Hán
bộ quyển thứ 79
(1)
Thiện-Tài Ðồng-Tử cung kính hữu-nhiễu Di-Lặc Bồ-Tát,
rồi thưa rằng:
Xin
Ðại-Thánh mở cửa lâu các cho tôi được vào.
Lúc
ấy Di-Lặc Bồ-Tát đến trước cửa lâu các đàn chỉ ra
tiếng, cửa liền mở. Bồ-Tát bảo Thiện-Tài vào.
Thiện-Tài
rất hoan-hỷ đi vào trong lâu các, cửa liền đóng lại.
Thiện-Tài
thấy trong lâu các rộng vô-lượng đồng như hư-không. Vô-số
chất báu làm đất. Vô-số cung điện, vô-số cửa cái, vô-số
cửa sổ, vô-số thềm bậc, vô-số lan-can, vô-số đường
sá, tất cả đều bằng thất-bửu.
Vô-số
tràng, vô-số phan, vô-số lọng hàng liệt khắp nơi.
Vô-số
chuỗi báu, vô-số chuỗi chân châu, vô-số chuỗi xích-chân-châu,
vô-số chuỗi sư-tử châu, thòng rũ khắp nơi.
Vô-số
bán-nguyệt, vô-số dải lụa, vô-số lưới báu dùng đề
trang-sức.
Vô-số
lục-lạc báu gió động thành tiếng.
Rải
vô-số hoa trời đẹp.
Treo
vô-số dải tràng báu cõi trời.
Vô-số
lư-hương báu trang-nghiêm.
Rưới
vô-số bột chân kim.
Treo
vô-số gương báu.
Thắp
vô-số đèn báu.
Trải
vô-số y báu.
Giăng
vô-số trướng báu.
Trần
thiết vô-số tòa báu, vô-số lụa báu trải trên tòa.
Vô-số
tượng đồng-nữ bằng vàng diêm-phù-đàn.
Vô-số
hình tượng bằng chiều thứ báu.
Khắp
nơi có vô-số tượng Bồ-Tát bằng diệu-bửu.
Vô-số
chim hót tiếng hòa nhã.
Vô-số
hoa sen xanh báu, vô-số hoa sen vàng báu, vô-số hoa sen đỏ
báu, vô-số hoa sen trắng báu, dùng để trang-nghiêm.
Vô-số
cây báu thứ đệ hàng liệt.
Vô-số
ma-ni-bửu phóng đại quang-minh.
Lại
thấy trong đó có vô-lượng trăm ngàn lâu các đẹp, đều
nghiêm-sức như trên. Mỗi mỗi lâu các đều rộng rãi nghiêm-lệ,
đồng như hư-không chẳng ngại nhau cũng chẳng tạp loạn
nhau.
Thiện-Tài
ở một chỗ thấy tất cả chỗ. Nơi tất cả chỗ đều thấy
như vậy.
Thiện-Tài
thấy lâu các Tỳ-Lô-Giá-Na-Trang-Nghiêm-Tạng có bất-tư-nghì
cảnh-giới tự-tại như vậy, lòng rất vui mừng hớn hở
vô-lượng, thân tâm nhu nhuyến, rời tất cả tưởng, trừ
tất cả chướng, diệt tất cả hoặc, chỗ thấy chẳng quên,
chỗ nghe đều nhớ, chỗ nghĩ chẳng tạp, chứng nhập môn
vô-ngại giải-thoát, vận dụng tâm cùng khắp, thấy cùng
khắp, kính lễ cùng khắp.
Vừa
mới cúi đầu, do thần-lực của Di-Lặc Bồ-Tát, Thiện-Tài
tự thấy thân của mình ở khắp trong tất cả lâu các, thấy
đủ những cảnh-giới tự-tại bất-tư-nghì:
Những
là thấy Di-Lặc Bồ-Tát lúc mới phát tâm tên hiệu như vậy,
chủng-tộc như vậy, thiện-hữu khai ngộ khiến gieo trồng
căn lành như vậy, thọ mạng như vậy, ở kiếp như vậy,
gặp Phật tại quốc-độ như vậy, tu hành như vậy, phát
nguyện như vậy.
Chư
Phật Như-Lai ấy, những chúng-hội, thọ-mạng, thân-cận cúng-dường
đều thấy rõ cả.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát tối-sơ chứng được từ-tâm tam-muội,
từ đó đến nay hiệu là từ-thị.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát tu những diệu-hạnh, thành mãn tất cả
môn ba-la-mật.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát đắc nhẫn, trụ địa, thành-tựu quốc-độ
thanh-tịnh, hô-trì phật-pháp, làm đại Pháp-Sư, được vô-sanh-nhẫn.
