Hán
bộ quyển thứ 76
41-
(1) Thiện-Tài Ðồng-Tử đảnh lễ chân nàng Thích-Ca Cù-Ba,
hữu nhiễu vô-số vòng, từ tạ mà đi.
Thiện-Tài
nhất tâm muốn đến chỗ Ma-Gia Phu-Nhơn, Tức thời chứng
được trí quán phật-cảnh-giới.
Thiện-Tài
tự nghĩ rằng: thiện-tri-thức nầy xa lìa thế-gian an-trụ
nơi vô-sở-trụ, siêu quá sáu trần, lìa tất cả chấp trước,
biết đạo vô-ngại, đủ pháp thân thanh-tịnh, dùng nghiệp
như-huyễn mà hiện hóa-thân, dùng trí như-huyễn mà quán thế-gian,
dùng nguyện như-huyễn mà gìn giữ thân Phật. Theo thân ý-thân,
không thân sanh diệt, không thân lai khứ, chẳng phải thân
hư thiệt, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận. Có
bao nhiêu tướng đều là thân một tướng, thân rời hai bên,
thân không chỗ tựa nương, thân vô cùng tận, thân như ảnh
hiện rời phân biệt. Biết thân như mộng, như tượng trong
gương. Thân như tịnh-nhựt, thân hoá-hiện khắp mười phương.
Thân ở tam thế không đổi khác. Thân chẳng phải thân tâm,
dường như hư-không chỗ đi vô-ngại, siêu thế-gian-nhãn,
chỉ tịnh-nhãn của Phổ-Hiền mới thấy được.
Hạng
người như vậy, tôi làm sao được thân cận để kính thờ
cúng-dường, để được cùng ở hầu quán-sát dung mạo, nghe
tiếng nói. Suy nghĩ lời dạy và nhận lãnh.
Bấy
giờ có Chủ-Thành-Thần tên là Bửu-Nhãn, quyến-thuộc vây
quanh hiện thân trên không-trung, tay cầm những bửu-hoa nhiều
màu rải trên mình Thiện-Tài mà bảo rằng:
Nầy
Thiện-nam-tử! Phải giữ-gìn tâm-thành, nghĩa là chẳng tham
tất cả cảnh-giới.
Phải
trang-nghiêm tâm-thành, nghĩa là chuyên ý xu cầu Phật thập-lực.
Phải
tịnh-trị tâm thành, nghĩa là dứt hẳn bỏn-sẻn, ganh ghét,
dua bợ, phỉnh dối.
Phải
thanh-lương tâm-thành, nghĩa là tư-duy thiệt-tánh của tất
cả pháp.
Phải
tăng-trưởng tâm thành, nghĩa là làm xong tất cả pháp trợ
đạo.
Phải
nghiêm-sức tâm-thành, nghĩa là tạo lập cung-điện thiền-định
giải-thoát.
Phải
chiếu-diệu tâm-thành, nghĩa là vào khắp tất cả Phật đạo-tràng
nghe lãnh pháp bát-nhã-ba-la-mật.
Phải
tăng-ích tâm-thành, nghĩa là nhiếp khắp tất cả Phật phương-tiện-đạo.
Phải
kiên-cố tâm-thành, nghĩa là hằng siêng tu tập hạnh nguyện
Phô-Hiền.
Phải
phòng-hộ tâm-thành, nghĩa là thường chuyên ngăn ngừa ác-hữu
và ma-quân.
Phải
rỗng suốt tâm-thành, nghĩa là khai dẫn tất cả ánh sáng
phật-trí.
Phải
khéo bồi bổ tâm-thành, nghĩa là nghe lãnh tất cả phật-pháp.
Phải
phò trợ tâm-thành, nghĩa là thâm-tín tất cả phật-công-đức-hải.
Phải
quảng đại tâm-thành, nghĩa là đại-từ đến khắp tất
cả thế-gian.
Phải
khéo che đậy tâm-thành, nghĩa là tích tập những thiện-pháp
để đậy trên tâm.
Phải
rộng-rãi tâm-thành, nghiẽa là đại-bi thương xót tất cả
chúng-sanh.
Phải
mở cửa tâm-thành, nghĩa là đem tất cả sở-hửu tùy nghi
bố-thí giúp đỡ.
Phải
giữ kín tâm-thành, nghĩa là phòng những ác-dục chẳng cho
vào.
Phải
nghiêm-túc tâm-thành, nghĩa là đuổi những pháp ác chẳng
cho ở chung.
Phải
quyết định tâm-thành, nghĩa là tích tập tất cả pháp trợ-đạo
hằng không thối chuyển.
Phải
an lập tâm-thành, nghĩa là chánh-niệm cảnh-giới của tam-thế
tất cả Như-Lai.
Phải
sáng bóng tâm-thành, nghĩa là thông suốt tất cả những pháp-môn,
những duyên-khởi trong khế-kinh của chư Phật đã tuyên thuyết.
Phải
bộ phận tâm-thành, nghĩa là hiểu thị khắp tất cả chúng-sanh
cho họ được thấy đạo nhất-thiết-trí.
Phải
trụ-trì tâm-thành, nghĩa là phát những đại-nguyện-hải
của tất cả tam-thế chư Như-Lai.
Phải
phú-quý tâm-thành, nghĩa là chứa nhóm tất cả phước-đức
lớn cùng khắp pháp-giới.
Phải
làm cho tâm-thành sáng rõ, nghĩa là biết khắp những pháp
căn dục của chúng-sanh.
Phải
làm cho tâm-thành tự-tại, nghĩa là nhiếp khắp tất cả thập
phương pháp-giới.
Phải
làm cho tâm-thành thanh-tịnh, nghĩa là chánh-niệm tất cả
chư Phật Như-Lai.
Phải
biết tự-tánh của tâm-thành, nghĩa là biết tất cả pháp
đều không tự-tánh.
Phải
biết tâm-thành như huyễn, nghĩa là dùng nhất-thiết-trí biết
rõ những pháp-tánh.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ðại Bồ-Tát nếu có thể tịnh tu tâm-thành
như vậy thời có thể tích tập tất cả thiện-pháp.
Tại
sao vậy?
Vì
trừ bỏ tất cả những chướng nạn: những là chướng thấy
Phật, chướng nghe pháp, chướng cúng-dường Như-Lai, chướng
nhiếp chúng-sanh, chướng tịnh phật-độ.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ðại Bồ-Tát do lìa những chướng nạn như
vậy, nếu phát tâm mong cầu thiện-tri-thức, chẳng cần dùng
công-lực, bèn được thấy. Nhẫn đến rốt ráo tất sẽ
thành Phật.
Bấy
giờ có Thân-Chúng-Thần tên là Liên-Hoa-Pháp-Ðức và Diệu-Hoa-Quang-Minh,
vô-lượng chư thần vây quanh sau trước, ra khỏi đạo-tràng
dừng ở không-trung trước mặt Thiện-Tài dùng diệu-âm-thanh
ca ngợi.
Ma-Gia
phu-nhơn, từ bông tai phóng lưới quang-minh vô-lượng sắc
tướng chiếu khắp vô-biên thế-giới mười phương, cho Thiện-Tài
thấy tất cả chư Phật.
Lưới
quang-minh đó hữu nhiễu thế-gian giáp một vòng rồi xoay về
chiếu đỉnh đầu Thiện-Tài và vào khắp lỗ lông trên thân
Thiện-Tài.
