(1)
Bấy giờ đức Thế-Tôn ở trong đạo-tràng Bồ-Ðề tại
nước Ma-Kiệt-Ðề vừa thành bực chánh-giác, nơi điện Phổ-Quang-Minh
nhập tam-muội tên Sát-Na-Tế-Chư-Phật, dùng sức nhứt-thiết-trí-tự-thần-thông
hiện thân Như-Lai thanh-tịnh vô-ngại không chỗ y-tựa, không
chỗ nhiễm trước, có thể làm cho người thấy đều được
khai-ngộ. Tùy nghi xuất hiện chẳng lỗi thời. Hằng trụ
một tướng, chính là vô-tướng. Cùng với mười phật-sát
vi-trần-số đại Bồ-Tát câu-hội. Chư Bồ-Tát này đều
là bực Quán-Ðảnh đầy đủ hạnh Bồ-Tát đồng như pháp-giới
vô-lượng vô biên, đã được Phổ-Kiến tam-muội, đại-bi
an-ổn tất cả chúng-sanh, thần-thông tự-tại, thâm-nhập
trí-huệ đồng với Như-Lai, diễn nghĩa chân thiệt, đủ nhứt-thiết-trí
hàng phục chúng ma. Dầu nhập thế-gian mà tâm luôn tịch-tịnh,
an-trụ nơi giải-thoát vô-trụ của Bồ-Tát. Danh hiệu của
các người là :
Kim-Cang-Huệ
Bồ-Tát, Vô-Ðẳng-Huệ Bồ-Tát, Nghĩa-Ngữ-Huệ Bồ-Tát, Tối-Thắng-Huệ
Bồ-Tát, Thường-Xả-Huệ Bồ-Tát, Na-Dà-Huệ Bồ-Tát, Thành-Tựu-Huệ
Bồ-Tát, Ðiều-Thuận-Huệ Bồ-Tát, Ðại-Lực-Huệ Bồ-Tát,
Nan-Tư-Huệ Bồ-Tát, Vô-Ngại-Huệ Bồ-Tát, Tăng-Thượng-Huệ
Bồ-Tát, Phổ-Cúng-Huệ Bồ-Tát, Như-Lý-Huệ Bồ-Tát, Thiện-Xảo-Huệ
Bồ-Tát, Pháp-Tự-Tại-Huệ Bồ-Tát, Pháp-Huệ Bồ-Tát, Tịch-Tịnh-Huệ
Bồ-Tát, Hư-Không-Huệ Bồ-Tát, Nhứt-Tướng-Huệ Bồ-Tát,
Thiện-Huệ Bồ-Tát, Như-Huyễn-Huệ Bồ-Tát, Quảng-Ðại-Huệ
Bồ-Tát, Thế-Lực-Huệ Bồ-Tát, Thế-Gian-Huệ Bồ-Tát, Phật-Ðịa-Huệ
Bồ-Tát, Chơn-Thiệt-Huệ Bồ-Tát, Tôn-Thắng-Huệ Bồ-Tát,
Trí-Quang-Huệ Bồ-Tát, Vô-Biên-Huệ Bồ-Tát, Niệm-Trang-Nghiêm
Bồ-Tát, Ðạt-Không-Tế Bồ-Tát, Tánh-Trang-Nghiêm Bồ-Tát,
Thậm-Thâm-Cảnh Bồ-Tát, Thiện-Giải-Xứ-Phi-Xứ Bồ-Tát,
Ðại-Quang-Minh Bồ-Tát, Thường-Quang-Minh Bồ-Tát, Liễu-Phật-Chủng
Bồ-Tát, Tâm-Vương Bồ-Tát, Nhứt-Hạnh Bồ-Tát, Thường-Hiện-Thần-Thông
Bồ-Tát, Trí-Huệ-Nha Bồ-Tát, Công-Ðức-Xứ Bồ-Tát, Pháp-Ðăng
Bồ-Tát, Chiếu-Thế Bồ-Tát, Trì-Thế Bồ-Tát, Tối-An-Ổn
Bồ-Tát, Tối-Thượng Bồ-Tát, Vô-Thượng Bồ-Tát, Vô-Tỉ
Bồ-Tát, Siêu-Luân Bồ-Tát, Vô-Ngại-Hạnh Bồ-Tát, Quang-Minh-Diệm
Bồ-Tát, Nguyệt-Quang Bồ-Tát, Nhứt-Trần Bồ-Tát, Kiên-Cố-Hạnh
Bồ-Tát, Chú-Pháp-Vũ Bồ-Tát, Tối-Thắng-Tràng Bồ-Tát, Phổ-Trang-Nghiêm
Bồ-Tát, Trí-Nhãn Bồ-Tát, Pháp-Nhãn Bồ-Tát, Huệ-Vân Bồ-Tát,
Tổng-Trì-Vương Bồ-Tát, Vô-Trụ-Nguyện Bồ-Tát, Trí-Tạng
Bồ-Tát, Tâm-Vương Bồ-Tát, Nội-Giác-Huệ Bồ-Tát, Trụ-Phật-Trì
Bồ-Tát, Ðà-La-Ni-Dũng-Kiện-Lực Bồ-Tát, Trì-Ðiạ-Lực Bồ-Tát,
Diệu-Nguyệt Bồ-Tát, Tu-Di-Ðảnh Bồ-Tát, Bửu-Ðảnh Bồ-Tát,
Phổ-Quang-Chiếu Bồ-Tát, Oai-Ðức-Vương Bồ-Tát, Trí-Huệ-Luân
Bồ-Tát, Ðại-Oai-Ðức Bồ-Tát, Ðại-Long-Tướng Bồ-Tát,
Chất-Trực-Hạnh Bồ-Tát, Bất-Thối-Chuyển Bồ-Tát, Trì-Pháp-Tràng
Bồ-Tát, Vô-Vong-Thất Bồ-Tát, Nhiếp-Chư-Thú Bồ-Tát, Bất-Tư-Nghì-Quyết-Ðịnh-Huệ
Bồ-Tát, Du-Hí-Vô-Biên-Trí Bồ-Tát, Vô-Tận-Diệu-Pháp-Tạng
Bồ-Tát, Trí-Nhựt Bồ-Tát, Pháp-Nhựt Bồ-Tát, Trí-Tạng Bồ-Tát,
Trí-Trạch Bồ-Tát, Phổ-Kiến Bồ-Tát, Bất-Không-Kiến Bồ-Tát,
Kim-Cang-Dũng Bồ-Tát, Kim-Cang-Trí Bồ-Tát, Kim-Cang-Diệm Bồ-Tát,
Kim-Cang-Huệ Bồ-Tát, Phổ-Nhãn Bồ-Tát, Phật-Nhựt Bồ-Tát,
Trì-Phật-Kim-Cang-Bí-Mật-Nghĩa Bồ-Tát, Phổ-Nhãn-Cảnh-Giới-Trí-Trang-Nghiêm
Bồ-Tát, . . .