Hoặc
thấy thời-gian ấy, tại xứ ấy, Ðức Phật ấy thọ ký
thành Phật cho Di-Lặc
Bồ-Tát.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát làm Chuyển-Luân-Vương khuyên các chúng-sanh
an trụ nơi thập-thiện-đạo.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát làm Hộ-Thế lợi ích chúng sanh, hoặc
làm Ðế-Thích quở trách ngũ-dục, hoặc làm Dạ-Ma Thiên-Vương
tán dương hạnh bất-phóng-dật, hoặc làm Ðâu-Suất Thiên-Vương
khen ngợi công-đức của Bồ-Tát nhất-sanh bổ-xứ, hoặc
làm Hóa-Lạc Thiên-Vương vì chư thiên-chúng mà hiện những
sự biến-hóa trang-nghiêm của chư Bồ-Tát, hoặc làm Tha-Hóa-Tự-Tại
Thiên-Vương vì chư thiên-chúng mà diễn thuyết tất cả phật-pháp,
hoặc làm Ma-Vương tuyên nói tất cả pháp thảy đều vô-thường,
hoặc làm Phạm-Vương tuyên nói chư thiền-định có vô-lượng
hỉ-lạc, hoặc làm A-Tu-La Vương vào biển đại-trí rõ pháp
như huyễn vì chúng A-Tu-Ta mà thường thuyết pháp dứt trừ
tất cả kiêu mạn ngạo nghễ.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát ở xứ Diêm-La cứu khổ địa-ngục,
hoặc thấy ở xứ ngạ-quỷ bố-thí đồ uống ăn cứu sự
đói khát, hoặc thấy ở đạo súc-sanh dùng những phương-tiện
điều-phục chúng-sanh.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát vì chúng hội Hộ-Thế Thiên-Vương mà
thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Ðao-Lợi Thiên-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Dạ-Ma Thiên-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Ðâu-Suất Thiên-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Hóa-lạc Thiên-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Tha-hóa Thiên-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Ðại-Phạm Thiên-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Long-Vương mà thuyết
pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Dạ-Xoa-Vương, La-Sát-Vương
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Càn-Thát-Bà Vương
và Khẩn-Na-La Vương mà thuyết pháp hoặc thấy vì chúng-hội
A-Tu-La Vương và Ðà-Na-Bà Vương mà thuyết pháp, hoặc thấy
vì chúng-hội Ca-Lâu-La Vương và Ma-Hầu-La-Già Vương mà thuyết
pháp, hoặc thấy vì những chúng-hội nhân phi-nhân khác mà
thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Thanh-Văn Duyên-Giác
mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng-hội Bồ-Tát sơ-phát-tâm
nhẫn đến Bồ-Tát nhất-sanh bổ-xứ trụ quán-đảnh vị
mà thuyết pháp.
Hoặc
lại thấy Di-Lặc Bồ-Tát khen nói những công đức của sơ-địa
nhẫn đến thập-địa.
Hoặc
thấy khen nói đầy đủ tất cả ba-la-mật.
Hoặc
thấy khen nói pháp môn nhập các nhẫn.
Hoặc
thấy khen nói những môn đại tam-muội.
Hoặc
thấy khen nói những môn giải-thoát thậm-thâm.
Hoặc
thấy khen nói cảnh-giới của những tam-muội thần-thông.
Hoặc
thấy khen nói những bồ-tát-hạnh.
Hoặc
thấy khen nói những thệ nguyện lớn.
Hoặc
thấy cùng với chư Bồ-Tát đồng hành khen nói những phương-tiện
lợi ích chúng-sanh.
Hoặc
thấy cùng với chư Bồ-Tát nhất-sanh bổ-xứ khen nói tất
cả môn Phật quán đảnh.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát trong trăm ngàn năm kinh hành, đọc tụng,
thơ tả kinh quyển, siêng cầu quán sát vì đại-chúng mà thuyết
pháp.
Hoặc
nhập tứ-thiền, tứ vô-lượng tâm.
Hoặc
nhập biến-xứ và những giải-thoát.
Hoặc
nhập tam-muội dùng sức phương-tiện hiện những thần-biến.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát nhập biến-hóa tam-muội, nơi mỗi lỗ
lông trên thân hiện ra tất cả biến-hóa thân-vân. Hoặc hiện
ra thiên-chúng thân-vân. Hoặc hiện ra long-chúng thân-vân. hoặc
hiện ra bát-bộ-chúng thân-vân. Hoặc hiện ra Thích, Phạm,
Hộ-Thế, Chuyển-Luân Thánh-Vương, Tiều-Vương, Vương-Tử,
Ðại-Thần, Quan-Thuộc, Trưởng-Giả, Cư-Sĩ thân-vân. Hoặc
hiện ra Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát, Như-Lai thân-vân. Hoặc
hiện ra tất cả chúng-sanh thân-vân. Hoặc phát ra tiếng vi-diệu
khen những pháp-môn của chư Bồ-Tát. Hoặc khen nói môn công-đức
của đàn-ba-la-mật nhẫn đến công-đức của trí-ba-la-mật.
Khen nói các nhiếp pháp, các thiền, các vô-lượng-tâm, các
tam-muội chánh-quán, các thông, các minh, tổng-trì, biện-tài,
các đế, các trí, chỉ, quán, giải-thoát, các duyên, các y,
các thuyết, các pháp-môn. Khen nói niệm-xứ, chánh-cần, thần-túc,
căn, lực, bảy phần bồ-đề, tám thánh-đạo, những thanh-văn-thừa,
những duyên-giác-thừa, những bồ-tát-thừa, những địa,
những nhẫn, những hạnh, những nguyện, tất cả những công-đức-môn
như vậy.
Hoặc
ở trong những lỗ lông ấy lại thấy chư Như-Lai có đại-chúng
vây quanh. Cũng thấy chư Phật nầy: chỗ sanh, chủng-tánh,
thân hình, thọ-mạng, quốc-độ, kiếp-số, danh-hiệu, thuyết
pháp lợi ích, chánh-pháp ở đời mau hay lâu, nhẫn đến đạo-tràng
chúng-hội đều thấy rõ cả.