Liền
đó Thiện-Tài chứng được tịnh-quang-minh-nhãn, vì lìa hẳn
tất cả tối ngu-si. Ðược ly-ế-nhãn, vì có thể rõ tánh
của tất cả chúng-sanh. Ðược ly-cấu-nhãn, vì có thể quán
tất cả môn pháp-tánh. Ðược tịnh-huệ-nhãn, vì có thể
quán tánh tất cả phật-độ. Ðược tỳ-lô-giá-na-nhãn, vì
thấy pháp-thân-phật. Ðược phổ-quang-minh-nhãn, vì thấy
thân phật bình-đẳng bất-tư-nghì. Ðược vô-ngại-quang-nhãn,
vì quán-sát tất cả sát-hải thành hoại. Ðược phổ-chiếu-nhãn,
vì thấy thập phương Phật khởi đại phương-tiện chuyển
chánh-pháp-luân. Ðược phổ-cảnh-giới nhãn, vì thấy vô-lượng
Phật dùng sức tự-tại điều-phục chúng-sanh. Ðược phổ-kiến-nhãn,
vì thấy tất cả cõi chư Phật xuất thế.
Bấy
giờ có La-Sát Quỷ-Vương thủ hộ pháp-đường của Bồ-Tát,
tên là Thiện-Nhãn, cùng quyến thuộc một vạn La-Sát câu
hội, ở không trung dùng những hoa đẹp rải trên mình Thiện-Tài
mà nói rằng:
Nầy
Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành tựu mười pháp thời được
thân cận chư thiện-trí-thức.
Ðây
là mười pháp:
Tâm
thanh-tịnh rời những dua bợ phỉnh dối.
Ðại-bi
bình-đẳng nhiếp khắp chúng-sanh, biết các chúng-sanh không
có thiệt.
Xu
hướng nhất-thiết-trí tâm không thối chuyển.
Dùng
sức tín-giải vào khắp tất cả phật đạo tràng.
Ðược
tịnh-huệ-nhãn rõ các pháp tánh.
Ðại-từ
bình-đẳng che chở khắp chúng-sanh.
Dùng
trí quang-minh chiếu rỗng những vọng cảnh.
Dùng
mưa cam-lộ xối sanh tử nóng.
Dùng
mắt quảng đại soi suốt các pháp.
Tâm
thường tùy thuận chư thiện-tri-thức.
Lại
nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành-tựu mười môn tam-muội
thời thường hiện thấy chư thiện-tri-thức.
Ðây
là mười môn tam-muội:
Thanh-tịnh
luân pháp-không tam-muội.
Quán-sát
thập phương hải tam muội.
Nơi
tất cả cảnh-giới chẳng rời bỏ chẳng tổn giảm tam-muội.
Thấy
khắp tất cả Phật xuất thế tam-muội.
Nhóm
tất cả tạng công-đức tam-muội.
Tâm
hằng chẳng bỏ thiện-tri-thức tam-muội.
Thường
thấy tất cả thiện-tri-thức sanh phật công-đức tam-muội.
Thường
chẳng rời tất cả thiện-tri-thức tam-muội.
Thường
cúng-dường tất cả thiện-tri-thức tam-muội.
Thường
không lỗi lầm ở chỗ tất cả thiện-tri-thức tam-muội.
Nầy
Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành tựu mười môn tam-muội nầy
thời thường được thân cận chư thiện-tri-thức. Lại được
môn tam-muội thiện-tri-thức chuyển tất cả phật-pháp-luân.
Ðược môn tam-muội nầy rồi thời đều biết chư Phật thể
tánh bình-đẳng, gặp thiện-tri-thức mọi nơi.
Thiện-Tài
ngước nhìn không-trung mà thưa rằng:
Lành
thay, lành thay! Ngài vì thương xót nhiếp thọ tôi mà phương-tiện
dạy cho tôi pháp thấy thiện-tri-thức.
Xin
ngài vì tôi mà chỉ bảo: thế nào đến chỗ thiện-tri-thức?
Tìm thiện-tri-thức ở chỗ nào?
La-Sát-Vương
nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ngươi nên đảnh lễ khắp mười phương để
cầu thiện-tri-thức. Nên chánh-niệm tư-duy tất cả cảnh-giới
để cầu thiện-thi-thức. Nên dũng-mãnh tự-tại du hành khắp
mười phương để cầu thiện-tri-thức. Nên quán thân, quán
tâm như mộng như ảnh để cẩu thiện-tri-thức.
Thiện-Tài
y lời làm theo, tức thời thấy đại-bửu-liên-hoa từ đất
vọt lên: cộng bằng kim-cang, diệu-bửu làm tạng, mi-ni làm
cánh, quang-minh bửu-vương làm đài, hương báu nhiều màu làm
tua, vô-số lưới báu giăng che phía trên.
Trên
đài sen báu ấy có lâu các đẹp lạ tên là Phổ-Nạp-Thập-Phương-Pháp-Giới-Tạng
trang-nghiêm.
Nền
bằng kim-cang, ngàn cột ngay hàng đều bằng ma-ni-bửu. Vách
bằng vàng Diêm-Phù-Ðàn. Bốn mặt thòng những chuỗi ngọc.
Thềm bực lan-can trang-nghiêm giáp vòng.
Trong
lâu các có tòa như-ý bửu-liên-hoa nghiêm-sức với những
châu báu, bửu-lan bửu-y xen lẫn, bửu-trướng bửu-võng che
phía trên. Những phan lụa báu thòng rủ bốn phía. Gió nhẹ
thổi lay phóng ánh sáng phát âm vang. Trong tràng bửu-hoa tuôn
những hoa đẹp. Trong lục-lạc báu phát âm-thanh tốt. Trong
cửa báu thòng những chuỗi ngọc. Trong thân ma-ni chảy nước
thơm. Trong miệng tượng-bửu xuất hiện lưới liên-hoa. Trong
miệng bửu sư-tử thổi mây diệu-hương. Bửu-luân phạm-hình
phát tiếng vui dạ-linh, kim-cang-bửu phát tiếng bồ-tát đại-nguyện.
Trong tràng bửu-nguyệt xuất hiện hình phật-hóa. Tịnh-tạng
bửu-vương hiện tam-thế Phật thứ đệ thọ sanh. Nhựt-tạng
ma-ni phóng đại quang-minh chiếu khắp tất cả quốc-độ mười
phương. Ma-Ni bửu-vương phóng quang-minh viên-mãn của tất
cả chư Phật. Tỳ-Lô-Giá-Na ma-ni bửu-vương nổi mây đồ
cúng để dâng hiến tất cả chư Phật Như-Lai. Như-ý châu-vương
niệm niệm thị hiện phổ-hiền thần-biến sung-mãn pháp-giới.
Tu-di bửu-vương xuất hiện thiên-cung-điện, trong đây chư
thiên-nữ dùng diệu âm ca tụng công-đức vi-diệu bất-tư-nghì
của đức Như-Lai.
Xung
quanh bửu-tòa nầy lại có vô-lượng bửu-tòa. Ma-Gia Phu-Nhơn
hiện tịnh-sắc-thân ngồi trên đại bửu-tòa ấy: những
là sắc-thân siêu tam-giới, vì đã thoát tất cả loài hữu-lậu.
Sắc-thân
tùy tâm sở-thích, vì với tất cả thế-gian không chấp trước.
Sắc-thân
cùng khắp, vì bằng số tất cả chúng-sanh.
Sắc-thân
không gì sánh bằng, vì làm cho tất cả chúng-sanh diệt trừ
kiến chấp điên đảo.
Sắc-thân
vô-lượng thứ, vì tùy tâm của chúng-sanh mà thị-hiện.
Sắc-thân
vô-biên tướng, vì hiện khắp những hình tướng.
Sắc-thân
đối hiện khắp nơi, vì dùng đại tự-tại để thị-hiện.
