(Hán
bộ quyển 37)
Bồ
Tát đã nghe những thắng hạnh
Lòng
rất hoan hỷ rải hoa thơm
Phóng
tịnh quang minh rải bửu châu
Cúng
duờng Như Lai khen nói giỏi .
Trăm
ngàn thiên chúng đều vui mừng
Ðồng
ở hư không rải các báu :
Tràng
hoa, chuổi ngọc và tràng phan
Lọng
báu , hương thoa đều cúng phật .
Tự
tại thiên vương cùng quyến thuộc
Lòng
sanh hoan hỷ trụ hư không
Rải
báu thành mây dùng cúng dường
Khen
rằng Phật tử khéo tuyên thuyết !
Vô
lượng thiên nữ ở hư không
Ðồng
tấu nhạc âm ca ngợi phật
Trong
tiếng ca nhạc đều nói rằng
Lời
phật hay trừ bịnh phiền não ,
Pháp
tánh bổn tịch không hình tướng
Dường
như hư không chẳng phân biệt
Ngoài
những chấp trước , tuyệt nói phô
Chơn
thiệt bình đẳng thường thanh tịnh .
Nếu
muốn thông đạt các pháp tánh
Nơi
có , nơi không lòng chẳng động
Vì
muốn cứu đời siêng tu hành
Từ
miệng phật sanh chơn Phật tử .
Bố
thí vẫn không thấy có tướng ,
Vốn
đứt điều ác gìn giử tịnh giới ,
Hiểu
pháp không hại , thường nhẫn nhịn ,
Biết
pháp tánh ly , chuyên tinh tấn ,
Ðã
hết phiền não vào thiền định ,
Khéo
đạt tánh không,phan biệt pháp
Ðầy
đủ trí lực ,hay cứu rộng
Diệt
trừ điều ác xưng đại sĩ .
Diệu
âm như vậy ngàn vạn thứ
Khen
rồi đứng yên chiêm ngưỡng phật .
Giải
thoát nguyệt Bồ Tát rằng : thưa Phật tử ! đại Bồ Tát
đã đủ đệ ngũ địa muốn vào đệ lục hiện tiền địa
phải quán sát mười pháp bình đẳng
Ðây
là mười pháp :
Tất
cả pháp vì vô tướng nên bình đẳng vì vô thế nên bình
đẳng , vì vô sanh nên bình đẳng,vì vô diệt nên bình đẳng
, vì bổn lai thanh tịnh nên bình đẳng , vì không hý luận
nên bình đẳng,vì không thủ xã nên bình đẳng,vì tịch tịnh
nên bình đẳng.Vì như huyễn,như mộng,như bóng, như vang,
như trăng trong nước, như tượng trong gương , như dương diệm,
như biến hoá nên bình đẳng , vì có không bất nhị nên bình
đẳng .
Bồ
Tát quán sát các pháp như vậy , tự tánh thanh tịnh , tuỳ
thuận không trái được vào đệ lục hiện tiền địa , được
minh lợi tuỳ thuận nhẫn, chưa được vô sanh pháp nhẫn .
Chư
Phật tử ! đại Bồ Tát này quán như vậy rồi , lại lấy
đại làm đầu , đại bi tăng thượng , đại bi đầy đủ
, quán thế gian sanh diệt mà nghĩ rằng:
Thế
gian thọ sanh đều do chấp ngã.Nếu lìa chấp ngã thời không
chỗ sanh .
Lại
nghĩ rằng : phàm phu không trí huệ chấp lấy ngã thường
tìm có không , suy xét bất chánh, khởi vọng hạnh, làm đạo
tà, nghiệp tội, nghiệp bất động tích tập thêm lớn.Ở
trong các nghiệp hành trồng hột giống tâm hửu lậu hữu
thú, lại khởi hậu hữu : sanh và lão tử.Chính là : nghiệp
làm đồng ruộng, thức làm hột giống, vô minh che rợp, nước
ái thấm nhuần, ngã mạn tưới bón, lưới chấp kiến thêm
lớn, mọc mầm danh sắc, danh sắc thêm lớn nẩy chồi ngũ
căn , các căn đối nhau sanh ra xúc, xúc đối sanh có thọ,
sau khi thọ rồi mong cầu sanh có ái , ái tăng thêm sanh ra thủ,
thêm lớn thủ sanh ra hữu, đã sanh hữu thời ở trong các
loài khởi thân ngũ uẩn gọi là sanh,suy biển gọi là lão,chết
mất gọi là tử. Lúc lão tử sanh ra những nhiệt não .Do nhiệt
não nên đủ thứ khổ ưu sầu, buồn than tập họp lại .Ðây
là do duyên mà tập họp chớ không có cái tập họp.Lần lượt
mà diệt chớ không có cái diệt .
Bồ
Tát tuỳ thuận quán sát tương duyên khởi như vậy .
Chư
Phật tử ! đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng : vì chẳng tỏ
ngộ nơi đệ nhứt nghĩa đế nên gọi là vô minh . nghiệp
quả là hành .sơ tâm của hành y chỉ là thức. Bốn uẩn cùng
thức sanh chung là danh sắc. Danh sắc tăng trưởng là lục
nhập .Căn , cảnh, thức ba thứ hòa hiệp là xúc. Xúc sanh
chung mà có thọ. Nhiễn trước nơi thọ là ái .Thêm lớn ái
thành ra thủ. Nghiệp hữu lậu do thủ khởi lên là hữu. Từ
nghiệp khởi ra uẩn là sanh. Uẩn chín mùi là lão. Uẩn hư
hoại là tử .Lúc mê tham luyến trong lòng phiền muộn là sầu.
Rơi lệ than thở là thán .Tại năm căn là khổ .Tại ý tưởng
là ưu . Ưu khổ càng nhiều là não .