Lại
ở nơi những lâu các trong phạm-vi Trang-Nghiêm-Tạng nầy,
mỗi lâu các đều cao rộng trang-nghiêm tối thượng, trong
đó đều thấy Ðại-Thiên thế-giới, trăm ức Tứ-Thiên-Hạ,
trăm ức Ðâu-Suất-Thiên. Mỗi mỗi đều có Di-Lặc Bồ-Tát
giáng thần đản-sanh. Thích, Phạm và Thiên-Vương ẫm bồng
cung kính. Bồ-Tát sơ sanh kinh hành bảy bước, nhìn xem mười
phương, tuyên bố độc tôn, làm đồng-tử, ở cung-điện,
dạo chơi viên-uyển, vì cầu nhất-thiết-trí mà xuất-gia
khổ-hạnh, thị hiện thọ cháo sữa, đến ngồi đạo-tràng
hàng phục ma-quân, thành Ðẳng-Chánh-Giác, quán-sát bồ-đề-thọ.
Phạm-Vương thỉnh chuyển pháp-luân. Lên cung trời mà thuyết
pháp. Kiếp số thọ-lượng, chúng-hội trang-nghiêm, nghiêm
tịnh quốc-độ, thật hành hạnh nguyện, phương-tiện giáo-hóa
thành-thục chúng-sanh, phân chia xá-lợi, trụ-trì giáo-pháp,
những sự việc chẳng đồng như vậy thảy đều thấy rõ.
Thiện-Tài
lại thấy thân mình ở tại chỗ chư Phật Như-Lai ấy, cũng
dự trong chúng-hội ấy, đều nhớ rõ tất cả phật-sự và
thông đạt vô-ngại.
Lại
nghe tất cả lưới, linh, nhạc-khí trong tất cả lâu-các ấy
đều diễn sướng bất-tư-nghì pháp-âm vi-diệu: hoặc nói
Bồ-Tát phát bồ-đề-tâm, hoặc nói tu hành các môn ba-la-mật,
hoặc nói các nguyện, các địa, hoặc nói cung kính cúng-dường
Như-Lai, hoặc nói trang-nghiêm phật-độ, hoặc nói chư Phật
thuyết pháp sai biệt.
Lại
nghe xứ đó có Bồ-Tát nghe pháp-môn như vậy. Thiện-tri-thức
ấy khuyên phát tâm bồ-đề ở cõi ấy, kiếp ấy, chỗ đức
Phật ấy, trong đại-chúng ấy, phát tâm, khởi nguyện, gieo
thiện-căn quảng đại như vậy, trải qua bao nhiêu kiếp tu
bồ-tát-hạnh, bao nhiêu thời gian sẽ thành chánh-giác danh
hiệu như vậy, thọ lượng như vậy, quốc-độ trang-nghiêm
như vậy, mãn nguyện như vậy, giáo-hóa chúng-sanh như vậy,
chúng Thanh-Văn Bồ-Tát như vậy. Sau khi nhập niết-bàn, chánh-pháp
ở đời bao lâu năm lợi ích vô-lượng chúng-sanh.
Hoặc
lại nghe xứ ấy có Bồ-Tát tu lục ba-la-mật.
Hoặc
nghe xứ ấy có bồ-tát vì cầu pháp mà rời bỏ ngôi vua,
cung-điện, vợ con quyến-thuộc, tài-sản, nhẫn đến xả
thí tay, chân, đầu, mắt, thân thể.
Hoặc
nghe xứ ấy có Bồ-Tát thủ hộ chánh-pháp làm đại Pháp-Sư
rộng hành pháp-thí, dựng pháp-tràng, thổi pháp-loa đánh pháp-cổ,
mưa pháp-vũ, xây phật tháp miếu, làm hình tượng Phật, bố-thí
tất cả đồ an vui cho chúng-sanh.
Hoặc
nghe xứ ấy có đức Như-Lai ở kiếp ấy thành Ðẳng-Chánh-Giác
thuyết pháp độ sanh.
Thiện-Tài
nghe bất-tư-nghì vi-diệu pháp-âm như vậy, thân tâm hoan-hỉ
nhu-nguyến liền được vô-lượng môn tổng-trì, vô-lượng
môn biện-tài, các thiền, các nhẫn, các nguyện, các độ,
các thông, các minh và các giải-thoát, các môn tam-muội.
Lại
thấy những hình tượng trong các gương báu: những là chư
Phật chúng-hội đạo-tràng, Bồ-Tát chúng-hội đạo-tràng,
Thanh-Văn chúng-hội đạo-tràng, Duyên-Giác chúng-hội đạo-tràng,
những tịnh thế-giới, những uế thế-giới, hoặc những
tịnh uế thế-giới, những thế-giới có Phật, những thế-giới
không Phật, những tiểu thế-giới, những trung thế-giới,
những đại thế-giới, những nhân-đà-la-võng thế-giới những
thế-giới úp, những thế-giới ngửa, những thế-giới bình-thản,
những thế-giới của địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh ở, những
thế-giới đầy chúng nhân thiên.
Ở
trong những thế-giới như vậy, thấy có vô-số chúng đại
Bồ-Tát hoặc đi hoặc ngồi làm nhiều sự-nghiệp:
Những
là hoặc khởi đại-bi thương xót chúng sanh, hoặc soạn những
bộ luận lợi ích chúng-sanh, hoặc thọ, hoặc trì, hoặc biên,
hoặc tụng, hoặc hỏi, hoặc đáp, ba thời sám-hối hồi-hướng
phát nguyện.