Sắc-thân
giáo hóa tất cả, vì tùy nghi mà thị-hiện.
Sắc-thân
hằng thi-hiện, vì tận chúng-sanh-giới mà vẫn vô-tận.
Sắc-thân
vô-khứ, vì nơi tất cả loài vẫn không diệt.
Sắc-thân
vô-lai, vì nơi tất cả thế-gian vẫn không sanh.
Sắc-thân
bất-sanh, vì không sanh khởi.
Sắc-thân
bất-diệt vì rời nghữ ngôn.
Sắc-thân
chẳng phải thiệt, vì được như thiệt.
Sắc-thân
chẳng phải hư, vì tùy thế-gian mà hiện.
Sắc-thân
vô-động, vì lìa hẳn sanh diệt.
Sắc-thân
bất hoại, vì pháp-tánh bất hoại.
Sắc-thân
vô-tướng, vì dứt đường ngôn ngữ.
Sắc-thân
một tướng, vì lấy vô-tướng làm tướng.
Sắc-thân
như tượng, vì tùy tâm ứng-hiện.
Sắc-thân
như huyễn, vì huyễn-trí sanh ra.
Sắc-thân
như diệm, vì chỉ do tưởng mà còn.
Sắc-thân
như ảnh, vì tùy nguyện hiện sanh.
Sắc-thân
như mộng, vì tùy tâm mà hiện.
Sắc-thân
pháp-giới, vì tánh tịnh như hư-không.
Sắc
thân đại-bi, vì thường cứu hộ chúng-sanh.
Sắc-thân
vô-ngại, vì niệm niệm cùng khắp pháp-giới.
Sắc-thân
vô-biên, vì tịnh khắp tất cả chúng-sanh.
Sắc-thân
vô-lượng, vì siêu xuất tất cả ngữ ngôn.
Sắc-thân
vô-trụ, vì nguyện độ tất cả thế-gian.
Sắc-thân
vô-xứ, vì hằng hóa độ chúng-sanh không thôi dứt.
Sắc-thân
vô-sanh, vì huyễn-nguyện làm thành.
Sắc-thân
vô-thắng, vì siêu các thế-gian.
Sắc-thân
như-thật, vì định-tâm hiện ra.
Sắc-thân
chẳng sanh, vì tùy nghiệp của chúng-sanh mà xuất-hiện.
Sắc-thân
châu như-ý, vì khắp thỏa mãn tất cả nguyện cầu của chúng-sanh.
Sắc-thân
vô-phân-biệt, vì chỉ tùy theo chúng-sanh phân-biệt mà khởi.
Sắc-thân
rời phân-biệt, vì tất cả chúng-sanh chẳng biết được.
Sắc-thân
vô-tận, vì tận sanh-tử-tế của các chúng-sanh.
Sắc-thân
thanh-tịnh, vì đồng vô-phân-biệt với Như-Lai.
Thân
như vậy chẳng phải sắc, vì bao nhiêu sắc-tướng như ảnh
tượng cả.
Chẳng
phải thọ, vì đã diệt hẳn khổ-thọ của thế-gian.
Chẳng
phải tưởng, vì chỉ tùy theo chúng-sanh tưởng mà hiện.
Chẳng
phải hành, vì nương theo nghiệp như-huyễn mà thành-tựu.
Chẳng
phải thức, vì là nguyện-trí không vô-tánh của Bồ-Tát,
vì ngữ ngôn của tất cả chúng-sanh đều dứt, vì đã thành-tựu
thân tịch-diệt.
Bấy
giờ Thiện-Tài lại thấy Ma-Gia Phu-Nhơn tùy theo tâm sở-thích
của các chúng-sanh mà hiện sắc-thân siêu quá tất cả thế-gian.
Những
là: hoặc hiện thân siêu quá thiên-nữ nơi trời Tha-Hóa Tự-Tại,
nhẫn đến siêu quá thiên-nữ nơi trời Tứ-Thiên-Vương.
Hoặc
hiện thân siêu quá Long-Nữ, nhẫn đến siêu quá nhơn-nữ.
Hiện
vô-lượng sắc-thân như vậy để lợi ích chúng-sanh, nhóm
họp pháp trợ-đạo nhất-thiết-trí, hành bình-đẳng đàn
ba-la-mật, đại-bi che khắp tất cả thế-gian, xuất sanh vô-lượng
công-đức của Như-Lai, tu tập tăng trưởng tâm nhất-thiết-trí,
quán sát tư duy thật-tánh của các pháp, được thâm-nhẫn,
đủ định-môn, an trụ cảnh-giới tam-muội bình-đẳng, được
Như-Lai định, viên-mãn quang-minh, tiêu cạn biển lớn phiền-não
của chúng-sanh, tâm thường chánh-định chưa từng động loạn,
hằng chuyển pháp-luân thanh-tịnh bất-thối. Khéo biết rõ
tất cả phật-pháp, hằng dùng trí-huệ quán pháp thật-tướng,
thấy chư Như-Lai không lòng nhàm, biết tam-thế Phật thứ
đệ xuất thế tam-muội, thấy Phật thường hiện-tiền, thấu
rõ Như-Lai xuất hiện nơi đời, vô-lượng vô-số những đạo
thanh-tịnh, đi nơi cảnh-giới hư-không của Phật. Nhiếp khắp
chúng-sanh đều theo tâm họ để giáo-hóa thành-tựu, nhập
Phật vô-lượng thanh-tịnh pháp thân, thành-tựu đại nguyện
nghiêm-tịnh phật-độ, rốt ráo điều phục tất cả chúng-sanh,
tâm hằng vào khắp cảnh-giới của chư Phật, xuất sanh bồ
tát tự-tại thần-lực, đã được pháp thân thanh-tịnh vô-nhiễm
mà hằng thị-hiện vô-lượng sắc thân, xô dẹp tất
cả ma-lực thành sức đại thiện-căn, xuất sanh sức chánh-pháp,
đầy đủ phật-lực, được sức tự-tại của chư Bồ-Tát,
mau tăng trưởng sức nhất-thiết-trí, được phật-trí-quang
chiếu khắp tất cả, biết hết tâm tánh giải dục sai biệt
của vô-lượng chúng-sanh, thân cùng khắp mười phương cõi,
biết rõ tướng thành hoại của các cõi, dùng quảng-đại-nhãn
thấy thập-phương-hải, dùng châu-biến-trí biết tam-thế-haỉ,
thân khắp thừa-sự tất cả phật-hải, tâm hằng nạp thọ
tất cả pháp-hải, tu tập tất cả công-đức của Như-Lai,
xuất sanh tất cả trí-huệ của Bồ-Tát, thường thích quán-sát
tất cả Bồ-Tát từ sơ-phát-tâm nhẫn đến thành tựu đạo
bồ-tát, thường siêng thủ hộ tất cả chúng-sanh, thường
thích tán dương công-đức của chư Phật, nguyện làm mẹ
của tất cả Bồ-Tát.
Thiện-Tài
thấy Ma-Gia Phu-Nhơn hiện diêm-phù-đề vi-trần-số môn phương-tiện
như vậy. Ðúng như số thân của Ma-Gia Phu-Nhơn đã hiện,
Thiện-Tài cũng tự hiện bao nhiêu thân ở trước tất cả
Ma-Gia Phu-Nhơn mà cung kính lễ bái.
Tức
thời Thiện-Tài chứng được vô-lượng vô-số môn tam-muội,
phân biệt quan-sát tu hành chứng nhập.
Sau
khi xuất định, Thiện-Tài hữu nhiễu Phu-Nhơn và quyến-thuộc
của Phu-Nhơn, đứng chắp tay cung kính thưa rằng:
Bạch
Ðại-thánh! Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát dạy tôi phát tâm vô-thượng
bồ-đề, cầu thiện-tri-thức để thân cận cúng-dường.