Mười
phật-sát vi-trần-số đại Bồ-Tát như vậy, thuở xưa đều
cùng với đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai đồng tu những thiện-căn-hạnh
của Bồ-Tát.
Bấy
giờ Phổ-Nhãn Bồ-Tát thừa thần-lực của Phật, từ chỗ
ngồi đứng dậy, trịch y vai bên hữu, gối bên hữu quỳ
sát đất, chấp tay bạch Phật rằng : "Bạch đức Thế-Tôn
! Con có chỗ muốn hỏi nơi đấng Như-Lai Ðẳng Chánh-Giác,
xin thương xót cho phép".
Phật
nói: "Phổ-Nhãn ! Cho phép ngươi hỏi. Ta sẽ giải thuyết cho
ngươi được hoan-hỷ".
Phổ-Nhãn
Bồ-Tát thưa : " Bạch đức Thế-Tôn ! Phổ-Hiền Bồ-Tát và
chúng Bồ-Tát an-trụ nơi hạnh nguyện Phổ-Hiền, thành-tựu
bao nhiêu tam-muội giải-thoát, mà hoặc nhập, hoặc xuất,
hoặc có lúc an-trụ nơi các đại tam-muội của Bồ-Tát. Vì
khéo nhập xuất nơi các đại tam-muội quảng-đại bất-tư-nghì
của Bồ-Tát nên có thể ở nơi tất cả tam-muội thần-thông
biến-hóa tự-tại không thôi nghỉ ? ".
Phật
nói : " Lành thay ! Nầy Phổ-Nhãn ! Người vì lợi ích cho chúng
Bồ-Tát thuở quá-khứ, vị-lai và hiện-tại mà hỏi nghĩa
trên đây.
Nầy
Phổ-Nhãn ! Phổ-Hiền Bồ-Tát hiện đương ở tại đây, đã
thành tựu thần-thông tự-tại bất tư-nghì vượt lên trên
tất cả Bồ-Tát, khó gặp-gỡ được. Từ nơi vô-lượng
Bồ-Tát hạnh, Phổ-Hiền phát sanh Bồ-Tát đại-nguyện, những
công hạnh đều đã thanh-tịnh, đều không thối-chuyển. Vô-lượng
môn ba-la-mật, môn vô-ngại đà-la-ni, môn biện-tài vô-tận-Phổ-Hiền
đều đã thanh-tịnh vô-ngại cả. Do bổn-nguyện-lực, Phổ-Hiền
vận lòng đại-bi lợi ích tất cả chúng-sanh suốt thuở vị-lai
không hề nhàm mỏi.
Ngươi
nên hỏi Phổ-Hiền. Bồ-Tát ấy sẽ vì ngươi mà nói về
tam-muội tự-tại giải-thoát đó ".
Bấy
giờ chúng Bồ-Tát trong hội nghe danh hiệu Phổ-Hiền, tức
thời chúng được vô-lượng bất-tư-nghì tam-muội, tâm được
vô-ngại yên tịnh chẳng động, trí-huệ rộng lớn khó dò
lường được, cảnh-giới rất sâu ít ai sánh kịp, hiện
tiền đều thấy vô-lượng chư Phật, được Phật-lực, đồng
Phật-tánh, chiếu sáng suốt ba thuở quá khứ, vị-lai, hiện-tại.
Ðược phước-đức vô cùng tận, tất cả thần-thông đều
đã đầy đủ.
Chư
Bồ-Tát này đối với Phổ-Hiền Bồ-Tát sanh lòng tôn-trọng
khát ngưỡng muốn thấy, nhưng nhìn khắp mọi nơi mà vẫn
không thấy, cũng chẳng thấy tòa ngồi của Phổ-Hiền Bồ-Tát.
Sự
không thấy Phổ-Hiền Bồ-Tát của đại chúng trên đây là
do oai lực của Như-Lai và cũng là thần-thông tự-tại của
Phổ-Hiền Bồ-Tát khiến như vậy.
Phổ-Nhãn
Bồ-Tát thưa : " Bạch đức Thế-Tôn ! Phổ-Hiền Bồ-Tát hiện
nay ở đâu ? ".
Phật
nói : " Nầy Phổ-Nhãn ! Phổ-Hiền Bồ-Tát hiện đương ngồi
gần bên ta không hề dời chỗ. "
Phổ-Nhãn
Bồ-Tát và chư Bồ-Tát lại ngó tìm khắp cả hội-trường
rồi thưa : " Bạch đức Thế-Tôn ! Nay chúng con vẫn chưa thấy
được thân và tòa ngồi của Phổ-Hiền Bồ-Tát".
Phật
nói : " Ðúng thế ! Vì cớ chi mà các ngươi chẳng thấy được
? Nầy Phổ-Nhãn ! Vì trụ xứ của Phổ-Hiền Bồ-Tát rất
sâu bất-khả-thuyết. Phổ-Hiền Bồ-Tát được vô-biên môn
trí-huệ, nhập sư-tử-phấn-tấn định, được lực-dụng
tự-tại vô-thượng, vào nơi vô-ngại thanh-tịnh sanh mười
trí-lực của Như-Lai, lấy pháp-giới-tạng làm thân, tất
cả Như-Lai đồng hộ-niệm, khoảng một niệm có thể chứng
nhập trí vô-sai-biệt của tam-thế chư Phật. Vì thế nên
các ngươi không thấy được ".
Phổ-Nhãn
Bồ-Tát nghe Phật nói công-đức thanh-tịnh của Phổ-Hiền
Bồ-Tát liền được mười ngàn vô-số tam-muội. Dùng sức
tam-muội lại khát ngưỡng quán-sát muốn thấy Phổ-Hiền
Bồ-Tát, nhưng cũng vẫn chẳng thấy. Tất cả chư Bồ-Tát
khác cũng chẳng thấy.