Thiện-Tài
lại thấy trong tất cả cột báu phóng lưới đại quang-minh
ma-ni-vương, hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng,
hoặc màu pha-lê, hoặc màu thủy-tinh, hoặc màu đế-thanh,
hoặc màu hồng-nghệ, hoặc màu vàng diêm-phù-đàn, hoặc làm
thành màu tất cả quang-minh.
Lại
thấy những bửu-tượng và hình đồng-nữ bằng vàng diêm-phù-đàn,
hoặc tay cầm hoa-vân, y-vân, tràng-phan, táng cái. Hoặc cầm
những hương thoa, hương bột. Hoặc cầm thượng-diệu ma-ni-bửu
võng. Hoặc thòng xích vàng, hoặc mang anh-lạc. Hoặc dơ cánh
tay bưng đồ trang-nghiêm. hoặc cúi đầu trút mão ma-ni khom
mình chiêm ngưỡng mắt chẳng tạm rời.
Lại
thấy chuỗi chân-châu thường xuất sanh nước thơm đủ tám
công-đức. Thấy chuỗi lưu-ly phóng trăm ngàn quang-minh đồng
thời chiếu sáng. Những tràng phan bửu-cái, bửu võng tất
cả đều trang-nghiêm với những châu bửu.
Lại
thấy bốn màu hoa sen, mỗi mỗi đều sanh vô-lượng hoa: hoặc
bằng cánh tay, hoặc bằng bánh xe. Trong mỗi hoa thảy đều
thị-hiện nhiều thứ hình tượng để trang-nghiêm:
Như
là tượng nam, tượng nữ, tượng đồng-nam, tượng đồng-nữ,
tượng Thích, Phạm, Hộ-Thế, Thiên, Long, Dạ-Xoa, Càn-Thát-Bà,
A-Tu-La, Ca-Lâu-La, Khẩn-Na-La, Ma-Hầu-La-Già, tượng Thanh-Văn,
Duyên-Giác, Bồ-Tát.
Tất
cả những sắc tượng trên đây đều khom mình chắp tay kính
lễ.
Cũng
thấy đức Như-Lai ngồi kiết-già, thân ba mười hai tướng
trang-nghiêm.
Lại
thấy nơi đất tịnh lưu-ly, trong khoảng mỗi bước hiện
bất-tư-nghì những sắc-tượng:
Như
là sắc-tượng thế-giới, sắc-tượng Bồ-Tát, sắc-tượng
Như-Lai, sắc-tượng những lâu các trang-nghiêm.
Lại
nơi nhưng nhánh lá bông-trái của bửu-thọ, đều thấy những
sắc-tượng bán-thân:
Như
là sắc-tướng bán-thân của Phật, của Bồ-Tát, của Thiên,
Long, bát-bộ. Sắc tượng bán thân của Hộ-Thế Tứ-Thiên-Vương,
của Chuyển-Luân-Vương, của Tiểu Vương, Vương Tử, Ðại-Thần,
Quan-Trưởng và của tứ chúng.
Những
sắc-tượng bán-thân nầy hoặc cầm tràng hoa, hoặc cầm anh-lạc,
hoặc cầm những đồ trang-nghiêm, hoặc khom mình chắp tay
lễ kính, nhất tâm chiêm-ngưỡng mắt chẳng tạm rời. Hoặc
ca ngợi, hoặc nhập tam-muội nơi thân đều dùng tướng hảo
trang-nghiêm phóng những quang-minh nhiều màu:
Như
là quang-minh màu chân-kim, màu bạch-ngân, màu san-hô, màu đâu-sa-la,
màu đế-thanh, màu tỳ-lô-giá-na bửu, màu châu bửu, màu bông
chiêm-ba-ca.
Lại
thấy trong tượng bán nguyệt phóng ra vô-số quang-minh của
nhật nguyệt tinh tú chiếu khắp mười phương.
Lại
thấy bốn phía vách trong mỗi bước đều dùng châu bửu để
trang-nghiêm.
Trong
mỗi châu bửu đều hiện hình Di-Lặc Bồ-Tát thuở kiếp
xưa tu hành bồ-tát-đạo: hoặc bố-thí đầu, mắt, tay, chân,
môi, lưỡi, răng, nướu, tai, mũi, máu, thịt, da thứa, xương
tủy, nhẫn đến móng, tóc. Hoặc bố-thí vợ con, thành ấp,
tụ lạc, quốc-độ, ngôi vua. Làm cho người ở lao ngục thời
được ra khỏi, kẻ bị trói buộc thời được cởi
mở, người bệnh tật thời được lành, người vào đường
tà thời chỉ cho đương chánh.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát làm lái thuyền đưa qua biển lớn. Hoặc
làm mã-vương cứu hộ ác nạn. Hoặc làm đại-tiên khéo giảng-luận.
Hoặc làm Luân-Vương khuyên tu thập thiện. Hoặc làm y-vương
khéo chữa các bệnh. Hoặc hiếu thuận cha mẹ. Hoặc thân
cận thiện-hữu. Hoặc làm Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát. Hoặc
làm Như-Lai giáo-hóa điều-phục tất cả chúng-sanh. Hoặc
làm Pháp-Sư phụng hành phật-giáo, thọ-trì, độc tụng, tư-duy
đúng lý. Lập phật-tháp, tạo phật-tượng. Hoặc mình cúng
dường, hoặc khuyên người cúng, thoa hương, rải hoa, cung
kính lễ bái. Những sự như trên thật hành luôn không dứt.