Như
thế thì chỉ có cây khổ làm tăng trưởng , trọn không ngã
không ngã sở, không tác giả, không thọ giả .
Lại
nghĩ rằng : nếu có tác giả thời có tác sự .Nếu không
tác giả thời không tác sự .Trong đệ nhứt nghĩa đế hoàn
toàn bất khả đắc .
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ Tát này lại nghĩ rằng : toàn cả tam
giới chỉ có nhứt tâm .Ơ 73;ây đức Như Lai phân biệt
diễn nói mười hai chi, đều y cứ nhứt tâm mà an lập như
vậy .
Tại
sao vậy ? vì theo sự tham dục cùng tâm sanh chung .Tâm là thức,
sự là hành .Mê lầm nơi hành là vô minh .Cùng vô minh và tâm
sanh chung là danh sắc .Tăng trưởng danh sắc là lục nhập
.Lục nhập ba phần là xúc .Xúc sanh chung là thọ .Thọ không
nhàm đủ là ái .Ái nhiếp chẳng bỏ là thủ .Các hữu chi
sanh là hữu .Của hữu phát khởi gọi là sanh .Sanh thục là
lão .Lão hoại là tử
Chư
Phật tử ! trong đây vô minh có hai thứ nghiệp : một là làm
cho chúng sanh mê nơi cảnh sở duyên, hai là làm nhơn sanh khởi
cho hành .
Hành
cũng có hai thứ nghiệp : một là có thể sanh ra báo vị lai,
hai là làm nhơn sanh khởi cho thức .
Thức
cũng có hai thứ nghiệp : một là khiến các hữu nối tiếp,hai
là làm nhơn sanh khởi cho danh sắc .
Danh
sắc cũng có hai thứ nghiệp : một là trợ thành lẫn nhau,hai
là làm nhơn sanh khởi cho lục nhập .Lục nhập cũng có hai
thứ nghiệp : một là đều riêng lấy cảnh giới của tự
mình, hai là làm nhơn sanh khởi cho xúc .
Xúc
cũng có hai thứ nghiệp : một là hay xúc cảnh sơ ên, hai
là làm nhơn sanh khởi cho thọ .
Thọ
cũng có hai nghiệp : một là hay lãnh thọ các sự yêu ghét
, hai là làm nhơn sanh khởi cho ái .
Ái
cũng có hai nghiệp : một là nhiễm trước sự khả ái, hai
là làm nhơn sanh khởi cho thủ .
Thủ
cũng có hai nghiệp : một là làm cho các phiền não nối tiếp,
hai là làm nhơn sanh khởi cho hữu .
Hữu
cũng có hai nghiệp : một là hay làm cho sanh trong các loài,
hai là làm nhơn sanh khởi cho sanh .
Sanh
cũng có hai nghiệp : một là hay khởi các uẩn, hai là làm
nhơn sanh khởi cho lão .
Lão
cũng có hai nghiệp : một là làm cho các căn biến đổi, hai
là làm nhơn sanh khởi cho tử .
Tử
cũng có hai thứ nghiệp : một là hay làm hoại cách hành, hai
là vì chẳng giác tri nên nối tiếp chẳng dứt .
Chư
Phật tử ! trong đây vô minh,duyên hành, nhẫn đến sanh duyên
lão tử .Do vô minh làm duyên, nhẫn đến sanh làm duyên làm
cho hành nhẫn đến lão tử chẳng dứt , vì nó trợ thành
vậy .
Vô
minh diệt thời hành diệt, nhẫn đến sanh diệt thời lão
tử diệt .Do vô minh chẳng làm duên nhẫn đến sanh chẳng
làm duyên, khiến cho hành nhẫn đến lão tử dứt diệt, vì
nó chẳng trợ thành vậy .
Chư
Phật tử ! trong đây vô minh ái và thủ chẳng dứt là phiền
não đạo . Hành và hữu chẳng dứt là nghiệp đạo .Những
phần khác chẳng dứt là khổ đạo.
Tiền
tế hậu tế phân biệt dứt diệt thời ba đạo dứt diệt
.
Ba
đạo như vậy lìa ngã, lìa ngã sở, chỉ có sanh diệt dường
như bó lau .
Lại
vô minh duyên hành là quán quá khứ .Thức nhẫn đến thọ
là quán hiện tại . Ái nhẫn đến hữu là quán vị lai .Từ
đây về sau xoay vần tiếp nối .
Vô
minh diệt, hành diệt, đó là quán chờ dứt diệt .
Lại
mười hai hữu chi gọi là tam khổ .Trong đây vô minh , hành
đến lục nhập là hành khổ .Xúc , thọ là khổ khổ . Những
chi khác là hoại khổ .
Vô
minh diệt, hành diệt đó là ba khổ dứt .
Lại
vô minh duyên hành là vô minh làm nhơn hay sanh các hành .Các
chi khác cũng vậy .
Vô
minh diệt hành diệt đó là do không vô minh thời hành cũng
không .Các chi khác cũng không . Các chi khác cũng vậy .
Lại
vô minh duyên hành đó là sanh phược .vô minh diệt hành diệt
đó là diệt hệ phược .Các chi khác cũng vậy .
Lại
vô minh duyên hành đó là tùy thuận vô sở hữu quán .vô minh
diệt hành diệt đó là tùy thuận tận diệt quán .Các chi
khác cũng vậy .
Chư
Phật tử ! đại Bồ Tát quán nghịch thuận các duyên khởi
có mười cách như vậy là vì hữu chi nối tiếp , vì nhiếp
tại nhứt tâm, vì tự nghiệp sai biệt , vì tam đạo chẳng
dứt , vì quán quá khứ, hiện tại, vị lai , vì ba khổ tụ
tập,vì nhơn duyên sanh diệt, vì sanh diệt hệ phược , vì
vô sở hữu quán và tận quán .