Bấy
giờ Phổ-Nhãn Bồ-Tát xuất tam-muội thưa: "Bạch đức Thế-Tôn
! Con đã nhập mười ngàn vô-số tam-muội cầu thấy Phổ-Hiền
Bồ-Tát, nhưng vẫn chẳng được thấy. Chẳng thấy thân và
thân-nghiệp, ngữ và ngữ-nghiệp, ý và ý-nghiệp cùng tòa
ngồi chỗ ở của Phổ-Hiền Bồ-Tát ".
Phật
nói : " Ðúng thế, đúng thế ! Nầy Phổ-Nhãn ! Phải biết
đều do Phổ-Hiền Bồ-Tát an-trụ trong sức bất-tư-nghì giải-thoát.
Nầy
Phổ-Nhãn ! Như ý ngươi nghĩ sao ? Có người nào nói được
trụ-xứ của các huyễn-tướng ở trong huyễn-thuật văn tự
chăng ? "
- Bạch
Thế-Tôn ! Không thể nói được.
- Nầy
Phổ-Nhãn ! Tướng huyễn trong huyễn-thuật còn không thể
nói, huống là cảnh- giới thân bí-mật, cảnh-giới ngữ bí-mật
và cảnh- giới ý bí-mật của Phổ-Hiền mà có thể nhập
có thể thấy được. Vì cảnh- giới của Phổ-Hiền Bồ-Tát
thậm-thâm bất-tư-nghì, vô-lượng, đã ngoài hạn-lượng.
Tóm
lại, Phổ-Hiền Bồ-Tát dùng kim-cang-huệ vào khắp pháp-giới,
nơi tất cả thế-giới : vô-sở-hành, vô-sở-trụ. Biết thân
của tất cả chúng-sanh đều tức là phi-thân, không đi không
đến. Ðược không đoạn diệt vô-sai-biệt thần-thông tự-tại.
Không y-tựa không tạo-tác không động chuyển, đến nơi biên-tế
rốt ráo của pháp-giới.
Nầy
Phổ-Nhãn ! Nếu ai được thấy Phổ-Hiền Bồ-Tát, nếu được
hầu hạ, nếu được nghe danh, nếu có tư-duy, nếu có tưởng
nhớ, nếu sanh tín-giải, nếu siêng quán-sát, nếu mới xu-hướng,
nếu đương tìm cầu, nếu phát thệ nguyện tiếp nối không
dứt thời đều được lợi ích không luống uổng.
Bấy
giờ Phổ-Nhãn và chúng Bồ-Tát đối với Phổ-Hiền Bồ-Tát
sanh lòng khát ngưỡntg trông mong được thấy, đồng xướng
lên rằng : " Nam-mô nhứt-thiết chư Phật ! Nam-mô Phổ-Hiền
Bồ-Tát".
Xướng
ba lần như thế xong, chúng Bồ-Tát và Phổ-Nhãn đồng cúi
đầu đảnh lễ.
Phật
bảo Phổ-Nhãn Bồ-Tát và đại-chúng: "Chư Phật-tử ! Các
ngươi lại phải kính lễ Phổ-Hiền Bồ-Tát ân-cần cầu
thỉnh. Rồi phải chuyên tâm quan-sát mười phương, tưởng
thân Phổ-Hiền hiện ở trước mình. Suy gẫm như vậy khắp
cả pháp-giới, thâm-tâm tín-giải, nhàm lìa tất cả, thệ
đồng một hạnh-nguyện với Phổ-Hiền Bồ-Tát vào nơi pháp
chơn-thiệt bất-nhị, thân mình hiện khắp tất cả thế-gian,
biết rõ các căn-tánh sai biệt của chúng-sanh, khắp mọi nơi
tập họp đạo Phổ-Hiền.
Nếu
các ngươi có thể phát đại-nguyện như vậy thời sẽ được
thấy Phổ-Hiền Bồ-Tát.
Nghe
Phật dạy xong, Phổ-Nhãn Bồ-tát và đại-chúng đồng thời
đảnh lễ cầu thỉnh được thấy Phổ-Hiền Bồ-Tát.
Bấy
giờ Phổ-Hiền Bồ-Tát liền dùng sức giải-thoát thần-thông
theo chỗ đáng hiện mà hiện sắc-thân, làm cho tất cả chúng
Bồ-Tát đều thấy Phổ-Hiền Bồ-Tát ngồi trên tòa liên-hoa
gần đức Như-Lai. Cũng thấy nơi tất cả thế-giới khác,
chỗ tất cả chư Phật, Phổ-Hiền Bồ-Tát tuần tự nối
tiếp mà đến. Cũng thấy nơi tất cả chư Phật kia diễn
thuyết tất cả hạnh bồ-tát khai-thị đạo nhứt-thiết-chủng-trí
xiển minh tất cả thần-thông của Bồ-Tát, phân-biệt tất
cả oai-đức của Bồ-Tát thị-hiện tất cả tam-thế chư
Phật.
Bấy
giờ Phổ-Nhãn và chúng Bồ-Tát thấy thần-biến nầy, lòng
hớn-hở và rất vui mừng, đều đảnh lễ Phổ-Hiền Bồ-Tát
tôn trọng xem như tất cả chư Phật mười phương.
Do
thần-lực của Phật và do sức tín-giải của chúng Bồ-Tát
cùng với sức bổn-nguyện của Phổ-Hiền Bồ-Tát tự nhiên
kết tụ mười ngàn thứ mây báu : những mây hoa, mây tràng-hoa,
mây hương, mây hương bột, mây lọng, mây y-phục, mây đồ
trang-nghiêm, mây trân bửu, mây hương đốt, mây lụa màụ
Bất-khả-thuyết
thế-giới chấn động sáu cách, trổi các thứ nhạc trời,
tiếng vang xa đến bất-khả-thuyết thế-giới. Phóng quang-minh
chiếu khắp bất-khả-thuyết thế-giới làm cho ba ác đạo
đều được thoát khổ. Nghiêm tịnh bất-khả-thuyết thế-giới
làm cho bất-khả-thuyết Bồ-Tát nhập hạnh Phổ-Hiền, bất-khả-thuyết
Bồ-Tát viên-mãn hạnh nguyện Phổ-Hiền thành bực vô-thượng
chánh-giác.