Hoặc
thấy Di-Lặc Bồ-Tát ngồi tòa sư-tử thuyết pháp khuyên chúng-sanh
an-trụ thập-thiện, nhất tâm quy hướng Tam-Bửu, thọ-trì
năm giới và tám giới, xuất gia nghe pháp, thọ-trì đọc tụng,
tu hành đúng pháp.
Nhẫn
đến hoặc thấy những sắc-tượng của Di-Lặc Bồ-Tát tu
hành các môn ba-la-mật trong trăm ngàn ức na-do-tha vô-số kiếp.
Lại
thấy Di-Lặc Bồ-Tát từng kính thờ chư thiện-tri-thức đều
dùng tất cả công-đức trang-nghiêm.
Lại
thấy Di-Lặc Bồ-Tát tại chỗ của mỗi thiện-tri-thức thân-cận
cúng-dường, tuân hành lời dạy, nhẫn đến trụ bực Quán-Ðảnh.
Bấy
giờ chư thiện-tri-thức ấy bảo Thiện-Tài rằng:
Lành
thay Ðồng-Tử! Ngươi nhìn xem những sự bất-tư-nghì của
Di-Lặc Bồ-Tát chớ có nhàm mỏi.
Lúc
đó vì được sức ghi nhớ chẳng quên, vì được mắt
thanh-tịnh thấy mười phương, vì được trí vô-ngại khéo
quán-sát, vì được trí tự-tại của Bồ-Tát, vì được
quảng-đại-giải của chư Bồ-Tát đã nhập trí-địa, nên
Thiện-Tài ở trong mỗi vật của tất cả lâu các đều thấy
vô-lượng cảnh-giới bất-tư-nghì như vậy.
Như
người nằm mộng thấy những cảnh vật, khi thức dậy bèn
biết là cảnh mộng, nhưng có thể nhớ rõ không quên mất.
Cũng vậy, nhờ thần lực gia-trì của Di-Lặc Bồ-Tát, vì
biết những pháp trong tam-giới như mộng, vì diệt được
tâm tưởng hèn kém của chúng-sanh, vì được tri-giải rộng
lớn vô-ngại, vì an trụ cảnh-giới thù-thắng của Bồ-Tát,
vì nhập trí phương-tiện bất-tư-nghì, nên Thiện-Tài thấy
được cảnh-giới tự-tại như vậy.
Như
người sắp mạng-chung, thấy tướng thọ báo theo nghiệp của
họ: người gây ác-nghiệp thời thấy tất cả cảnh-giới
khổ nơi địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh. Hoặc thấy lính ngục
tay cầm binh khí sân mắng trói bắt dẫn đi. Cũng nghe những
tiếng kêu khóc than van. Hoặc thấy sông tro, vạc nước sôi,
núi dao, cây gươm, rồi bị bức vào chịu khổ.
Người
làm lành thời thấy cung-điện trời, vô-lượng thiên-chúng,
thiên-nữ, y-phục trang-nghiêm, cung-điện viên lâm đều đẹp
tốt.
Dầu
thân chưa chết, nhưng do nghiệp-lực thấy những sự như vậy.
Cũng
vậy, do sức bất-tư-nghì của bồ-tát-nghiệp nên Thiện-Tài
được thấy tất cả cảnh-giới trang-nghiêm.
Như
có người bị quỷ nhiếp trì thấy các sự việc tùy nơi
người hỏi đều đáp được cả.
Cũng
vậy, do bồ-tát trí-huệ nhiếp-trì nên Thiện-Tài được
thấy tất cả sự trang-nghiêm, nếu có ai hỏi đều đáp được
cả.
Như
có người bị rồng nhiếp trì, tự cho mình là rồng rồi
vào long-cung, trong thời-gian ngắn tự cho là đã trải qua nhiều
ngày nhiều tháng nhiều năm.
Cũng
vậy, vì trụ bồ-tát trí-huệ, vì Di-Lặc Bồ-Tát da-trì,
nên trong một ít thời-gian mà Thiện-Tài cho là vô-lượng
kiếp.
Như
Phạm-Thiên-Cung tên là Trang-Nghiêm-Tạng, trong đó hiện tất
cả sự vật trong Ðại-Thiên thề-giới chẳng tạp loạn nhau.
Cũng
vậy, Trong lâu các nầy, Thiện-Tài thấy khắp tất cả cảnh-giới
trang-nghiêm, nhiều thứ sai khác chẳng tạp loạn nhau.
Như
Tỳ-Kheo nhập biến-xứ-định, khi đi đứng ngồi nằm, tùy
theo định đã nhập, cảnh-giới ấy hiện tiền.
Cũng
vậy, Thiện-Tài nhập lâu-các nầy, tất cả cảnh-giới đều
hiện rõ.
Như
có người ở không-trung thấy thành Càn-Thát-Bà đủ sự trang-nghiêm
đều thấy biết rõ không chướng ngại.
Như
cung-điện của thần Dạ-Xoa cùng cung-điện của người đồng
ở một chỗ mà chẳng tạp loạn nhau, đều tùy theo nghiệp
nên chỗ thấy chẳng đồng.