Ở
chỗ mỗi vị thiện-tri-thức tôi đều đến kính thờ không
bỏ luống, lần lượt đến đây. Xin Dại-Thánh vì tôi mà
dạy bảo Bồ-Tát thế nào học bồ-tát hạnh mà được thành-tựu?
Ma-Gia
Phu-Nhơn nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta đã thành-tựu môn giải-thoát bồ-tát-đại-nguyện-trí-huyễn,
do đây ta thường làm mẹ của Bồ-Tát.
Nầy
Thiện-nam-tử! Như ta ở tại cung vua Tịnh-Phạn nơi thành
Ca-Tỳ-La nầy, từ hông bên hữu sanh Thái-Tử Tất-Ðạt hiện
bất-tư-nghì thần-biến tự-tại.
Như
vậy nhẫn đến tận thế-giới hải nầy, tất cả Tỳ-Lô-Giá-Na
Như-Lai đều vào thân ta mà thị-hiện đản-sanh tự-tại thần-biến.
Lại
nầy Thiện-nam-tử! Lúc ta ở cung vua Tịnh-Phạn, lúc Bồ-Tát
sắp hạ sanh, ta thấy thân của Bồ-Tát mỗi mỗi lỗ lông
đều phóng quang-minh tên là Nhất-Thiết-Như-Lai-Thọ-Sanh-Công-Ðức-Luân.
Mỗi lỗ lông đều hiện bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết
phật sát vi-trần-số Bồ-Tát thọ sanh trang-nghiêm. Những
quang-minh đó thảy đều chiếu khắp tất cả thế-giới, rồi
nhập vào đảnh của ta và khắp các chân lông.
Lại
trong quang-minh ấy hiện khắp tất cả danh-hiệu của Bồ-Tát,
cùng thọ-sanh, thần-biến, cung-điện, quyến-thuộc, ngũ dục
tự vui của Bồ-Tát.
Trong
quang-minh lại thấy Bồ-Tát xuất-gia, đến đạo-tràng thành
Ðẳng-Chánh-Giác, ngồi tòa sư-tử, Bồ-Tát vây quanh, các
vua chúa cúng-dường, vì đại-chúng mà chuyển pháp-luân.
Lại
thấy đức Như-Lai thuở xưa lúc tu hành bồ-tát-đạo, cung
kính cúng-dường chư Phật, phát tâm bồ-đề, nghiêm-tịnh
phật-độ, niêm niệm thị-hiện vô-lượng hóa-thân khắp
thập phương thế-giới, nhẫn đến rốt sau nhập niết-bàn.
Tất cả những sự như vậy đều thấy rõ cả.
Nầy
Thiện-nam-tử! Lúc diệu-quang-minh ấy vào thân của ta, hình
lượng của thân ta dầu chẳng hơn trước, nhưng thật ra thời
đã siêu thế-gian.
Tại
sao vậy?
Vì
lúc đó thân của ta lượng đồng hư-không, đều có thể
dung thọ những cung-điện trang-nghiêm của thập phương Bồ-Tát
thọ sanh.
Lúc
Bồ-Tát từ cung trời Ðâu-Suất sắp giáng thần, có mười
phật-sát vi-trần-số Bồ-Tát đồng nguyện, đồng hạnh,
đồng thiện-căn, đồng trang nghiêm, đồng giải-thoát, đồng
trí-huệ, trí-lực, pháp-thân, sắc-thân, nhẫn đến phổ-hiền
thần-thông hạnh nguyện thảy đều đồng với Bồ-Tát. Vi-trần-số
Bố-Tát nầy cùng vây quanh.
Lại
có tám vạn Long-Vương và tất cả Thế-Chủ thừa cung-điện
của mình đều đến cúng-dường.
Bấy
giờ Bồ-Tát dùng sức thần-thông cùng chư Bồ-Tát quyến-thuộc
hiện khắp tất cả Ðâu-Suất Thiên-Cung. Mỗi mỗi Thiên-Cung
đều hiện hình tượng thọ sanh trong tất cả Diêm-Phù-Ðề
ở thập phương thế-giới, phương-tiện giáo hóa vô-lượng
chúng-sanh, khiến chư Bồ-Tát rời giải-đãi, không chấp trước.
Lại
dùng thần-lực phóng đại quang-minh chiếu khắp thế-gian phá
những tối tăm diệt những khổ não, làm cho các chúng-sanh
đều biết những hành nghiệp đã có từ đời trước, hầu
thoát hẳn ác-đạo.
Lại
vì cứu hộ tất cả chúng-sanh mà hiện ra trước họ, để
hiện những thần-biến.
Bồ-Tát
đã hiện những sự kỳ-đặc như vậy rồi cùng quyến-thuộc
đến nhập vào thân của ta.
Chư
Bồ-Tát ấy ở trong bụng ta du hành tự-tại: hoặc dùng Ðại-Thiên
thế giới làm một bước, nhẫn đến hoặc dùng bất-khả-thuyết
bất-khả-thuyết phật-sát vi-trần-số thế giới làm một
bước.
Lại
trong mỗi niệm, chúng hội Bồ-Tát ở chỗ chư Phật Như-Lai
nơi bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết tất cả thế-giới
mười phương, cùng dục-giới sắc-giới chư Thiện-Vương
chư Phạm-Vương vì muốn thấy thần-biến của Bồ-Tát ở
trong thai mẹ để cung kính cúng-dường nghe lãnh chánh pháp
nên đều đến vào thân của ta.
Dầu
trong bụng của ta đều có thể dung thọ tất cả chúng-hội
như vậy, mà thân ta vẫn không lớn thêm, cũng chẳng chật
hẹp.
Chư
Bồ-Tát và chúng-hội đều tự thấy mình ở đạo-tràng thanh-tịnh
nghiêm-sức.
Nầy
Thiện-nam-tử! Như trong Diêm-Phù-Ðề nầy Bồ-Tát thọ sanh,
ta làm mẹ, trong tất cả trăm ức Diêm-Phù-Ðề khắp Ðại-Thiên
thế-giới cũng như vậy. Nhưng thân của ta đây bổn lai không
hai, chẳng phải ở một xứ, chẳng phải ở nhiều xứ.
Tại
sao vậy?
Vì
ta tu môn giải-thoát bồ-tát đại-nguyện trí-huyễn trang-nghiêm.
Nầy
Thiện-nam-tử! Như đức Thế-Tôn hiện nay, ta làm mẹ của
Ngài, bao nhiêu chư Phật thuở xưa ta cũng làm mẹ như vậy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Thuở xưa, ta từng làm Thần ao sen. Bấy giờ
có Bồ-Tát bỗng nhiên hóa sanh nơi liên-hoa-tạng, ta liền
bồng ẵm săn sóc nuôi nấng. Thế-gian gọi ta là mẹ của
Bồ-Tát.
Lại
thuở xưa, ta từng làm Thần bồ-đề-tràng. Bấy giờ có Bồ-Tát
bỗng nhiên hóa-sanh trong lòng của ta. Người đời ấy cũng
gọi ta là mẹ của Bồ-Tát.
Nầy
Thiện-nam-tử! Có vô-lượng tối-hậu-thân Bồ-Tát phương-tiện
thị-hiện thọ sanh nơi thế-giới nầy, ta đều làm mẹ của
các Ngài.
