng-sanh
Khai
thị đạo trí-huệ của Phật
Khắp
vì pháp-giới các chúng-sanh
Nói
những hạnh thoát thế-gian khổ.
Ngài
đã trụ Như-Lai đại nguyện
Đã
thọ bồ-đề pháp quảng đại
Đã
tu tất cả biến-hành-lực
Đã
thấy mười phương Phật tự-tại,
Đức
thánh tâm tịnh như hư-không
Lìa
khắp tất cả những phiền-não
Biết
rõ tam thế vô-lượng cõi
Chư-Phật,
Bồ-tát và chúng-sanh.
Đức
Thánh một niệm đều biết rõ
Ngày,
đêm, tháng, năm vi-trần kiếp,
Cũng
biết tất cả chúng-sanh-loại
Nhiều
loại danh tướng đều sai-biệt.
Mười
phương chúng-sanh chỗ sanh tử
Có
Sắc, Vô-Sắc, Tưởng, Phi-Tưởng
Tùy
thuận thế-tục đều biết rõ
Dẫn
dắt cho vào đường bồ-đề.
Đã
sanh nhà Như-Lai thệ nguyện
Đã
nhập biển chư Phật công-đức
Phát-thân
thanh-tịnh tâm vô-ngại
Tùy
theo chúng-sanh mà hiện thân.
Nói
kệ xong, Thiện-Tài đảnh lễ chân Dạ-Thần, hữu nhiễu vô-lượng
vòng, ân-cần chiêm-ngưỡng từ-tạ mà đi.