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ Tát dùng mười tướng như vậy quán
các duyên khởi biết là vô ngã, vô nhơn, vô thọ mạng, tự
tánh không, chẳng có tác giả, không có thọ giả, liền được
môn không giải thoát hiện tiền .
Quán
các hữu chi đều là tự tánh diệt, rốt ráo giải thoát,
không có chút pháp tướng sanh, liền được môn vô tướng
giải thoát hiện tiền .
Nhập
không , vô tướng rồi, không nguyện cầu, chỉ trừ đại
bi làm đầu giáo hoá chúng sanh , liền được môn vô nguyện
giải thoát hiện tiền .
Bồ
Tát tu ba môn giải thoát như vậy , lìa tưởng ngã, lìa tưởng
tác giả, tưởng thọ giả, lìa tưởng hữu vô
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ Tát này đại bi càng tăng thêm siêng
năng tu tập, vì chưa viên mãn pháp Bồ đề phần nên làm
cho viên mãn .
Bồ
Tát nghĩ rằng : tất cả hữu vi, có hoà hiệp thời chuyển,
không hoà hiệp thời không chuyển. Duyên nhóm thời chuyển,
duyên không nhóm thời chẳng chuyển. Tôi biết pháp hữu vi
có nhiều lỗi hoạ như vậy , nay phải dứt nhơn duyên hoà
hiệp này . Nhưng vì phải thành tựu chúng sanh nên cũng chẳng
dứt các công hạnh .
Chư
Phật tử ! Bồ Tát như vậy quán sát các pháp hữu vi có nhiều
lỗi ác, không có tự tánh, không sanh không diệt mà hằng
khởi đại bi chẳng bỏ chúng sanh , liền được bát nhã ba
la mật hiện tiền, gọi là vô chướng ngại trí quang minh
.
Thành
tựu trí quang minh như vậy rồi, dầu tu tập Bồ đề phần
nhơn duyên mà chẳng trụ trong hữu vi, dầu quán pháp hữu
vi tự tánh tịch diệt, cũng chẳng trụ trong tịch diệt. Vì
pháp Bồ đề phần chưa viên mãn .
Chư
Phật tử ! Bồ Tát trụ bực hiện tiền địa này, được
nhập không tam muội, tự tánh không tam muội, đệ nhứt không
tam muội , hiệp không tam muội, khởi không tam muội , như
thiệt bất phân biệt không tam muội , bất xã ly không tam
muội .
Bồ
Tát này được mười môn không tam muội như vậy làm đầu.
Kế đó trăm ngàn không tam muội đều hiện tiền cả .
Mười
môn vô tướng không tam muội, mười môn vô nguyện tam muội
như vậy làm đầu , kế đó trăm ngàn môn vô tướng, vô nguyện
đều hiện tiền cả .
Chư
Phật tử ! Bồ Tát trụ bực hiện tiền địa này lại tu
tập đầy đủ tâm bất khả hoại, tâm quyết định , tâm
thuần thiện, tâm thậm thâm, tâm , tâm bất thối chuyển,
tâm bất hưu tức, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm bất
hưu tức, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm cầu trí, tâm
phương tiện huệ tương ưng, tất cả đều viên mãn .
Chư
Phật tử ! Bồ Tát dùng mười tâm này thuận phật Bồ đề
, chẳng sợ dị luận, vào các trí địa, lìa đạo nhị thừa,
thẳng đến Phật trí, các ma phiền não không trở lại hư
hoại được, trụ nơi Bồ Tát trí huệ quang minh. Trong pháp
không, vô tướng, vô nguyện đều khéo tu tập, trí huệ phương
tiện luôn chung tương ưng, pháp Bồ đề phần thường thật
hành chẳng bỏ .
Chư
Phật tử ! Bồ tát trụ trong bực hiện tiền địa này được
tăng thượng hạnh bát nhã ba la mật , được đệ tam minh
lợi thuận nhẫn, vì tuỳ thuận không trái với tướng như
thiệt của các pháp .
Chư
Phật tử ! Bồ tát đã an trụ nơi bực hiện tiền địa này,
do nguyện lực nên được thấy nhiều Ðức Phật , nhẫn đén
thấy trăm ngàn ức na do tha Ðức Phật đều dùng tâm quãng
đại, thâm tâm để cúng dường cung kính tôn trọng tán thán,
cũng cúng dường tất cả chúng tăng. Ðem thiện căn này hồi
hướng vô thượng Bồ đề .
Nơi
Chư Phật ,Bồ Tát này cung kính nghe pháp, nghe xong thọ trì,
được như thiệt tam muội trí huệ quang minh, tuỳ thuận tu
hành ghi nhớ chẳng bỏ . Lại được pháp tạng thậm thâm
của Chư Phật . Trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha
kiếp , những thiện căn đã có lại càng sáng sạch .
Ví
như chơn kim,. Dùng báu tỳ lưu ly luôn dồi bóng, thời càng
thêm sáng sạch .
Cũng
vậy , Bồ Tát đệ lục địa này dùng phương tiện huệ theo
dõi quán sát, những thiện căn đãđược càng thêm sáng sạch,
càng thêm tịch diệt , hkông gì che khuất được .
Ví
như ánh sáng của mặt trăng chiếu đến thân chúng sanh làm
cho được mát mẽ, bốn thứ phong luân không ngăn hoại được
.
Cũng
vậy, những thiện căn của bực Bồ Tát này hay dập tắt
ngọn lửa phiền não của vô lượng trăm ngàn ứu na do tha
chúng sanh . Bốn thứ ma đạo không phá hoại được
Trong
mười môn ba la mật , Bồ Tát này thiên nhiều về bát nhã
ba la mật, ngoài ra tuỳ sức tuỳ phần tu các môn khác .