Như
nơi đại-hải, tất cả sắc tượng của thế-giới đều
hiện trong đó.
Như
nhà ào-thuật, dùng ảo-lực hiện những ảo-sự.
Cũng
vậy, do sức oai-thần của Di-Lặc Bồ-Tát, do sức huyễn-trí
bất-tư-nghì, do có thể dùng huyễn-trí biết các pháp, do
được sức tự-tại của Bồ-Tát, nên Thiện-Tài thấy tất
cả cảnh giới tự-tại trang-nghiêm trong lâu các.
Bấy
giờ Di-Lặc Bồ-Tát nhiếp thần-lực vào trong lâu-các, đàn-chỉ
ra tiếng bảo Thiện-Tài rằng:
Thiện-nam-tử
dậy! Pháp-tánh như vậy. Ðây là những tướng của trí biết
các pháp của Bồ-Tát làm nhơn-duyên tụ tập mà hiện ra.
Tự-tánh như vậy, như huyễn, như mộng, như-ảnh, như tượng,
đều chẳng thành-tựu.
Nghe
tiếng đàn-chỉ, Thiện-Tài liền từ tam-muội dậy.
Di-Lặc
Bồ-Tát nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ngươi ở trong giải-thoát tự-tại bất-tư-nghì
của Bồ-Tát thọ những hỉ-lạc tam-muội của Bồ-Tát, có
thể thấy cung-điện trang-nghiêm của Bồ-Tát thần-lực gia-trì,
của trợ-đạo lưu xuất, của nguyện-trí hiển hiện. Ngươi
thấy bồ-tát-hạnh, nghe bồ-tát-pháp, biết bồ-tát-đức,
rõ như-lai nguyện.
Thiện-Tài
thưa:
Bạch
Ðại-Thánh! Ðây là sức oai-thần gia hộ ghi nhớ của thiện-tri-thức.
Bạch
Ðại-Thánh! Môn giải-thoát nầy tên là gì?
Di-Lặc
Bồ-Tát nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Môn giải-thoát nầy tên là tạng trí trang-nghiêm
nhập tất cả cảnh-giới ba đời chẳng quên mất.
Nầy
Thiện-nam-tử! Trong môn giải-thoát nầy có bất-khả-thuyết
bất khả-thuyết môn giải-thoát, là chỗ chứng đắc của
Bồ-Tát nhất-sanh bổ-xứ.
Thiện-Tài
hỏi:
Sự
trang-nghiêm nầy đi về đâu?
Di-Lặc
Bồ-Tát nói:
Ði
về nơi chỗ đến.
Thiện-Tài
hỏi:
Từ
chỗ nào đến?
Di-Lặc
Bồ-Tát nói:
Từ
trong trí-huệ thần-lực của Bồ-Tát mà đến, nương thần-lực
của Bồ-Tát mà an-trụ, không có chỗ đi, cũng không có chỗ
trụ, chẳng phải tích tập, chẳng phải thường hằng, xa
rời tất cả.
Nầy
Thiện-nam-tử! Như Long-Vương làm mưa: chẳng từ thân ra, chẳng
từ tâm ra, chẳng có tích tập, mà chẳng phải là chẳng thấy.
Chỉ do sức tâm-niệm của Long-Vương mà mưa tuôn khắp thiên-hạ.
Cảnh-giới
như vậy chẳng thể nghĩ bàn.
Nầy
Thiện-nam-tử! Cũng vậy, những sự trang-nghiêm trong lâu-các
nầy chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài, mà chẳng phải là
không thấy. Chỉ do thần-lực của Bồ-Tát và sức thiện-căn
của ngươi, mà ngươi được thấy như vậy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Như nhà ảo-thuật làm những ảo-sự: không
từ đâu lại, không đi đến đâu. Dầu không lại không đi,
nhưng do ảo-lực mà thấy rõ ràng.
Cũng
vậy, sự trang-nghiêm nầy không từ đâu lại, cũng không chỗ
đi. Dầu không lại không đi, nhưng do quen tập sức huyễn-trí
bất-tư-nghì và do sức đại-nguyện thuở xưa mà hiển- hiện
như vậy.
Thiện-Tài
thưa:
Ðại-Thánh
từ-xứ nào đến đây?
Di-Lặc
Bồ-Tát nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Chư Bồ-Tát không đến không đi, như vậy mà
đến. Không đi không ở, như vậy mà đến. Không chỗ, không
chấp, không mất, không sanh, chẳng ở, chẳng dời, chẳng
động, chẳng khởi, không luyến, không nhiễm, không nghiệp,
không báo, chẳng khởi, chẳng diệt, chẳng đoạn, chẳng thường,
như vậy mà đến.
Nầy
Thiện-nam-tử! Bồ-Tát từ chỗ đại-bi mà đến, vì muốn
điều phục các chúng-sanh.
Từ
chỗ đại-từ mà đến, vì muốn cứu hộ các chúng-sanh.
Từ
chỗ tịnh-giới mà đến, vì tùy sở-thích mà thọ sanh.
Từ
chỗ đại-nguyện mà đến, vì nguyện-lực thuở xưa gia-trì.
Từ
chỗ thần-thông mà đến, vì nơi tất cả xứ, tùy thích mà
hiện.
Từ
chỗ không lay động mà đến, vì hằng chẳng bỏ rời tất
cả Phật.