Nầy
Thiện-nam-từ! Như ở thế-giới Ta-Bà nầy, trong kiếp Hiền,
quá khứ đức Câu-Lưu-Tôn Phật, đức Câu-Na-Hàm-Mâu-Ni-Phật,
đức Ca-Diếp Phật và đức Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, hiện nay
thị hiện thọ sanh, ta đều làm mẹ, đời vị-lai, Dị-Lặc
Bồ-Tát từ Thiên-Cung Ðâu-Suất lúc sắp giáng thần phóng
đại quang-minh chiếu khắp pháp-giới thị-hiện thấn-biến
thọ sanh cùng chúng Bồ-Tát, ta cũng sẽ lảm mẹ.
Kế
đó theo thứ tự, có Sư-Tử Phật, Pháp-Tràng Phật, Thiện-Nhãn
Phật, Tịnh-Hoa Phật, Hoa-Ðức Phật, Ðề-Xá Phật, Phất-Sa
Phật, Thiện-Ý Phật, Kim-Cang Phật, Ly-Cấu Phật, Nguyệt-Quang
Phật, Trì-Cự Phật, Danh-Xưng Phật, Kim-Cang-Thuẩn Phật, Thanh-Tịnh-Nghĩa
Phật, Cám-Thân Phật, Ðáo-Bỉ-Ngạn Phật, Bửu-Diệm-Sơn
Phật, Trì-Minh Phật, Liên-Hoa-Ðức Phật, Danh-Xưng Phật, Vô-Lượng-Công-Ðức
Phật, Tối-Thắng-Ðăng Phật, Trang-Nghiêm-Thân Phật, Thiện-Oai-Nghi
Phật, Từ-Ðức Phật, Vô-Trụ Phật, Ðại-Oai-Quang Phật,
Vô-Biên-Âm Phật, Thắng-Oán-Ðịch Phật, Ly-Nghi-Hoặc
Phật, Thanh-Tịnh Phật, Ðại-Quang Phật, Tịnh-Tâm Phật, Vân-Ðức
Phật, Trang-nghiêm-Ðảnh-Kế Phật, Thọ-Vương Phật, Bửu-Ðăng
Phật, Hải-Huệ Phật, Diệu-Bửu Phật, Hoa-Quan Phật, Mãn-Nguyện
Phật, Ðại-Tự-Tại Phật, Diệu-Ðức-Vương Phật, Tối-Tôn-Thắng
Phật, Chiên-Ðàn-Vân Phật, Cám-Nhãn Phật, Thắng-Huệ Phật,
Quán-Sát-Huệ Phật, Xí-Thạnh-Vương Phật, Kiên-Cố-Huệ Phật,
Tự-Tại-Danh Phật, Sư-Tử-Vương Phật, Tự-Tại Phật, Tối-Thắng-Ðảnh
Phật, Kim-Cang-Trí-Sơn Phật, Diệu-Ðức-Tạng Phật, Bửu-Võng-Nghiêm-Thân
Phật, Thiện-Huệ Phật, Tự-Tại-Thiên Phật, Ðại-Thiên-Vương
Phật, Vô-Y-Ðức Phật, Thiện-Thí Phật, Diệm-Huệ Phật,
Thủy-Thiên Phật, Ðắc-Thượng-Vị Phật, Xuất-Sanh-Vô-Thượng-Công-Ðức
Phật, Tiên-Nhân-Thị-Vệ Phật, Tùy-Thế-Ngữ-Ngôn Phật, Công-Ðức-Tự-Tại-Tràng
Phật, Quang-Tràng Phật, Quán-Thân Phật, Diệu-Thân Phật, Hương-Diệm
Phật, Kim-Cang-Bửu-Nghiêm Phật, Hỉ-Nhãn Phật, Ly-Dục Phật,
Cao-Ðại-Thân Phật, Tài-Thiên Phật, Vô-Thượng-Thiên Phật,
Thuận-Tịch-Diệt Phật, Trí-Giác Phật, Diệt-Tham Phật, Ðại-Diệm-Vương
Phật, Tịch-Chư-Hữu Phật, Tỳ-Xá-Khư-Thiên Phật, Kim-Cang-Sơn
Phật, Trí-Diệm-Ðức Phật, An-Ổn Phật, Sư-Tử-Xuất-Hiện
Phật, Viên-Mãn-Thanh-Tịnh Phật, Thanh-Tịnh-Hiền Phật, Ðệ-Nhất-Nghĩa
Phật, Bá-Quang-Minh Phật, Tối-Tăng-Thượng Phật, Thâm-Tự-Tại
Phật, Ðại-Ðịa-Vương Phật, Trang-Nghiêm-Vương Phật, Giải-Thoát
Phật, Diệu-Âm Phật, Thù-Thắng Phật, Tự-Tại Phật, Vô-Thương-Y-Vương
Phật, Công-Ðức-Nguyệt Phật, Vô-Ngại-Quang Phật, Công-Ðức-Tụ
Phật, Nguyệt-Hiện Phật, Nhựt-Thiên Phật, Xuất-Chư-Hữu
Phật, Dũng-Mãnh-Danh-Xưng Phật, Quang-Minh-Môn Phật, Ta-La-Vương
Phật, Tối-Thắng Phật, Dược-Vương Phật, Bửu-Thắng Phật,
Kim-Cang-Huệ Phật, Vô-Năng-Thắng Phật, Vô-Năng-Ánh-Tế Phật,
Chúng-Hội-Vương Phật, Ðại-Danh-Xưng Phật, Mẫn-Trì Phật,
Vô-Lương-Quang Phật, Ðại-Nguyện-Quang Phật, Pháp-Tự-Tại-Bất-Hư
Phật, Bất-Thối-Ðịa Phật, Tịnh-Thiên Phật, Thiện-Sư Phật,
Kiên-Cố-Khổ-Hạnh Phật, Nhất-Thiết-Thiện-Hữu Phật, Giải-Thoát-Âm
Phật, Du-Hí-Vương Phật, Diệt-Tà-Khúc Phật, Chiêm-Bặc-Tịnh-Quang
Phật, Cụ-Chúng-Ðức Phật, Tối-Thắng-Nguyệt Phật, Chấp-Minh-Cự
Phật, Thù Diệu-Thân Phật, Bất-Khả-Thuyết Phật, Tối-Thanh-Tịnh
Phật, Hữu-An-Chúng-Sanh Phật, Vô-Lượng-Quang Phật, Vô-Úy-Âm
Phật, Thủy-Thiên-Ðức Phật, Bất-Ðộng-Huệ-Quang Phật,
Hoa-Thắng Phật, Nguyệt-Diêm Phật, Bất-Thối-Huệ Phật, Ly-Ái
Phật, Vô-Trước-Huệ Phật, Tập-Công-Ðức-Uẩn Phật, Diệt-Ác-Thú
Phật, Phổ-Tán-Hoa Phật, Sư-Tử-Hống Phật, Ðệ-Nhất-Nghĩa
Phật, Vô-Ngại-Kiến Phật, Phá-Tha-Quân Phật, Bất-Trước-Tướng
Phật, Ly-Phân-Biệt-Hải Phật, Ðoan-Nghiêm-Hải Phật, Tu-Di-Sơn
Phật, Vô-Trước-Trí Phật, Vô-Biên-Toà Phật, Thanh-Tịnh-Trụ
Phật, Tùy-Sư-Hành Phật, Tối-Thượng-Thí Phật, Thường-Nguyệt
Phật, Nhiêu-Ích-Vương Phật, Bất-Ðộng-Tụ Phật, Phổ-Nhiếp-Thọ
Phật, Nhiêu-Ích-Huệ Phật, Trì-Thọ Phật, Vô-Diệt Phật,
Cụ-Túc-Danh-Xưng Phật, Ðại-Oai-Lực Phật, Chủng-Chủng-Sắc-Tướng
Phật, Vô-Tướng-Huệ Phật, Bất-Ðộng-Thiên Phật, Diệu-Ðức-Nan-Tư
Phật, Mãn-Nguyệt Phật, Giải-Thoát-Nguyệt Phật, Vô-Thượng-Vương
Phật, Hi-Hữu-Thân Phật, Phạm-Cúng-Dường Phật, Bất-Thuấn
Phật, Thuận-Tiên-Cổ Phật, Tối-Thượng-Nghiệp Phật, Thuận-Pháp-Trí
Phật, Vô-Thắng-Thiên Phật, Bất-Tư-Nghì-Công-Ðức-Quang Phật,
Tùy-Pháp-Hành Phật, Vô-Lượng-Hiền Phật, Phổ-Tùy-Thuận-Tự-Tại
Phật, Tối-Tôn-Thiên Phật, nhẫn đến đức Lâu-Chí Như-Lai,
tất cả là một ngàn đức Phật đã và sẽ thành Phật trong
Hiền-Kiếp nơi Ta-Bà thế-giới nầy, ta đều làm mẹ của
các Ngài.