Chư
Phật tử ! đây là lược nói về đại Bồ Tát đệ lục
hiện tiền địa. Bồ Tát an trụ nơi bực này thường hiện
làm thiện hóa thiên vương, việc làm tự tại. Tất cả sự
vấn nạn của hàng thanh văn không làm thối khuất được.
Có thể làm cho chúng sanh trừ diệt ngã mạn, thâm nhập duyên
khởi .
Tất
cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều
chẳng rời niệm phật, niệm pháp, niệm tăng, nhẫn đến
chẳng rời niệm đầy đủ Nhứt thiết chủng trí.
Bồ
Tát này lại nghĩ rằng : với tất cả chúng sanh, tôi sẽ
là thượng thủ, là thắng, nhẫn đến bực y chỉ của Nhứt
thiết chủng trí.
Bồ
Tát này nếu chuyên cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được
trăm ngàn ức tam muội, nhẫn đến thị hiện trăm ngàn ức
thân Phật, mỗi mỗi thân Phật thị hiện trăm ngàn ức Bồ
Tát làm quyến thuộc.
Nếu
dùng nguyện lực thị hiện tự tại thời hơn đây, nhẫn
đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm biết được.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng
:
Bồ
Tát viên mãn Ngũ Ðịa rồi
Quán
pháp vô tướng cũng vô tánh
Vô
sanh vô diệt vốn thanh tịnh
Không
có hỷ luân không thủ xả.
Thể
tướng tịch diệt như huyễn thảy
Hữu
vô bất nhị rời phân biệt
Tùy
thuận pháp tánh quán như vậy
Trí
này được thành nhập Lục Ðịa.
Ðầy
đủ trí minh lợi thuận nhẫn
Quán
sát thế gian tướng sanh diệt
Do
sức si tối có thế gian
Si
tối diệt mất không thế gian.
Quán
các nhơn duyên không thiệt tánh
Chẳng
hoại giả, gọi hoà hiệp dụng
Vô
tác, vô thọ, không nghĩ nhớ
Hành
pháp như mây nổi khắp nơi .
Chẳng
biết chơn đế gọi vô minh
Gây
tạo tư : nghiệp,ngu si : quả .
Thức
khởi sanh chung gọi là danh sắc ,
Như
vậy nhẫn đến những khổ tụ,
Rõ
thấu ba cõi nương nơi tâm
Mười
hai nhơn duyên cũng nương tâm
Sanh
tử đều do tâm làm ra
Tâm
nếu diệt dứt, sanh tử hết.
Vô
minh công dụng có hai thứ :
Mê
lầm sở duyên, làm thành nhơn,
Như
vậy nhẫn đến lão và tử
Do
đây quả khổ không cùng tận .
Vô
minh làm duyên chẳng thể dứt,
Duyên
đó nếu dứt tất cả dứt,
Ngu
si, ái,thủ : phiền não chi
Hành,
hữu là nghiệp, nghiệp, chi khác : khổ.
Si
đến lục nhập là hành khổ,
Xúc
thọ thêm lớn là khổ khổ,
Còn
những chi khác là hoại khổ,
Nếu
thay vô ngã ba khổ dứt.
Vô
minh cùng hành thuộc quá khứ,
Thức
đến xúc, thọ thuộc hiện tại
Ái,
thủ, hữu sanh khổ vị lai.
Quán
đãi nếu dứt : biên tế dứt .
Vô
minh làm duyên : là sanh phược
Rời
được nơi duyên phược mới hết
Từ
nhơn sanh quả, lìa thời dứt,
Quán
sát nơi đây biết tánh không .
Tuỳ
thuận vô minh khởi ba cỏi .
Nếu
không tuỳ thuận ba cõi dứt,
Có
đây có kia, không cũng vậy
Mười
cách tư duy tâm lìa chấp.
Hữu
chi tiếp nói nhiếp nhứt tâm
Tự
nghiệp chẳng rời và tam đạo,
Tam
tế, tam khổ nhơn duyên sanh
Hệ
phược khởi diệt thuận vô tận ,
Như
vậy , quán khắp pháp duyên khởi
Vô
tác, vô thọ, không chơn thiệt
Như
huyễn, như mộng, như bóng vang
Như
kẻ ngu chay theo dương diệm.
Quán
sát như vậy vào nơi không
Biết
duyên tánh ly được vô tướng
Rõ
pháp hư vọng không nguyện cầu
Chỉ
có từ mẫn độ muôn loại.
Ðại
sĩ tu hành môn giải thoát
Càng
thêm đại bi cầu phật pháp
Biết
các hữu vi hòa hiệp làm
Chí
nguyện quyết định siêng hành đạo .
Môn
không tam muội đủ trăm ngàn
Vô
tướng, vô nguyện cũng như vậy
Bát
nhã thuận nhẫn đều không tăng thượng
Giải
thoát trí huệ được viên mãn .
Lại
dùng thâm tâm cúng nhiều phật
Ở
trong phật giáo tu tập đạo
Ðược
Phật pháp tạng thêm thiện căn
Như
vàng dùng lưu ly trau sáng .
Như
trăng sáng mát lợi muôn loài .
Bốn
phong luân không ngăn hoại được,
Bực
Bồ Tát này siêu ma đạo
Dứt
trừ phiền não cho quần sanh .
Bực
này thường làm thiên hóa vương
Hóa
đạo chúng sanh trừ ngã mạn
Công
hạnh đều cầu nhứt thiết trí
Ðều
đã vượt hơn đạo Thanh văn .
Bồ
Tát bực này siêng tinh tấn
Ðược
môn tam muội trăm ngàn ức
Cũng
thấy trăm ngàn ức đức phật
Ví
như mặt nhựt ngày thạnh hạ .