Từ
chỗ không thủ xả mà đến, vì chẳng bắt buộc thân tâm
phải qua lại.
Từ
chỗ phương-tiện trí-huệ mà đến, vì tùy thuận tất cả
chúng-sanh.
Từ
chỗ thi-hiện biến-hóa mà đến, vì dường như ảnh tượng
mà hóa hiện.
Nhưng
nầy Thiện-nam-tử! Ngươi hỏi ta từ chỗ nào mà đến?
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta từ sanh-quán, nước Ma-La-Ðề mà đến nơi
đây.
Nầy
Thiện-nam-tử! Nước ấy có tụ-lạc tên là Phòng-xá. Trong
tụ-lạc có Trưởng-Giả-Tử tên là Cù-Ba-La, ta vì hóa độ
người ấy vào phật-pháp mà ở nơi đó. Lại vì tất
cả nhân-dân đáng được hóa-độ nên sanh nơi đó để thuyết
pháp. Lại cũng vì cha mẹ quyến thuộc nói pháp đại thừa
cho được xu nhập nên ở nơi đó, rồi từ đó đến đây.
Thiện-Tài
thưa:
Bạch
Ðại-Thánh! Những gì là sanh-xứ của Bồ-Tát?
Di-Lặc
Bồ-Tát nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Bồ-Tát có mười thứ sanh-xứ:
Bồ-dề-tâm
là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh ra Bồ-Tát.
Thâm-tâm
là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh thiện-tri-thức.
Chư-địa
là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh các môn ba-la-mật.
Ðại-nguyện
là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh diệu-hạnh.
Ðại-bi
là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh tứ-nhiếp-pháp.
Quán-sát
đúng lý là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh bát-nhã ba-la-mật.
Ðại-thừa
là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh thiện-xảo phương-tiện.
Giáo-hóa
chúng-sanh là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh chư Phật.
Trí-huệ
phương-tiện là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh vô-sanh
pháp-nhẫn.
Tu
hành tất cả pháp là sanh-xứ của Bồ-Tát, vì là nhà sanh
tam thế tất cả Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ðại Bồ-Tát dùng bát-nhã ba-la-mật làm
mẹ, phương-tiện thiện-xảo làm cha, thí-ba-la-mật làm nhũ-mẫu,
giới-ba-la-mật làm dưỡng-mẫu, nhẫn-ba-la-mật làm đồ-trang-nghiêm,
tinh-tấn ba-la-mật làm ông gìa dưỡng-dục, thiền ba-la-mật
làm người rửa giặt, thiện-tri-thức làm thầy dạy, tất
cả phần bồ-đề làm bạn, tất cả pháp lành làm quyến-thuộc,
tất cả Bồ-Tát làm huynh đệ, bồ-đề-tâm làm nhà, tu hành
đúng lý làm gia-pháp, chư địa làm gia-xứ, chư nhẫn làm
gia-tộc, đại-nguyện làm gia-giáo, đầy đủ các hạnh làm
thuận gia-pháp, khuyên phát đại-thừa làm nối gia-nghiệp,
pháp-thủy rưới đầu nhất-sanh bổ-xứ Bồ-Tát làm Thái-Tử,
thành-tựu bồ-đề là hay tịnh gia-tộc.
Nầy
Thiện-nam-tử! Bồ-Tát siêu phàm-phu-địa, nhập bồ-tát-vị,
sanh nhà Như-Lai, trụ chủng-tánh Phật như vậy, có thể tu
các hạnh chẳng dứt Tam-Bảo, khéo giữ được chủng-tộc
Bồ-Tát, tịnh bồ-tát-chủng, chỗ sanh tôn-thắng, không lỗi
ác, tất cả thế-gian, thiên, nhơn, ma, phạm, sa-môn, bà-la-môn
cung-kính ngợi khen.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ðại Bồ-Tát sanh nhà tôn-thắng như vậy rồi,
vì biết tất cả pháp như ảnh tượng nên đối với thế-gian
không ghét chê. Vì biết tất cả pháp như biến-hóa nên không
nhiễm trước các cõi hữu-lậu. Vì biết tất cả pháp không
có ngã nên giáo-hóa chúng-sanh lòng không nhàm mỏi. Vì dùng
đại-từ-bi làm thể tánh nên nhiếp thọ chúng-sanh chẳng
biết lao khổ. Vì liễu đạt sanh tử dường như mộng nên
trải qua tất cả kiếp mà không e sợ. Vì biết rõ các uẩn
đều như huyễn nên thị hiện thọ sanh mà không nhàm mỏi.
Vì biết các giới, xứ, đồng pháp-giới nên nơi các cảnh-giới
không bi hoại diệt. Vì biết tất cả tưởng như dương-diệm
nên vào trong các loài mà chẳng sanh điên-đảo mê hoặc. Vì
đạt tất cả pháp đều như huyễn nên vào cảnh-giới
ma chẳng sanh nhiễm trước. Vì biết pháp-thân nên tất cả
phiền-não chẳng khi dối được. Vì được tự-tại nên nơi
tất cả loài đều thông đạt vô-ngại.
Nầy
Thiện-nam-tử! Thân ta sanh khắp tất cả pháp-giới, đồng
sắc tướng sai-biệt với tất cả chúng-sanh, đồng ngôn âm
sai khác với tất cả chúng-sanh, đồng những danh hiệu với
tất cả chúng-sanh, đồng những cử chỉ sở thích của tất
cả chúng-sanh để tùy thuận thế-gian giáo-hóa điều-phục,
thị-hiện thọ sanh đồng với tất cả chúng-sanh thanh-tịnh,
những sự nghiệp làm ra đồng với tất cả phàm-phu chúng-sanh.