Cũng
như ở cõi Ðại-Thiên nầy, vô-lượng thế-giới ở mười
phương, trong tất cả kiếp, những bực tu hành hạnh nguyện
Phổ-Hiền để hóa độ chúng-sanh, ta đều tự thấy thân
mình làm mẹ của các Ngài.
Thiện-Tài
bạch rằng:
Ðại-Thánh
được môn giải-thoát nầy đến nay là bao nhiêu thời-gian?
Ma-Gia
Phu-Nhơn nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Thuở xưa, quá bất-tư-nghì kiếp số, chẳng
phải đạo-nhãn của bực tối-hậu-thân Bồ-Tát biết được,
có kiếp tên là Tịnh-Quang, thế-giới tên là Tu-Di-Ðức, dầu
là năm loài ở lộn lạo, nhưng cõi đó bằng những chất
báu thanh-tịnh trang-nghiêm không có sự nhơ uế xấu xí. Cõi
đó có ngàn ức Tứ-Thiên-Hạ. Trong đó có một Tứ-Thiên-Hạ
tên là Sư-Tử-Tràng. Nơi đây có tám mươi ức Vương-Thành.
Có một Vương-Thành tên là Tự-Tại-Tràng, ngự trị bởi
Chuyển-Luân-Vương tên là Ðại-Oai-Ðức.
Phía
bắc Vương-Thành Tự-Tại-Tràng, có một đạo-tràng tên là
Mãn-Nguyệt-Quang-Minh. Thần đạo-tràng nầy tên là Từ-Ðức.
Bấy
giờ có Bồ-Tát tên là Ly-Cấu-Tràng ngồi nơi đạo-tràng
nầy thành Ðẳng-Chánh-Giác.
Có
một ác-ma tên là Kim-Sắc-Quang cùng quyến thuộc vô-lượng
chúng câu hội đến chỗ Bồ-Tát.
Chuyển-Luân-Vương
Ðại-Oai-Ðức đã được bồ-tát thần-thông tự-tại, biến
hóa binh chúng đông hơn quân ma bao vây đạo-tràng. Quân ma
sợ hãi tự tan rã. Do đó Bồ-Tát Ly-Cấu-Tràng thành Vô-Thượng
Chánh-Giác.
Thần
đạo-tràng thấy sự việc trên đây, lòng hoan hỉ vô-lượng,
với Chuyển-Luân-Vương tưởng là con trai của mình, đối
trước Phật pháp nguyện rằng: Chuyển-Luân-Vương nầy chẳng
luận sanh chỗ nào, nguyện tôi đều làm mẹ của Vương, nhẫn
đến đời Vương thành Phật cũng vậy.
Sau
khi phát nguyện, nơi đạo-tràng ấy, Thần lại từng cúng
dường mười na-do-tha đức Phật.
Nầy
Thiện-nam-tử! Thuở xưa ấy, Thần đạo-tràng tên Từ-Ðức
chính là tiền thân của ta.
Chuyển-Luân-Vương
Ðại-Oai-Ðức là tiền thân của đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai.
Từ
lúc ta phát nguyện thuở xưa ấy, đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai
phàm thọ sanh ở xứ nào cõi nào tu bồ-tát hạnh gieo thiện-căn
giáo-hóa chúng-sanh, nhẫn đến thị-hiện tối-hậu-thân, mỗi
niệm khắp tất cả thế-giới, thị-hiện thần-biến bồ-tát
thọ sanh, thường làm con trai của ta, ta thường làm mẹ của
Ngài.
Nầy
Thiện-nam-tử! Quá-khứ và hiện-tại thập phương thế-giới,
vô-lượng chư Phật lúc sắp thành Ðẳng-Chánh-Giác, đều
từ nơi rốn phóng đại-quang-minh chiếu đến thân ta và cung-diện
của ta ở tối-hâu-thân của các Ngài, ta đều làm mẹ.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát bồ-tát đại-nguyện-trí-huyễn
nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát có đủ tạng đại-bi giáo-hóa chúng-sanh
thường không nhàm đủ, dùng sức tự-tại mỗi mỗi lỗ lông
thị-hiện thần-biến của vô lượng chư Phật.
Ta
thế nào biết được nói được công-đức-hạnh ấy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ở thế-giới nầy, nơi Ðao-Lợi-Thiên, có Thiên-Vương
tên là Chánh-Niệm. Thiên-Vương có người con gái tên là Thiện
Chủ-Quang.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, tu bồ-tát-đạo?
Thiện-Tài
Ðồng-Tử kỉnh lễ nơi chân Ma-Gia Phu-Nhơn, hữu nhiễu vô
số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
42-
Thiện-Tài đến Thiên-Cung Ðao-Lợi, đảnh lễ Thiên-Nữ Thiên-Chủ-Quang,
hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng:
Ðại-Thánh!
Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề mà chưa biết Bồ-Tát
thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?
Tôi
nghe Ðại-Thánh khéo có thể dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Thiện-Nữ
nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát-môn tên là vô-ngại-niệm
thanh-tịnh trang-nghiêm.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta ở nơi thế-lực của môn giải-thoát nầy,
ghi nhớ quá-khứ có một kiếp tên là thanh-liên-hoa. Trong
kiếp đó, ta cúng-dường hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.
Chư
Như-Lai ấy từ khi mới xuất gia, ta đều săn sóc kính thờ
kiến tạo tăng-già-lam, sắm sửa vật dụng.
Lại
lúc chư Phật ấy làm Bồ-Tát ở thai mẹ, lúc đản-sanh, lúc
đi bảy bước, lúc đại sư-tử-hống, lúc làm đồng-tử
ở tại cung, lúc đến cội bồ-đề thành Ðẳng-Chánh-Giác,
lúc chuyển pháp-luân hiện thần-biến giáo-hóa điều phục
chúng-sanh, tất cả sự việc nhẫn đến pháp-tận, ta đều
ghi nhớ rõ không sai sót.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thiện-Ðịa, trong kiếp ấy
ta cúng-dường mười hằng-hà-sa-số chư Phật Nhu-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Diệu-Ðức, trong kiếp ấy
ta cúng-dường một phật-sát vi-trần-số chư Phật Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Vô-Sở-Ðắc, trong kiếp ấy
ta cúng-dường tám mươi bốn ức trăm ngàn na-do-tha chư Phật
Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thiện-Quang trong kiếp ấy
ta cúng-dường diêm-phù-đề vi-trần-số chư Phật Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Vô-Lượng-Quang, trong kiếp
ấy ta cúng-dường hai mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Tối-Thắng-Ðức, trong kiếp
ấy ta cúng-dường một hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thiện-Bi, trong kiếp ấy ta
cúng-dường tám mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thắng-Du, trong kiếp ấy ta
cúng-dường sáu mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.