Phổ-Nhãn
Bồ-Tát thưa : " Bạch đức Thế-Tôn ! Phổ-Hiền Bồ-Tát là
bực trụ nơi oai-đức lớn, trụ nơi vô-đẳng, trụ nơi vô-quá,
trụ nơi bất-thối, trụ nơi bình-đẳng, trụ nơi bất-hoại,
trụ nơi tất cả pháp sai-biệt, trụ nơi tất cả pháp vô-sai-biệt,
trụ nơi tất cả chúng-sanh tâm thiện-xảo an-trụ, trụ nơi
tất cả pháp tự-tại giải-thoát tam-muội.
Phật
nói : " Ðúng thế ! Ðúng thế ! Như lời ngươi đã nói. Phổ-Hiền
Bồ-Tát có vô-số công-đức thanh-tịnh. Những là vô-đẳng
trang-nghiêm công-đức, vô-lượng bửu công-đức, bất-tư-nghì-hải
công-đức, vô-lượng-tướng công-đức, vô-biên-vân công-đức,
vô-biên-tế bất-khả-xưng-tán công-đức, vô-tận-pháp công-đức,
bất-khả-thuyết công-đức, nhứt-thiết Phật công-đức,
xưng-dương tán-thán bất-khả-tận công-đức.
Phật
bảo Phổ-Hiền Bồ-Tát rằng: " Phổ-Hiền ! Ngươi nên vì
Phổ-Nhãn và chúng Bồ-Tát trong đại-hội mà nói mười đại
tam-muội, cho họ được khéo nhập và thành tựu viên-mãn
hạnh nguyện của Phổ-Hiền.
Vì
chư đại Bồ-Tát nói mười đại tam-muội nầy khiến quá-khứ
Bồ-Tát đã được xuất-ly, hiện-tại Bồ-Tát đương được
xuất-ly, vị-lai Bồ-Tát sẽ được xuất-ly.
Ðây
là mười : một là phổ-quang đại tam-muội, hai là diệu-quang
đại tam-muội, ba là thứ-đệ-biến-vãng-chư-Phật-quốc-độ
đại tam-muội, bốn là thanh-tịnh-thâm-tâm-hành đại tam-muội,
năm là tri-quá-khứ-trang-nghiêm-tạng đại tam-muội, sáu là
trí-quang-minh-tạng đại tam-muội, bảy là nhiễu-tri-nhứt-thiết-thế-giới
Phật trang-nghiêm đại tam-muội, tám là chúng-sanh sai-biệt-thân
đại tam-muội, chín là pháp-giới tự-tại đại tam-muội,
mười là vô-ngại-luân đại tam-muội.
Chư
đại Bồ-Tát mới có thể khéo nhập mười đại tam-muội
nầy. Tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và nay đương nói.
Nếu chư Bồ-Tát mến thích tôn trọng tu tập mười đại
tam-muội nầy không trễ-nải, thời được thành-tựu. Những
bực nầy gọi là Phật, là Như-Lai, cũng gọi là đấng được
mười trí-lực, là đấng Ðạo-Sư, đấng Ðại-Ðạo-Sư,
là Nhứt-Thiết-Trí, là Nhứt-Thiết-Kiến, là Trụ-Vô-Ngại,
là Ðạt-Chư-Cảnh, là Nhứt-Thiết-Pháp Tự-Tại. "
Bực
Bồ-Tát nầy vào khắp tất cả thế-giới mà không chấp trước
thế-giới, vào khắp tất cả chúng-sanh-giới mà không thấy
tướng chúng-sanh, vào khắp tất cả thân mà nơi thân được
vô-ngại, vào khắp tất cả pháp-giới, mà biết pháp-giới
là vô-biên, gần-gũi tất cả tam-thế chư Phật, thấy rõ
tất cả pháp của chư Phật, khéo nói tất cả văn-tự, thấu
rõ tất cả giả danh, thành-tựu đạo thanh-tịnh của tất
cả Bồ-Tát, an-trụ tất cả hạnh sai-biệt của Bồ-Tát,
trong một niệm được khắp tất cả pháp tam-thế, nói khắp
tất cả giáo-pháp của chư Phật, chuyển khắp tất cả pháp-luân
bất-thối, nơi quá-khứ, vị-lai, hiện-tại mỗi mỗi đời
chứng khắp tất cả đạo bồ-đề, nơi trong mỗi mỗi bồ-đề
nầy rõ khắp chỗ thuyết pháp của tất cả Phật.
Trên
đây là môn pháp-tướng của chư Bồ-Tát, là môn trí-giác
của chư Bồ-Tát, là môn nhứt-thiết-chủng-trí vô-thắng-tràng,
là môn các hạnh-nguyện của Phổ-Hiền Bồ-Tát, là môn mãnh-lợi
thần-thông thệ-nguyện, là môn nhứt-thiết tổng-trì biện-tài,
là môn tam-thế chư-pháp sai-biệt, là môn nhứt-thiết chư
Phật thị-hiện, là môn dùng nhứt-thiết-trí an lập tất
cả chúng-sanh, là môn dùng Phật thần-lực nghiêm-tịnh tất
cả thế-giới.
Nếu
Bồ-Tát nhập đại tam-muội nầy được pháp-giới-lực vô-cùng-tận,
được hư-không-hạnh vô-ngại, được Pháp-Vương-Vị vô-lượng
tự-tại như ngôi quán-đảnh thọ chức của thế-gian, được
vô-biên-trí thông đạt tất cả, được quảng-đại-lực
viên-mãn mười thứ, thành tâm vô-tránh nhập tịch-diệt-tế,
đại-bi vô-úy dường như sư-tử, là trượng-phu trí-huệ
thắp đèn chánh-pháp sáng, khen không thể hết tất cả công-đức,
hàng Thanh-Văn Duyên-Giác chẳng nghĩ bàn đến được.
Bồ-Tát
nầy được Pháp-giới-trí, trụ vô-động-tế mà hay tùy khai
diễn các pháp. Trụ nơi vô-tướng khéo vào pháp tướng. Ðược
tự-tánh thanh-tịnh-tạng sanh nhà Như-Lai thanh-tịnh, khéo mở
các pháp-môn sai-biệt mà dùng trí-huệ rõ vô-sở hữu. Khéo
biết thời tiết để thường thật hành pháp-thí khai ngộ
tất cả, gọi là Trí-Giả. Nhiếp khắp chúng-sanh đều làm
cho thanh-tịnh. Dùng trí phương-tiện thị-hiện thành phật-đạo
mà thường tu hành hạnh Bồ-Tát không cùng tận. Nhập cảnh
giới nhứt-thiết-trí phương-tiện thị-hiện các môn thần-thông
quảng-đại.