Tậm
thâm vi diệu khó thấy biết
Thanh
văn, độc giác không rõ được
Bồ
Tát hiện tiền đệ lục địa
Tôi
vì Phật tử đã lược nói .
Bấy
giờ thiên chúng lòng hoan hỷ
Rải
hoa thành mây dừng hư không
Khắp
nơi pháp âm thanh diệu mầu
Thưa
cùng đắng tối thắng thanh tịnh :
Rõ
thấu thắng nghĩa trí tự tại
Thành
tựu công đức trăm ngàn ức
Không
chấp trước, như sen không nhiễm
Vì
lợi chúng sanh nói thâm hạnh .
Tự
tại Thiên Vương ở hư không .
Phóng
đại quang minh chiếu thân phật
Cũng
rải mây thơm tối thượng diệu
Cúng
khắp đắng sạch trừ phiền não
Bấy
giờ thiên chúng đều vui mừng .
Ðều
phát tiếng hay đồng ca ngợi :
Chúng
tôi được nghe hiện tiền địa
Thời
là đã được nhiều lợi lành .
Thiên
nữ lúc ấy lòng mừng vui
Cùng
trổi âm nhạc ngàn muôn điệu
Ðều
do thần lực của Như Lai
Trong
tiếng hòa nhạc thành lời nói :
Oai
nghi tịch tịnh không sánh kịp
Ðiều
ngự chúng sanh đời nên cúng
Ðã
siêu tất cả những thế gian
Mà
vào thế gian truyền diệu đạo .
Dầu
hiện nhiều loại vô lượng thân
Biết
thân mỗi mỗi vô sở hữu
Khéo
dùng ngôn từ nói các pháp
Chẳng
chấp tướng văn tự âm thanh .
Qua
đến trăm ngàn các quốc độ .
Dùng
những thượng cúng cúng dường phật
Trí
huệ tự tại không chấp trước
Chẳng
sanh niệm tưởng cõi phật ta
Dầu
siêng giáo hóa các chúng sanh .
Mà
không nhơn ngã tất cả tâm
Dầu
đã tu thành hạnh quảng đại
Mà
nơi hạnh lành chẳng chấp trước .
Bởi
thấy tất cả các thế gian
Lửa
tham, sân, si thường cháy hực
Nơi
các tưởng niệm thảy đều lìa
Phát
khởi đại bi sức tinh tấn .
Tất
cả chư thiên và thiên nữ
Cúng
dường nhiều thứ khen ngợi rồi
Tất
cả đồng thời đứng lặng yên
Chiêm
ngưỡng thế tôn mong nghe pháp .
Giải
thoát nguyệt vì chúng lại thưa :
Cả
đại chúng đây lòng thanh tịnh
Những
hành tướng trong đệ thất địa
Trông
mong Bồ Tát thương giảng giải .
Kim
cang tạng Bồ Tát nói với giải thoát nguyệt Bồ Tát rằng
: thưa Phật tử ! đại Bồ Tát đã tròn đủ công hạnh của
đệ lục địa muốn vào đệ thất viễn hành địa, phải
tu mười môn phương tiện huệ phát khởi đạo thù thắng
.
Ðây
là mười đạo thù thắng :
Dầu
khéo tu không, vô tướng, vô nguyện tam muội mà từ bi chẳng
bỏ chúng sanh .Dầu được pháp bình đẳng của chư phật
mà thích thường cúng dường phật. Dầu nhập môn quán không
trí mà siêng chứa phước đức .Dầu xa rời tam giới mà trang
nghiêm tam giới . Dầu rốt ráo dập tắt ngọn lửa phiền
não mà có thể vì tất cả chúng sanh khởi hạnh diệt tắt
ngọn lửa phiền não tham, sân, si. Dầu biết các pháp như
huyễn, như mộng, như bóng, như vang, như dương diệm, như
biến hóa, như trăng dưới nước, như tượng trong gương,
tự tánh bất nhị, mà tuỳ tâm tác động vô lượng sai khác.
Dầu biết tất cả quốc độ dường như hư không mà hay dùng
diệu hạnh thanh tịnh trang nghiêm phật độ . Dầu biết pháp
thân của Chư Phật bổn tánh không thân mà dùng tướng hảo
trang nghiêm thân mình . Dầu biết âm thanh của chư phật tánh
không tịch diệt chẳng thể ngôn thuyết, mà có thể tuỳ
tất cả chúng sanh phát ra các thứ âm thanh thanh tịnh sai khác.Dầu
tùy Chư Phật rõ biết tam thế chỉ là nhứt niệm, mà tùy
ý giải sai biệt của chúng sanh , dùng các loại tướng, các
thứ thời gian , các thứ kiếp số để tu tập công hạnh
.
Bồ
Tát dùng môn Phương tiện huệ phát khởi hạnh thù thắng
này, từ đệ lục hiện tiền địa vào đệ thất viễn hành
địa. Lúc vào đệ thất địa rồi thời các hạnh này thường
hiện tiền, gọi là an trụ nơi đệ thất viễn hành địa.