Ta
lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Diệu-Nguyệt, trong kiếp ấy
ta cúng-dường bảy mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ghi nhớ quá-khứ hằng-hà-sa-số kiếp như vậy,
ta thường chẳng bỏ rời chư Phật Như-Lai Chánh-Ðẳng-Giác.
Ở
chỗ chư Như-Lai như vậy ta nghe môn giải-thoát bồ-tát vô-ngại-niệm
thanh-tịnh trang-nghiêm nầy thọ trì tu hành hằng chẳng quên
mất.
Những
kiếp trước như vậy có bao nhiêu đức Như-Lai từ sơ Bồ-Tát
nhẫn đến pháp tận, tất cả sự việc của chư Phật đã
làm, ta dùng sức giải-thoát thanh-tịnh trang-nghiêm, đều ghi
nhớ rõ ràng như hiện trước mắt, và ta giữ gìn tùy thuận
tuân hành từng không bỏ phế.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát vô-ngại-niệm
thanh-tịnh trang-nghiêm nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát ra khỏi đêm sanh tử, sáng suốt rời hẳn
si tối, chưa từng mê ngủ, tâm không bị che chướng, thân
luôn khinh an, thanh tịnh biết rõ các pháp-tánh, thành tựu
thập-lực khai ngộ quần sanh.
Ta
thế nào biết được nói được công-đức-hạnh đó.
Nầy
Thiện-nam-tử! Thành Ca-Tỳ-La có Ðồng-Tử-Sư tên là Biến-Hữu.
Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh,
tu bồ-tát-đạo.
Nhờ
nghe pháp, Thiện-Tài vui mừng hớn hở thiện-căn bất-tư-nghì
tự-nhiên thêm lớn rộng, bèn đảnh lễ nơi chân Thiên-Nữ
Thiên-Chủ-Quang, hữu nhiễu vô-số vòng từ tạ mà đi.
43-
Thiện-Tài từ Thiên-Cung xuống đi lần đến thành Ca-Tỳ-La
chỗ của Biến-Hữu đảnh lễ hữu-nhiễu, đứng chắp tay
cung kính thưa rằng:
Ðại-Thánh!
Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa biết Bồ-Tát
thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.
Tôi
nghe Ðại-Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Biến-Hữu
nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Nơi đây có Ðồng-Tử tên là Thiện-Tri-Chúng-Nghệ-Học-Bồ-Tát-Tự-Trí,
ngươi nên đến hỏi.
44-
Thiện-Tài vâng lời đến đảnh lễ đồng-tử, cung kính thưa
rằng:
Bạch
đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề mà chưa
biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.
Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Ðồng-Tử
nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát-môn tên là thiện-tri-chúng-nghệ.
Ta
hằng xướng trì những tự-mẫu nầy:
Lúc
xướng chữ A, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là bồ-tát-oai-lực
nhập vô-sai-biệt cảnh-giới.
Lúc
xướng chữ ÐA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là vô-biên-sai-biệt-môn.
Lúc
xướng chữ BA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là phổ-chiếu-pháp-giới.
Lúc
xướng chữ GIẢ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là
phổ-luân-đoạn-sai-biệt.
Lúc
xướng chữ NA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là đắc-vô-y-vô-thượng.
Lúc
xướng chữ LÃ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là y-chỉ-vô-cấu.
Lúc
xướng chữ ÐẢ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là
bất-thối-chuyển-phương-tiện.
Lúc
xướng chữ BÀ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là kim-cang-tràng.
Lúc
xướng chữ ÐỒ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là
nhật-phổ-luân.
Lúc
xướng chữ SA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là hải-tạng.
Lúc
xướng chữ PHƯỢC, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên
là phổ-sanh-an-trụ.
Lúc
xướng chữ ÐÁ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là
viên-mãn-quang.
Lúc
xướng chữ DÃ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là sai-biệt-tích-tụ.
Lúc
xướng chữ SẮC-TRA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên
là phổ-quang-minh-tức-phiền-não.
Lúc
xướng chữ CA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là Vô-sai-biệt-vân.
Lúc
xướng chữ TA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là giáng-chú-đại-vũ.
Lúc
xướng chữ MẠ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là
đại-lưu-thoan-khích-chúng-phong-tề-trĩ.
Lúc
xướng chữ GIÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên
là phổ-an-lập.
Lúc
xướng chữ THA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên
là chơn-như-bình-đẳng-tạng.
Lúc
xướng chữ XÃ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là nhập-thế-gian-hải-thanh-tịnh.
Lúc
xướng chữ TOẢ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
niệm-nhứt-thiết-phật-trang-nghiêm.
Lúc
xướng chữ ÐÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
quán-sát-giản-trạch-nhất-thiết-pháp-tụ.
Lúc
xướng chữ XA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tùy-thuận-nhất-thiết-phật-giáo-luân-quang-minh.
Lúc
xướng chữ KHƯ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
tu-nhơn-địa-trí-huệ-tạng.
Lúc
xướng chữ XOA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tức-chư-nghiệp-hải-tạng.
Lúc
xướng chữ TA-ÐA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
quyên-chư-hoặc-chướng-khai-tịnh-quang-minh.
Lúc
xướng chữ NHƯƠNG, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên
là tác-thế-gian-trí-huệ-môn.
Lúc
xướng chữ HẠT-LÃ-ÐA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật
tên là sanh-tử-cảnh-giới-trí-huệ-luân.
Lúc
xướng chữ BÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là nhất-thiết-trí-cung-điện-viên-mãn-trang-nghiêm.
Lúc
xướng chữ XA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tu-hành-phương-tiện-tạng-các-biệt-viên-mãn.
Lúc
xướng chữ TA-MẠ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
tùy-thập-phương-hiện-kiến-chư-phật.
Lúc
xướng chữ HA-BÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
quán-sát nhất-thiết vô-duyên chúng-sanh phương-tiện nhiếp-thọ
linh xuất-sanh vô-ngại-lực.
Lúc
xướng chữ THA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tu-hành-xu-nhập-nhất-thiết-công-đức-hải.
Lúc
xướng chữ GIÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
trì-nhất thiết-pháp-vân-kiên-cố-hải-tạng.
Lúc
xướng chữ TRA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tùy-nguyện-phổ-kiến-thập-phương-chư-Phật.
Lúc
xướng chữ NÃ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là quán-sát
tự-luân hữu vô-tận chư ức tự.
Lúc
xướng chữ TA-PHÃ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
hóa-chúng-sanh-cứu-cánh-xứ.
Lúc
xướng chữ TA-CA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
quảng-đại-tạng-vô-ngại-biện-quang-minh-luân-biến-chiếu.
Lúc
xướng chữ DÃ-TA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
tuyên-thuyết nhất-thiết-phật-pháp cảnh-giới.
Lúc
xướng chữ THẤT, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
nhất-thiết chúng-sanh-giới pháp-lôi biến-hống.
Lúc
xướng chữ SÁ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là dĩ
vô-ngã-pháp khai-hiểu chúng-sanh.
Lúc
xướng chữ ÐÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là
nhất-thiết pháp-luân sai-biệt-tạng.
Nầy
Thiện-nam-tử! Lúc ta xướng những tự-mẫu như vậy, thời
trước tiên ta nhập bốn mươi hai môn bát-nhã ba-la-mật đây
cùng với vô-lượng vô-số môn bát-nhã ba-la-mật.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát bồ-tát thiện
tri chúng nghệ nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát có thể đối với pháp thiện-xảo thế-gian
và xuất-thế-gian dùng trí thông đạt đến bỉ-ngạn. Những
phương-pháp lạ, những nghề nghiệp khéo đều thấu đáo
không sót. Hiểu rành những văn tự toán số, Y-phương, chú-thật,
trị lành bịnh tật.