Vì
thế nên nầy Phổ-Hiền ! Nay ngươi phải nên phân-biệt nói
rộng mười đại tam-muội của tất cả Bồ-Tát. Nay chúng-hội
nầy đều mong được nghe ".
Bấy
giờ Phổ-Hiền Bồ-Tát thừa ý-chí của Như-Lai, quán sát
Phổ-Nhãn và chúng Bồ-Tát mà nói rằng :
Chư
Phật-tử ! Ðại Bồ-Tát nầy có mười pháp-môn vô-tận.
Ðây
là mười : một là chư Phật xuất-hiện trí vô-tận, hai là
chúng-sanh biến-hóa trí vô-tận, ba là thế-giới như ảnh
trí vô-tận, bốn là thâm nhập pháp-giới trí vô-tận, năm
là thiện nhiếp bồ-tát trí vô-tận, sáu là Bồ-Tát bất
thối trí vô-tận, bảy là thiện quán nhứt-thiết pháp-nghĩa
trí vô-tận, tám là thiện trì tâm-lực trí vô-tận, chín
là trụ quảng đại bồ-đề tâm trí vô-tận, mười là trụ
nhứt-thiết phật-pháp nhứt-thiết-trí nguyện-lực trí vô-tận.
Chư
Phật-tử ! Ðại Bồ-Tát nầy phát mười môn vô-biên-tâm.
Ðây
là mười : một là phát tâm vô-biên độ thoát tất cả chúng-sanh,
hai là phát tâm vô-biên thừa sự tất cả chư Phật, ba là
phát tâm vô-biên cúng-dường tất cả chư Phật, bốn là phát
tâm vô-biên thấy khắp tất cả chư Phật, năm là phát tâm
vô-biên thọ-trì tất cả phật-pháp chẳng quyên mất, sáu
là phát tâm vô-biên thị-hiện vô-lượng thần-biến của
tất cả chư Phật, bảy là phát tâm vô-biên vì được phật-lực
nên chẳng bỏ tất cả bồ-đề hạnh, tám là phát tâm vô-biên
nhập khắp cảnh-giới vi-tế của nhứt-thiết-trí diễn thuyết
tất cả phật-pháp, chín là phát tâm vô-biên nhập khắp cảnh
giới quảng đại bất-tư-nghì của Phật, mười là phát tâm
vô-biên ham thích biện-tài của Phật và lãnh thọ các phật-pháp,
thị-hiện những thân tự-tại vào trong chúng-hội đạo-tràng
của tất cả Như-Lai, mười là phát tâm vô-biên ham thích
biện-tài của Phật và lãnh thọ các phật-pháp, thị-hiện
những thân tự-tại vào trong chúng-hội đạo-tràng của tất
cả Như-Lai.
Chư
Phật-tử ! Ðại Bồ-Tát nầy có mười môn nhập tam-muội
sai-biệt-trí.
Ðây
là mười : một là đông-phương nhập định tây-phương khởi,
hai là tây-phương nhập định đông-phương khởi, ba là nam-phương
nhập định bắc-phương khởi, bốn là bắc-phương nhập định
đông-phương khởi, năm là đông-bắc-phương nhập định tây-nam-phương
khởi, sáu là tây-nam-phương nhập định đông-bắc-phương
khởi, bảy là tây-bắc-phương nhập định đông-nam-phương
khởi, tám là đông-nam-phương nhập định tây-bắc-phương
khởi, chín là hạ-phương nhập định thượng-phương khởi,
mười là thượng-phương nhập định hạ-phương khởi.
Chư
Phật-tử ! Ðại Bồ-Tát nầy có mười môn trí thiện-xảo
nhập đại tam-muội.
Ðây
là trí thiện-xảo nhập phổ-quang-minh đại tam-muội thứ
nhứt của đại Bồ-Tát :
Ðại
Bồ-Tát lấy Ðaị-Thiên thế-giới làm một liên-hoa, hiện
thân ngồi kiết-già khắp trên liên-hoa nầy. Trong thân lại
hiện đại-thiên thế-giới, trong đó có trăm ức tứ thiên-hạ,
mỗi mỗi tứ thiên-hạ hiện trăm ức thân, mỗi mỗi thân
nhập trăm ức trăm ức Ðại-Thiên thế-giới. Nơi thế-giới
nầy, mỗi mỗi tứ thiên-hạ hiện trăm ức Bồ-Tát tu hành.
Mỗi mỗi Bồ-Tát tu hành phát sanh trăm ức trăm ức thắng-giải
quyết-định. Mỗi mỗi quyết-định-giải làm cho trăm ức
trăm ức căn-tánh viên-mãn. Mỗi mỗi căn tánh thành-tựu trăm
ức trăm ức pháp hạnh bất-thối của Bồ-Tát.
Những
thân đã thị-hiện đây chẳng phải một, chẳng phải nhiều.
Nhập định và xuất định không bị lầm loạn.
Chư
Phật-tử ! Như Lai-Hầu A-Tu-La Vương, bổn-thân cao bảy trăm
do-tuần, hóa hình cao mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, đứng
giữa đại-hải lộ nửa thân cao ngang đỉnh núi Tu-Di. Dầu
hóa thân cao mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, nhưng bổn thân
của A-Tu-La Vương vẫn không hư hoại, các uẩn xừ giới đều
như cũ, tâm không lầm loạn, nơi thân biến-hóa không nghĩ
là thân khác, cũng không nghĩ bổn-thân là chẳng phải mình.
Bổn thân luôn hưởng thọ các sự vui, mà thân biến-hóa thường
hiện các thứ tự-tại thần-thông oai-lực.
Chư
Phật-tử ! A-Tu-La Vương có tham sân si, còn đủ tánh kiêu-mạn
còn có thể biến hiện thân mình như vậy, huống là đại
Bồ-Tát đã thân liễu đạt tâm pháp như huyễn, thế-gian
đều như mộng, chư Phật xuất thế đều như bóng hình, tất
cả thế-giới dường như biến-hóa, ngôn ngữ âm thanh đều
như vang, đã thấy pháp chơn-thiệt, dùng pháp như-thiệt làm
thân mình, biết tất cả pháp bổn-tánh thanh-tịnh, rõ biết
thân tâm không có thiệt thể, thân mình ở khắp vô-lượng
cảnh-giới, dùng Phật-trí quang-minh quảng đại để tịnh
tu tất cả hạnh bồ-đề.