Phật
tử ! đại Bồ Tát an trụ đệ thất địa này rồi, thời
vào vô lượng chúng sanh giới, vào vô lượng công nghiệp
giáo hóa chúng sanh của Chư Phật , vào vô lượng thế giới
võng, vào vô lượng quốc độ thanh tịnh của Chư Phật, vào
vô lượng pháp sai biệt, vào vô lượng hiện giác trí của
Chư Phật, vào vô lượng kiếp số, vào vô lượng trí giác
liễu tam thế của Chư Phật, vào vô lượng tín giải sai biệt
của chúng sanh, vào vô lượng các loại thân danh sắc của
Chư Phật thị hiện, vào vô lượng căn tánh sở thích sai
biệt của chúng sanh, vào vô lượng ngữ ngôn âm thanh làm
cho chúng sanh hoan hỷ của chư phật,vào vô lượng các loại
tâm hành của chúng sanh, vào vô lượng trí rõ biết rộng
lớn của Chư Phật, vào vô lượng tín giải của thinh văn
thừa, vào vô lượng trí đạo của Chư Phật dạy khiến tín
giải, vào vô lượng pháp thành tựu của bích chi phật, vào
vô lượng môn terí huệ thâm thâm của chư phật dạy khiến
thẳng vào, vào vô lượng hạnh phương tiện của chư Bồ
Tát, vào vô lượng sự tập thành của đại thừa của Chư
Phật dạy làm cho Bồ Tát được vào .
Bồ
Tát này nghĩ rằng : vô lượng cảnh giới của Như Lai như
vậy, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha như vậy, nhẫn đến
trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể biết được .Tôi đều
phải dùng tâm vô công dụng, vô phân biệt để thành tựu
viên mãn .
Chư
Phật tử ! Bồ tát này dùng thâm trí huệ quán sát như vậy
.Thường siêng tu tập Phương tiện huệ khởi đạo thù thắng
an trụ bất động, không một niệm thôi nghỉ phế bỏ. Ði,
đứng, ngồi, nằm, nhẫn đến lúc ngũ chiêm bao cũng chưa
từng tương ưng với cái chướng. Luôn không hề bỏ những
quán niệm trên đây.
Trong
mỗi niệm, Bồ Tát này thường có thể đầy đủ mười ba
la mật.
Tại
sao vậy ? vì mỗi niệm, Bồ Tát này đều lấy đại bi làm
trước để tu hành Phật pháp hướng đến phật trí. Những
thiện căn đã có đều vì cầu phật trí mà bố thí cho chúng
sanh, đây gọi là đàn ba la mật. Hay diệt trừ những lửa
phiền não, đây gọi là thi la ba la mật. Từ bi làm dđầu
không tổn hại chúng sanh, đây gọi là sằn đề ba la mật.
Cầu pháp thắng thiện không nhàm đủ, đây gọi là tỳ lê
gia ba la mật. Nhứt thiết trí đạo thường hiện tiền chưa
từng tán loạn, đây gọi là thiền na ba la mật. Hay nhẫn
thọ các pháp bất sanh bất diệt, đây gọi là bát nhã ba
la mật. Hay xuất sanh vô lượng trí, đây gọi là phương tiện
ba la mật, hay cầu thượng thượng thắng trí, đây gọi là
nguyện ba la mật. Tất cả dị luận và các ma chúng không
trở hoại, đây gọi là lực ba la mật. Rõ biết các pháp
đúng thật đây gọi là trí ba la mật.
Chư
Phật tử ! mười môn ba la mật này, trong mỗi niệm Bồ Tát
đều đã đầy đủ .
Cũng
vậy, bốn nhiếp pháp, bốn pháp trì, ba mươi bảy phẩm trợ
đạo, ba môn giải thoát, lược nói nhẫn đến tất cả pháp
Bồ đề phần, trong mỗi niệm, Bồ Tát này đều viên mãn
cả.
Bấy
giờ giải thoát nguyện Bồ Tát hỏi kim cang tạng Bồ Tát
rằng : thưa Phật tử ! Bồ Tát chỉ ở trong đệ thất địa
này đầy đủ tất cả pháp Bồ đề phần, hay là trong các
địa cũng có thể đầy đủ ?
Kim
cang tạng Bồ Tát nói : thưa Phật tử ! Bồ Tát ở trong mười
địa đều có thể đầy đủ pháp Bồ đề phần, nhưng đệ
thất địa thù thắng hơn.
Tại
sao vậy ? vì đệ thất địa công dụng viên mãn thời được
vào trí huệ tự tại hạnh.
Chư
Phật tử ! Bồ tát ở trong bực sơ địa vì duyên tất cả
Phật pháp để nguyện cầu nên đây đủ pháp Bồ đề phần.
Vì đệ nhị địa lìa tâm cấu nhơ. Vì đệ tam địa nguyện
cầu càng tăng trưởng được pháp quang minh. Vì đệ tứ địa
nhập đạo. Vì đệ ngũ địa thuận thế gian mà tu tập. Vì
đệ lục địa nhập pháp môn thậm thâm. Vì đệ thất địa
phát khởi tất cả Phật pháp. Tất cả địa đều cũng đầy
đủ pháp Bồ đề phần .
Tại
sao vậy ? Bồ Tát từ sơ địa đến đệ thất địa thành
tựu trí công dụng phần. Do công lực này, từ đệ bát địa
đến đệ thập địa vô công dụng hạnh đều được thành
tựu .
Chư
Phật tử ! ví như có hai thế giới : một thời tạp nhiễm,
một thời thuần tịnh. Chặng giửa của hai thế giới này
khó qua được, chỉ trừ bực Bồ Tát có đại thần thông
phương tiện nguyện lực.
Chư
Phật tử ! Bồ tát ở các địa cũng như vậy : có tạp nhiễm
hạnh, có thanh tịnh hạnh. Chẳng giửa của hai hạnh này khó
qua được, chỉ trừ Bồ Tát có đại nguyện lực Phương
tiện trí huệ mới có thể qua được .
Giải
thoát nguyệt Bồ Tát hỏi : thưa Phật tử ! bảy địa Bồ
Tát này là nhiễm hạnh hay là tịnh hạnh ?
Kim
cang tạng Bồ Tát nói : thưa Phật tử ! từ sơ địa đến
thất địa, công hạnh tu tập đều lìa bỏ nghiệp phiền
não, vì hồi hướng vô thượng Bồ đề , vì phần được
đạo bình đẳng, nhưng chưa gọi là hạnh siêng phiền não.