Ðồng
với tâm tưởng của tất cả chúng-sanh, đồng thệ nguyện
với tất cả Bồ-Tát mà hiện thân mình đầy khắp pháp-giới.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta vì hóa độ những người thuở xưa cùng
ta đồng tu công-hạnh mà nay thối thất tâm bồ-đề. Cũng
vì giáo-hóa cha mẹ thân thuộc. Cũng vì giáo-hóa các Bà-La-Môn
khiến họ bỏ tánh kiêu-mạn để được sanh trong chủng-tánh
Như-Lai, nên ta sanh tại nhà bà-la-môn nơi tụ-lạc Phòng-Xá
trong nước Ma-La-Ðề ở Diêm-Phù-Ðề nầy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta ở trong đại-lâu-các nầy tùy tâm sở-thích
của các chúng-sanh dùng nhiều phương-tiện để giáo-hóa đều-phục.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta vì tùy thuận tâm chúng-sanh, ta vì thành-thục
chư Thiên đồng hành nơi cung Ðâu-Suất, ta vì thị-hiện bồ-tát
phước trí biến-hóa trang-nghiêm siêu quá tất cả dục-giới
cho họ bỏ rời những dục lạc, vì cho họ biết hữu-vi đều
vô-thường, vì cho họ biết chư Thiên hễ thạnh tất có suy,
vì muốn thị-hiện lúc sắp giáng sanh dùng đại-trí pháp-môn
cùng chư Bồ-Tát nhất-sanh bổ-xứ cùng nhau đàm luận, vì
muốn nhiếp hóa những người đồng hành, vì muốn giáo-hóa
những kẻ mà đức Thích-Ca Như-Lai để sót lại cho họ đều
được khai ngộ như hoa sen nở, nên khi mạng chung ta sẽ sanh
lên trời Ðâu-Suất.
Nầy
Thiện-nam-tử! Lúc ta viên-mãn bổn-nguyện thành nhất-thiết-trí,
chứng vô-thượng bồ-đề, thời ngươi và Văn-Thù Sư-Lợi
đều được thấy ta.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ngươi nên qua đến chỗ Văn-Thù Sư-Lợi thiện-tri-thức
mà hỏi rằng: Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào
nhập Phổ-Hiền hạnh-môn, thế nào thành-tựu, thế nào quảng
đại, thế nào tùy thuận, thế nào thanh-tịnh, thề nào viên-mãn?
Văn-Thù
Sư-Lợi sẽ vì ngươi mà phân-biệt diễn nói.
Tại
sao vậy?
Vì
những đại-nguyện của Văn-Thù Sư-Lợi, chẳng phải vô-lượng
trăm ngàn ức na-do-tha Bồ-Tát khác có được.
Nầy
Thiện-nam-tử! Văn-Thù Sư-Lợi có hạnh quảng đại, nguyện
vô-biên, xuất sanh tất cả Bồ-Tát công-đức không thôi dứt.
Văn-Thù
Sư-Lợi thường làm mẹ của vô-lượng trăm ngàn ức na-do-tha
chư Phật. Thường làm thầy của vô-lương trăm ngàn ức na-do-tha
Bồ-Tát. Giáo hóa thành-tựu vô-lượng chúng-sanh. Tiếng đồn
vang khắp mười phương thế-giới. Thường làm Thuyết-Pháp-Sư
trong tất cả chúng hội của chư Phật. Ðược tất cả Như-Lai
khen ngợi, trụ nơi trí thậm-thâm, có thể thấy tất cả
pháp như thiệt, thông đạt tất cả cảnh-giới giải-thoát,
rốt ráo những hạnh của Phổ-Hiền.
Nầy
Thiện-nam-tử! Văn-Thù Sư-Lợi là thiện-tri-thức của ngươi,
làm cho ngươi được sanh nhà Như-Lai, trưởng dưỡng tất
cả thiện-căn, phát khởi tất cả pháp trợ-đạo, gặp thiện-tri-thức
chơn thiệt khiến người tu tất cả công-đức, nhập tất
cả nguyện võng, trụ tất cả đại-nguyện, vì ngươi mà
nói tất cả pháp bí-mật của Bồ-Tát, hiện tất cả hạnh
bất-tư-nghì của bồ-tát, thuở xưa cùng người đồng sanh
đồng hành.
Vì
thế nên nguơi phải đến chỗ Văn-Thù Sư-Lợi chớ có nhàm
mỏi.
Văn-Thù
Sư-Lợi sẽ vì ngươi mà nói tất cả công-đức.
Tại
sao vậy? Vì trước kia ngươi thấy thiện-tri-thức, nghe bồ-tát-hạnh,
nhập môn giải-thoát, đầy đủ đại-nguyện, đều do thần-lực
của Văn-Thù Sư-Lợi.
Văn-Thù
Sư-Lợi đều được rốt ráo tất cả xứ.
Lúc
đó Thiện-Tài Ðồng-Tử đảnh lễ chân Di-Lặc Bồ-Tát, hữu-nhiễu
vô-lượng vòng, ân-cần chiêm-ngưỡng từ tạ mà đi.