Chư
Phật-tử ! Ðại Bồ-Tát trụ trong tam-muội nầy vượt quá
thế-gian, xa lìa thế-gian. Không bị mê loạn, không ai che chướng
được.
Chư
Phật-tử ! Như Tỳ-Kheo quán-sát thân mình trụ nơi quán bất-tịnh,
thấy kỹ thân mình đều là bất-tịnh.
Cũng
vậy, đại Bồ-Tát trụ tam-muội nầy quán sát pháp-thân thấy
các thế-gian vào khắp trong thân mình, trong đó thấy rõ tất
cả thế-gian và pháp thế-gian mà trọn không chấp trước.
Trên đây là trí thiện-xảo nhập phổ-quang-minh tam-muội thứ
nhứt.
Ðây
là diệu-quang-minh đại tam-muội thứ hai của đại Bồ-Tát
:
Ðại
Bồ-Tát nầy có thể nhập Ðại-Thiên thế-giới vi-trần-số
Ðại-Thiên thế-giới. Nơi mỗi mỗi thế-giới hiện Ðại-Thiên
thế-giới vi-trần-số thân. Mỗi mỗi thân phóng Ðại-Thiên
thế-giới vi-trần-số quang-minh. Mỗi mỗi quang-minh hiện Ðại-Thiên
thế-giới vi-trần số màu sắc. Mỗi mỗi màu sắc chiếu
Ðại-Thiên thê-giới vi-trần-số thế-giới. Trong mỗi mỗi
thế-giới điều-phục Ðại-Thiên thế-giới vi-trần-số chúng-sanh.
Những
thế-giới nầy nhiều loại chẳng đồng, Bồ-Tát điều biết
rõ, đều nhập trong đó. Những thế-giới đó cũng đều đến
nhập nơi thân của Bồ-Tát, dầu vậy nhưng những thế-giới
đó vẫn không tạp loạn, các pháp cũng chẳng hoại diệt.
Chư
Phật-tử ! Ví như mặt nhựt mọc lên chiếu núi Tu-Di, chiếu
bảy Bửu-Sơn. Bảy Bửu-Sơn và khoảng giữa Bửu-Sơn đều
có quang ảnh hiển-hiện rõ ràng. Bóng mặt nhựt trên Bửu-Sơn
đều hiển-hiện trong bóng giữa khoảng Bửu-Sơn. Bóng mặt
nhựt giữa khoảng bảy Bửu-Sơn cũng đều hiển-hiện trong
bóng mặt nhựt trên Bửu-Sơn. Xoay vần hiện bóng lẫn nhau
như vậỵ
Có
người nói bóng mặt nhựt hiện ra nơi bảy Bửu-Sơn, có người
nói bóng mặt nhựt hiện ra nơi khoảng giữa bảy Bửu-Sơn.
Có người nói bóng mặt nhựt nhập vào bảy Bửu-Sơn, có
người nói bóng mặt nhựt nhập vào khoảng giữa bảy Bửu-Sơn.
Nhưng bóng mặt nhựt nầy chiếu hiện lẫn nhau không có ngằn
mé, thể-tánh chẳng phải có cũng lại chẳng phải không.
Chẳng ở nơi Bửu-Sơn cũng chẳng rời Bửu-Sơn, chẳng trụ
nơi nước cũng chẳng rời nước.
Chư
Phật-tử ! Cũng vậy, đại Bồ-Tát trụ nơi diệu-quang-minh
đại tam-muội, chẳng hư hoại tướng an lập của thế-gian,
chẳng diệt mất tự-tánh các pháp thế-gian, chẳng trụ trong
thế-giới, chẳng trụ ngoài thế-giới. Ðối với
Thế-giới
không chỗ phân-biệt, cũng chẳng hư hoại tướng thế-giới.
Quán tất cả pháp nhứt tướng vô-tướng cũng chẳng hư hoại
tự-tánh các pháp. Trụ luôn nơi tánh chơn-như chẳng hề bỏ
rời.
Chư
Phật-tử ! Ví như nhà huyễn-thuật, biết giỏi về huyễn-thuật
làm các sự huyễn nơi ngã tư đường, trong một ngày hay khoảng
giây lát, hoặc hiện một ngày, hoặc hiện một đêm, hoặc
hiện làm bảy ngày, bảy đêm, nửa tháng, một tháng, một
năm, trăm năm. Tùy theo ý muốn, nhà huyễn-thuận nầy hiện
ra thành ấp, xóm, làng, suối, ao, sông, biển, mặt nhựt, mặt
nguyệt, mây, mưa, cung điện, nhà cửa.
Chẳng
vì huyễn hiện trải qua cả tháng cả năm mà hư hoại một
ngày hay một giờ căn-bổn. Cũng chẳng vì thời-gian căn-bổn
ngắn ngủi mà hư hoại năm tháng huyễn hiện. Tướng huyễn
hiện rõ , ngày giờ căn-bổn không mất.
Cũng
vậy, Ðại Bồ-Tát nhập diệu-quang-minh đại tam-muội nầy
hiện vô-số thế-giới vào một thế-giới. Vô-số thế-giới
đó, mỗi mỗi thế-giới đều có đất, nước, gió, lửa,
đại-hải, các núi, thành ấp, vườn rừng, nhà cửa, thiên-cung,
long-cung, bát bộ cung-điện, đủ cả mọi sự trang-nghiêm.
Cũng có ba cõi : cõi dục, cõi sắc, cõi vô-sắc, Tiểu-Thiên
thế-giới, Ðại-Thiên thế-giới, nghiệp-hành quả-báo, chết
đây sanh kia, tất cả thời-tiết của thế-gian : giờ, phút,
ngày, đêm, tháng, năm, kiếp thành, kiếp hoại, cõi nước
thanh-tịnh, chúng Bồ-Tát chầu chực thần-thông tự-tại,
giáo-hóa chúng-sanh. Khắp nơi trong các cõi nước đó có vô-lượng
nhơn-chúng khác loài khác tướng, vô-lượng vô-biên chẳng
thể nghĩ bàn. Nghiệp-lực thanh-tịnh thuở quá khứ vị-lai
hiện-tại xuất sanh vô-lượng trân-bửu thượng-diệu. Những
việc như trên đều thị hiện đủ cả vào nơi một thế-giới.