Chư
Phật tử ! như chuyển luân thánh vương ngự tượng bửu du
hành tứ thiên hạ, biết có người bần cùng khốn khố嬠mà
không bị lây những sự hoạ hoạn đó, nhưng chưa được
gọi là siêu nhơn loại. Nếu bỏ thân chuyển luân vương sanh
lên trời phạm thế, ngự thiên cung thấy ngàn thế giới,
du hành ngàn thế giới, thị hiện quang minh oai đức của phạm
thiên mới gọi là siêu nhơn loại .
Chư
Phật tử ! Bồ tát cũng như vậy. Ban đầu từ bực sơ địa
đến bực đệ thất địa, ngự xe ba la mật du hành thế gian
, biết quá hoạn phiền não của thế gian. Vì ngự chánh đạo
nên chẳng bị lỗi lầm của phiền não làm lây nhiễm, nhưng
chưa gọi là siêu phiền não hạnh. Nếu bỏ tất cả hạnh
hữu công dụng, tư đệ thất địa vào đệ bát địa, ngự
xe Bồ Tát, thanh tịnh du hành thế gian, biết phiền não lỗi
lầm chẳng bị lây nhiễm, mới gọi là siêu phiền não hạnh,
vì được siêu quá hết tất cả
Chư
Phật tử ! Bồ tát đệ thất địa này siêu quá hết những
phiền não đa tham, đa sân v.v … mà an trụ. Bực này chẳng
gọi là có phiền não, cũng chẳng gọi là không phiền não
.
Tại
sao vậy ? vì ở bực này, tất cả phiền não chẳng hiện
hành nên gọi chẳng gọi là có. Vì cầu phật trí tâm chưa
mãn toại nên chẳng gọi là không.
Chư
Phật tử ! Bồ tát an trụ bực đệ thất địa dùng tâm thâm
tịnh mà thành tựu thân nghiệp, ngữ nghiệp và thành tựu
ý nghiệp. Tất cả những nghiệp đạo bất thiện bị phật
quở trách đều đã lìa bỏ. Tất cả thiện nghiệp mà Phật
khen thời thường khéo tu hành . Tất cả kinh, thơ, kỷ thuật
của thế gian như đã nói ở đệ ngũ địa đều tự nhiên
thật hành thông thạo chẳng cần dụng công.
Bồ
Tát ở trong đại thiên thế giới làm đại minh sư. Chỉ trừ
đức Như Lai và từ đệ bát địa trở lên, thâm tâm diệu
hạnh của các Bồ Tát khác đều không bằng được.
Ở
bực này, những thiền tam muội, thần thông giải thoát đều
được hiện tiền. Nhưng là do tu tập mà thành, chẳng phải
báo đắc thành như bực đệ bát địa.
Bực
Bồ Tát này trong mỗi niệm tu tập đầy đủ Phương tiện
trí lực, và tất cả pháp Bồ đề phần đều càng viên mãn
hơn.
Chư
Phật tử ! Bồ tát trụ bực này nhập tam muội Bồ Tát thiện
quán trạch, tam muội thiện trạch nghĩa, tam muội tối thắng
huệ tam muội phân biệt nghĩa tạng, tam muội như thiệt phân
biệt nghĩa, tam muội thiện trụ kiên cố căn, tam muội trí
huệ thần thông môn, tam muội pháp giới nghiệp, tam muội
Như Lai thắng lợi, tam muội chủng chủng nghĩa tạng sanh tử
Niết Bàn môn. Nhập trăm ngàn tam muội đầy đủ môn đại
trí thần thông như vậy, tu tập thanh tịnh các trí địa.
Vì
Bồ Tát này được nhập các tam muội trên đây khéo tu tập
thanh tịnh phương tiện huệ, đại bi lực nên vượt hơn bực
nhị thưa, được qán sát trí huệ địa.
Chư
Phật tử ! Bồ tát trụ bực này khéo tu tịnh vô lượng thân
nghiệp vô tướng hành, ý nghiệp vô tướng hành nên được
quang minhvô sanh pháp nhẫn.
Giải
thoát nguyệt Bồ Tát hỏi : thưa Phật tử ! Bồ Tát từ sơ
địa đến bực này có vô lượng thân nghiệp, ngữ nghiệp,
ý nghiệp há chẳng vượt hơn háng nhị thừa ư ?
Kim
cang tạng Bồ Tát nói : thưa phật tử ! các bực đó đều
vượt hơn, nhưng chỉ là do nguyện cầu Phật pháp, chẳng
phải là sức tự trí quán sát. Nay trong bực đệ thất địa
này do tự trí lực nên tất cả nhị thừa chẳng kịp được.
Ví
như vương tử sanh ở cung vua, do vương hậu sanh có đủ vương
tướng. Khi sanh ra thời đã hơn tất cả các quan, nhưng chỉ
do đức lực của nhà vua chớ chẳng phải tự lực, khi thân
trưởng thành, toàn vẹn tất cả nghề nghiệp oai đức, thời
mới là do tự lực mà hơn tất cả thần dân.
Ðại
Bồ Tát cũng vậy. Lúc sơ pháp tâm, do vì chí cầu đại pháp
nên vượt hơn tất cả Thanh văn, duyên giác.Nay an trụ bực
đệ thất địa do tự lực trí huệ nên vượt lên trên tất
cả nhị thừa.
Chư
Phật tử ! Bồ tát an trụ bực đệ thất địa này được
viễn ly vô hành thậm thâm, thường tu hành thân, khẩu, ý,
siêng cầu đạo vô thượng chẳng bỏ rời. Thế nên Bồ Tát
này dầu đi nơi thiệt tế mà chẳng tác chứng .