Lại
biết rành những chỗ sản xuất vàng, bạc, châu, ngọc, san-hô,
lưu-ly, ma-ni, xa-cừ, tất cả kho tàng bửu-vật, những phẩm-loại,
những giá-trị.
Những
xóm làng thành ấp, cung điện vườn tược, núi, rừng, suối,
ao phàm những chỗ ở của tất cả nhơn chúng, Bồ-Tát đều
có thể phương-tiện nhiếp thọ.
Bồ-Tát
lại khéo quán-sát thiên-văn, địa-lý, tướng người tốt
xấu, tiếng của chim thú, mây ráng khí hậu, trúng mùa, thất
thu, quốc độ an nguy, tất cả kỹ nghệ thế-gian Bồ-Tát
đều rành rẽ tận nguyên bổn tất cả.
Bồ-Tát
lại có thể phân biệt pháp xuất thế, chánh-danh biện-nghĩa
quán-sát thể tướng, tùy thuận tu hành, trí nhập trong đó,
không nghi ngại, không ngu tối, không ngoan độn, không ưu-não,
không trầm một, đều hiện chứng tất cả.
Ta
thế nào biết được, nói được công-đức-hạnh đó.
Nầy
Thiện-nam-từ! Nước Ma-Kiệt-Ðề có một tụ-lạc, trong đó
có thành Bà-Ðát-Na. Trong thành ấy có một ưu-bà-di tên là
Hiền-thắng.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, tu bồ-tát-đạo?
Thiện-Tài
đảnh lễ Tri-Nghệ Ðồng-Tử, hữu-nhiễu vô-số vòng, luyến
mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
45-
Thiện-Tài đến thành Bà-Ðát-Na đảnh lễ Hiền-Thắng, hữu-nhiễu
cung kính, chắp tay thưa rằng:
Bạch
đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa
biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.
Tôi
nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Ưu-bà-di
Hiền-Thắng nói:
Nầy
Thiện-nam-từ! Ta được môn bồ-tát giải-thoát tên là vô-y-xứ
đạo-tràng. Nơi môn giải-thoát nầy, ta đã thông đạt và
đem dạy người.
Ta
lại được môn vô-tận tam-muội, vì có thể xuất sanh nhất-thiết-trí-tánh
nhãn vô-tận, nhĩ vô-tận, tỹ vô-tận, thiệt vô-tân, thân
vô-tận, ý vô-tận, công-đức vô-tận, trí-huệ vô-tận,
thần-thông vô-tận.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn bồ-tát giải-thoát vô-y-xứ
đạo-tràng nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát tất cả công-đức-hạnh không chắp trước,
ta thế nào biết được nói được.
Nầy
Thiện-nam-từ! Phương nam có thành Ốc-Ðiền. Trong thành ấy
có trưởng-giả Kiên-Cố-Giải-Thoát.
Ngươi
nên đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế
nào tu bồ-tát-đạo?
46-
Thiện-Tài đảnh lễ Hiền-Thắng, hữu nhiễu vô-số vòng,
luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua hướng nam đến
chỗ trưởng-giả đảnh lễ hữu nhiễu cung kính chắp tay
thưa rằng:
Bạch
đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa
biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.
Tôi
nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Trưởng-giả
nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta được môn bồ-tát-giải-thoát tên là vô-trước-niệm-thanh-tịnh-trang-nghiêm.
Từ
khi ta được môn giải-thoát nầy đến nay, ta siêng cầu chánh-pháp
nơi thập phương chư Phật không thôi dứt.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát vô-trước-niệm
thanh-tịnh trang-nghiêm.
Như
chư đại Bồ-Tát được vô-úy sư-tử-hống, an trụ nơi phước
trí quảng-đại, mà ta thế nào biết được, nói được công-đức
hạnh ấy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Chính trong thành nầy có một trưởng-giả tên
là Diệu-Nguyệt, nhà ông thường có quang-minh.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào
tu bồ-tát-đạo?
Thiện-Tài
đảnh lễ trưởng-giả Kiên-Cố Giải-Thoát, hữu nhiễu vô-số
vòng, từ tạ đi đến nhà trưởng-giả Diệu-Nguyệt đảnh
lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng:
47-
Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề mà
chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu
bồ-tát-đạo.
Tôi
nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Trưởng-giả
Diệu-Nguyệt nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát tên là tịnh-trí-quang-minh.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát nầy. Như chư đại
Bồ-Tát chứng được vô-lượng môn giải-thoát. Ta thế nào
biết được nói được công-đức hạnh ấy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Phương nam có thành Xuất-Sanh. Nơi đó có trưởng-giả
tên là Vô-Thắng-Quân.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào
tu bồ-tát-đạo?
Thiện-Tài
đảnh lễ trưởng-giả Diệu-Nguyệt, hữu nhiễu vô-số vòng,
từ tạ đi qua phương nam, đến đảnh lễ trưởng-gia Vô-Thắng-Quân,
cung kính thưa rằng:
48-
Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà
chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu
bồ-tát-đạo.
Tôi
nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Trưởng-giả
Vô-Thắng-Quân nói:
Nầy
Thiệ-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát tên là vô-tận-tướng.
Ta
do chứng môn bồ-tát giải-thoát nầy nên thấy vô-lượng
chư Phật, được vô-tận-tạng.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát vô-tận-tướng
nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát được vô-hạn-trí vô-ngại biện-tài, ta
làm sao biết được nói được công-đức-hạnh ấy.
Nầy
Thiện-nam-tử! Thành-nam nầy có tụ-lạc Chi-Vi-Pháp. Trong đó
có một bà-la-môn tên là Tối-tịch-Tịnh.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào
tu bồ-tát-đạo?
49-
Thiện-Tài đảnh lễ Trưởng-giả Vô-Thắng-Quân hữu nhiễu
vô-số vòng luyến-mộ chiêm-ngưỡng từ tạ đi đến đảnh
lễ Tối-Tịch-Tịnh, hữu nhiễu cung kính chắp tay thưa rằng:
Bạch
đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa
biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.
Tôi
nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
Bà-La-Môn
nói:
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta được môn bồ-tát giải-thoát tên là Thành-Nguyện-Ngữ.
Chư
Bồ-Tát quá-khứ hiện-tại và vị-lai do dùng lời nói chơn
thành nầy nên được không thối-chuyển đạo vô-thượng
bồ-đề, không đã thối, không hiện thối, không sẽ thối.
Do
ta trụ nơi lời nói thành-nguyện nên làm điều chi cũng được
toại ý.
Nầy
Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát thành-nguyện-ngữ
nầy.
Như
chư đại Bồ-Tát đi đứng đều chẳng trái với thành-nguyện-ngữ,
lời nói ra quyết là chơn thành chưa bao giờ hư vọng, do đây
xuất sanh vô-lượng công-đức. Ta làm sao biết được nói
được công-đức-hạnh đó.
Nầy
Thiện-nam-tử! Phương nam đây có thành tên là Diệu-Ý-Hoa-Môn.
Nơi đó có Ðồng-Tử tên là Ðức-Sanh, lại có Ðồng-Nữ
tên là Hữu-Ðức.
Ngươi
đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào
tu bồ-tát-đạo.
Thiện-Tài
đảnh lễ Tối-Tịch-Tịnh hữu nhiễu vô-số vòng, từ tạ
đi qua phương nam.