Ðại
Bồ-Tát ở nơi đây đều thấy rõ khắp cả ; vào khắp, xem
khắp, nghĩ khắp, rõ khắp. Dùng trí vô-tận đều biết như
thiệt. Chẳng vì những thế-giới kia nhiều mà hư-hoại một
thế-giới nầy. Chẳng vì một thế-giới nầy mà hư-hoại
nhiều thế-giới kia.
Tại
sao vậy ? Vì Bồ-Tát biết tất cả pháp đều là vô-ngã.
Ðây gọi là nhập vô-mạng-pháp vô-tác-pháp.
Vì
Bồ-Tát nơi tất cả thế-gian siêng tu hành pháp vô-tránh nên
gọi là bực an-trụ pháp vô-ngã.
Vì
Bồ-Tát như thiệt thấy tất cả thân đều từ duyên khởi
nên gọi là bực an-trụ pháp vô-chúng-sanh.
Vì
Bồ-Tát biết tất cả pháp sanh diệt đều từ nhơn mà sanh
nên gọi là bực an-trụ pháp vô-bổ-đặc-dà-la.
Vì
Bồ-Tát biết các pháp bổn-tánh bình-đẳng nên gọi là bực
an-trụ pháp vô-ý-sanh vô-ma-nạp-bà.
Vì
Bồ-Tát biết các pháp bổn-tánh tịch-tịnh nên gọi là bực
an-trụ pháp tịch-tịnh.
Vì
Bồ-Tát biết các pháp nhứt tướng nên gọi là bực an-trụ
pháp vô-phân-biệt.
Vì
Bồ-Tát biết pháp-giới không có các thứ pháp sai biệt nên
gọi là bực an-trụ pháp bất-tư-nghì.
Vì
Bồ-Tát siêng tu tất cả phương-tiện giỏi điều phục chúng-sanh
nên gọi là bực an-trụ pháp đại-bi.
Chư
Phật-tử ! Ðại Bồ-Tát có thể đem vô-số thế-giới nhập
vào một thế-giới, biết vô-số chúng-sanh nhiều loại khác
nhau, thấy vô-số Bồ-Tát đều phát tâm, xem vô-số chư Phật
xuất hiện mọi nơi. Chư Phật đây diễn nói bao nhiêu chánh-pháp,
các Bồ-Tát đây đều lãnh thọ cả. Cũng thấy thân mình
tu hành trong các đạo-tràng đó.
Dầu
vậy, nhưng chẳng bỏ nơi đây mà thấy chỗ kia, cũng chẳng
bỏ chỗ kia mà thấy tại đây. Thân kia, thân đây không có
sai biệt, vì nhập pháp-giới vậy.
Thường
siêng quán-sát không thôi nghĩ chẳng bỏ rời trí-huệ, vì
chẳng thối chuyển vậy.
Như
là huyễn-thuật ở một nơi nào đó hiện các sự huyễn,
chẳng vì nơi hiện huyễn-sự mà hư hoại bổn-xứ, chẳng
vì thời-gian huyễn mà hư hoại ngày giờ căn-bổn.
Cũng
vậy, đại Bồ-Tát nơi không có quốc-độ hiện ra quốc-độ.
Nơi có quốc-độ hiện không quốc-độ. Nơi có chúng-sanh
hiện không chúng-sanh, nơi không chúng-sanh hiện có chúng-sanh.
Không sắc hiện có sắc, có sắc hiện không sắc. Trước
chẳng làm loạn sau, sau chẳng làm loạn trước.
Ðại
Bồ-Tát biết tất cả pháp thế-gian đều đồng như huyễn
hóa. Vì biết pháp huyễn nên biết trí huyễn. Vì biết trí
huyễn nên biết nghiệp huyễn.
Ðã
biết trí huyễn và nghiệp huyễn nên khởi huyễn-trí xem tất
cả nghiệp như là huyễn-thuật thế-gian. Chẳng xứ mà hiện
huyễn, cũng ở ngoài bổn chẳng ở ngoài huyễn mà có bổn-xứ.
Cũng
vậy, đại Bồ-Tát chẳng ở ngoài hư không mà nhập thế-gian,
cũng chẳng ở ngoài thế-gian mà nhập hư-không. Tại sao vậy
? Vì hư không và thế-gian không sai biệt, trụ nơi thế-gian
cũng trụ nơi hư-không.
Ðại
Bồ-Tát ở trong hư-không hay thấy hay tu tất cả công nghiệp
sai biệt diệu trang-nghiêm của thế-gian. Khoảng một niệm
đều rõ biết được vô-số thế-giới hoặc thành hoặc hoại,
cũng biết các kiếp tuần-tự nối tiếp. Trong khoảng một
niện hiện vô-số kiếp, nhưng cũng chẳng làm cho một niệm
đó rộng lớn ra.
Ðại
Bồ-Tát được huyễn-trí giải-thoát bất-tư-nghì, đến nơi
bỉ ngạn, trụ nơi huyễn-tế, nhập ở huyễn số thế-gian,
tư-duy các pháp thảy đều như huyễn, chẳng trái huyễn thế,
cùng tận nơi huyễn-trí, rõ biết tam-thế cùng huyễn không
khác, thông đạt quyết định, tâm không ngằn mé.
Như
chư Như-Lai trụ trí như huyễn, tâm Phật bình-đẳng. Cũng
vậy, đại Bồ-Tát biết các thế-gian thảy đều như huyền,
với tất cả chỗ đều không chấp trước, không có ngã sở.
Như
là huyễn-thuật hiện các sự huyễn, dầu chẳng đồng ở
với các huyễn-sự đó, nhưng vẫn không mê lầm đối với
các huyễn-sự.
Cũng
vậy, đại Bồ-Tát, biết tất cả pháp đến rốt ráo bỉ-ngạn,
tâm chẳng chấp ngã hay nhập nơi pháp, cũng chẳng lầm loạn
nơi các pháp.
Trên
đây là trí thiện-xảo diệu-quang-minh đại tam-muội thứ
hai của đại Bồ-Tát.
(1)
Chư Phật-tử ! Thế nào là thứ-đệ biến vãng chư Phật
quốc-độ thần-thông đại tam-muội của đại Bồ-Tát ?
Ðại
Bồ-Tát này qua vô-số thế-giới phương đông, lại qua vô-số
thế-giới vi-trần-số thế-giới, nơi các thế-giới đó nhập
tam-muội nầy. Hoặc sát-na nhập, hoặc giây lát nhập, hoặc
nối tiếp nhập. Hoặc sáng, hoặc trưa, hoặc chiều nhập.
Hoặc đầu hôm, giữa đêm, hoặc cuối đêm nhập. Hoặc nhập
một ngày, hoặc năm ngày, hoặc nửa tháng, một tháng. Hoặc
nhập một năm, trăm năm, ngàn năm. Hoặc nhập trăm ngàn năm,
ức năm, trăm ngàn ức năm, trăm ngàn na-do-tha ức năm. Hoặc
nhập một kiếp, trăm kiếp, trăm ngàn kiếp, trăm ngàn na-do-tha
ức kiếp. Hoặc nhập vô số kiếp, vô lượng kiếp, vô biên
kiếp, vô đẳng kiếp. Hoặc nhập bất-khả-sổ kiếp, bất-khả-xưng
kiếp, bất-khả-tư kiếp, bất-khả-lượng kiếp, bất-khả-thuyết
kiếp, bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết kiếp. Hoặc lâu,
hoặc gần, hoặc pháp, hoặc thời-gian các loại chẳng đồng.
Với
những sự trên đây, Bồ-Tát chẳng sanh lòng phân-biệt, chẳng
nhiễm trước, chẳng cho là khác, chẳng cho là không khác,
chẳng cho là khắp, chẳng cho là riêng.
Dầu
lìa sự phân-biệt, mnà Bồ-Tát dùng thần-thông phương-tiện
từ tam-muội khởi, với các pháp chẳng quên chẳng mất, đến
nơi rốt ráo.
Ví
như mặt nhựt đi vòng soi sáng, ngày đêm không dừng. Mặt
nhựt mọc gọi là ngày, mặt nhựt lặn gọi là đêm. Ban ngày
mặt nhựt chẳng sanh, ban đêm mặt nhựt cũng chẳng mất.
Ðại
Bồ-Tát nơi vô-số thế-giới nhập thần-thông tam-muội. Ðã
nhập tam-muội, thấy rõ ngần ấy vô-số thế-giới cũng như
vậy.
Trên
đây là trí thiện-xảo thứ-đệ biến-vãng chư Phật quốc-độ
thần-thông đại tam-muội thứ ba của đại Bồ-Tát.
Chư
Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát thanh-tịnh thân-tâm-hành
đại tam-muội ?
Ðại
Bồ-Tát nầy biết số thân chư Phật đồng với số chúng-sanh.
Thấy vô-lượng Phật hơn số vi-trần trong vô-số thế-giới,
Bồ-Tát đem các thứ hương, hoa, lọng, châu báu, đồ trang-nghiêm,
ma-ni-bửu-tạng, nhẫn đến tứ-sự, tất cả đều thượng-diệu
quảng đại hơn hẳn của các cõi trời để cúng-dường mỗi
đức Phật.
Ðối
với mỗi đức Phật, Bồ-Tát cung-kính tôn-trọng cúi đầu
đảnh lễ thưa thỉnh phật-pháp, khen Phật bình-đẳng, ca
ngợi công-đức quảng-đại của chư Phật. Nhập vào đại-bi
của chư Phật, được sức vô-ngại bình-đẳng của chư Phật.
Khoảng một niệm, cần cầu diệu-pháp khắp tất cả Phật.
Nhưng với những tướng chư Phật xuất thế nhập diệt, đều
vô-sở-đắc.
Như
tâm tán-động liễu-biệt cảnh sở-duyên, tâm khởi, chẳng
biết sở-duyên nào khởi, tâm diệt, chẳng biết sở-duyên
nào diệt.
Cũng
vậy, đại Bồ-Tát nầy trọn chẳng phân-biệt tướng xuất
thế cùng nhập niết-bàn của Như-Lai.
Chư
Phật-tử ! Như dương-diệm giữa ngày, chẳng phải từ mây
sanh, chẳng phải từ ao sanh, chẳng ở trên đất, chẳng ở
dưới nước, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải
thiện chẳng phải ác, chẳng phải trong chẳng phải đục,
chẳng dùng uống rửa được, chẳng làm ô-uế được, chẳng
phải có thể chất chẳng phải không thể chất, chẳng phải
có vị chẳng phải không vị. Do vì nhơn duyên mà hiện tướng
nước. Do thức phân biệt trông xa tợ nước mà sanh tưởng
là nước, đến gần thời không có, tưởng nước tự mất.
Ðại
Bồ-Tát đây cũng như vậy. Tướng Như-Lai xuất-thế và niết-bàn
đều bất-khả-đắc. Chư Phật có tướng hay không tướng
đều là tâm tưởng phân biệt.
Chư
Phật-tử ! Tam-muội nầy gọi là thanh-tịnh thâm-tâm-hành.
Ðại Bồ-Tát ở nơi tam-muội nầy nhập rồi mà khởi, sau
khi khởi chẳng mất.
Ví
như có người từ giấc ngủ thức dậy nhớ sự chiêm-bao.
Lúc thức dầu nhớ sự chiêm-bao. Lúc thức dầu không có cảnh-giới
chiêm-bao nhưng vẫn có thể ghi nhớ chẳng quên.
Cũng
vậy, đại Bồ-Tát nhập tam-muội thấy Phật nghe pháp, sau
khi xuất định ghi nhớ chẳng quên, rồi đem pháp đã được
nghe giảng dạy lại tất cả chúng-hội trong đạo-tràng, trang-nghiêm
tất cả quốc-độ chư Phật, vô lượng nghĩa thú đều được
sáng suốt, tất cả pháp môn cũng đều thanh-tịnh, thắp đuốc
đại-trí, làm lớn giống Phật, đầy đủ vô-úy, biện-tài
chẳng cạn, khai thị diễn thuyết pháp-tạng thậm-thâm.
Trên
đây là trí thiện-xảo thanh-tịnh thâm-tâm-hạnh đại tam-muội
thứ tư của đại Bồ-Tát.