Giải
thoát nguyệt Bồ Tát hỏi : thưa Phật tử ! Bồ Tát từ địa
nào lên đến địa nào có thể nhập được diệt định ?
Kim
cang tạng Bồ Tát nói : thưa Phật tử ! Bồ Tát từ đệ lục
địa trở lên có thể nhập diệt định. Nay an trụ nơi đệ
thất địa này thời có thể mỗi niệm nhập diệt định,
cũng mỗi niệm xuất, nhưng không tác chứng.Thế nên Bồ Tát
này gọi là thành tựu thân, ngữ, ý nghiệp bất tư nghì,
đi nơi thiệt tế mà chẵng tác chứng.
Ví
như có người ngồi thuyền vào biển, do sức thiện xảo nên
không bị tai nạn.
Cũng
vậy Bồ Tát ở bực này ngồi thuyền ba la mật đi trong biển
thiệt tế, do nguyện lực nên chẳng chứng diệt.
Chư
Phật tử ! Bồ tát này được tam muội trí lực như vậy,
do đại phương tiện, dầu thị hiện sanh tử mà luôn trụ
Niết Bàn, dầu quyết thuộc vây quanh mà thường thích xa lìa,
dầu do nguyện lực thọ sanh trong ba cõi mà chẳng nhiễm thế
pháp, dầu thường tịch diệt do sức phương tiện mà lại
phừng cháy, dầu đốt nhưng chẳng cháy, dầu tùy thuận phật
trí mà thị hiện vào bực thanh văn bích chi phật, dầu được
phật cảnh giới mà thị hiện ở cảnh giới ma, dầu thị
hiệnđồng với ngoại đạo mà chẳng bỏ Phật pháp,dầu
thị hiện tùy thuận tất cả thế gian mà thường thật hành
tất cả pháp xuất thế.
Bồ
Tát này chỗ có tất cả sự trang nghiêm vượt hơn tất cả
sự trang nghiêm của trời, rồng, bát bộ, người, phi nhơn.
Tứ thiên vương , đế thích chánh pháp.
Chư
Phật tử ! Bồ tát thành tựu trí huệ như vậy trụ bực
viễn hành địa do nguyện lực nên được thay nhiều đức
phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha Ðức Phật,
đều kính trọng tán thán cúng dường với tâm quãng đại,
tâm tăng thắng.Cũng cúng dường tất cả chúng tăng. Ðem thiện
căn này hồi hướng vô thượng Bồ đề. Lại ở chổ chư
phật cung kính nghe pháp, nghe xong thọ trì, được như thiệt
tam muội trí huệ quang minh, tùy thuận tu hành hộ trì chánh
pháp. thường được Chư Phật hoan hỷ khen ngợi. Hàng nhị
thừa không thể vấn nạn làm thua được.Bồ Tát này làm
lợi ích chúng sanh pháp nhẫn thanh tịnh. Như vậy trải qua
vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp những thiện căn đã
có càng thêm tăng thắng.
Ví
như chơn kim, dùng các thứ châu báu cẩn xen vào càng làm cho
chơn kim sáng chói hơn, những vật trang nghiêm khác không thể
sánh được.
Những
thiện căn của Bồ Tát đệ thất địa này cũng như vậy,
do sức phương tiện huệ càng sáng sạch hơn, chẳng phải
hàng nhị thừa sánh kịp được.
Chư
phật tử ! ví như ánh sáng mặt trời,những ánh sáng của
trăng sao v.v…đều không sánh được. Những chổ sình lầy
nơi đại địa, ánh sáng mặt trời có thể làm khô ráo
Bồ
Tát viễn hành địa này cũng như vậy, tất cả hàng nhị
thừa không khéo kịp, được có thể làm cạn khô sình lầy
phiền não của tất cả chúng sanh .
Bồ
Tát này thiên nhiều về Phương tiện ba la mật. Chín môn ba
la mật kia thời tùy sức tùy phần mà tu tập.
Chư
Phật tử ! Ðây là lược nói đại Bồ Tát Ðệ Thất Viễn
Hành Ðịa.
Bồ
Tát an trụ bực này thường làm tự tại Thiên Vương, khéo
vì chúng sanh mà nói pháp chứng trí, khiến họ chứng nhập.
Tất
cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều
chẳng rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng nhẫn đến chẳng
rời niệm đầy đủ Nhứt thiết chủng trí.
Bồ
Tát này lại nghĩ rằng : Tôi sẽ ở trong tất cả chúng sanh
làm thượng thủ, là thắng, nhẫn đến là bực y chỉ của
Nhứt thiết chủng trí.
Bồ
Tát này nếu phát cần tinh tấn, thời trong khoảng một niệm
được trăm ngàn ức na do tha tam muội, nhẫn đến thị hiện
trăm ngàn ức na do tha Bồ Tát để làm quyến thuộc.
Nếu
dùng nguyện lực thù thắng tự tại thị hiện thời hơn số
trên đây, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể
đếm biết được.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng
:
Ðệ
nhứt nghĩa trí tam muội đạo
Lục
Ðịa tu hành tâm đầy đủ
Tức
thời thành tựu phương tiện huệ
Bồ
Tát dùng đây vào Thất Ðịa.
Dầu
chứng tam thoát nhưng từ bi,
Dầu
đồng Như Lai nhưng cúng Phật,
Dầu
quán không nhưng chứa phước đức
Bồ
Tát do đây lên Thất Ðịa.
Xa
rời tam giới mà trang nghiêm,
Dứt
trừ lửa phiền mà khởi lửa,
Biết
pháp bất nhị nhưng siêng tu
Rõ
cõi không hư mà nghiêm độ,
Hiểu
thân bất động, đủ các tướng,
Thấu
thinh tánh ly, khéo khai diễn,
Thâm
nhập nhứt niệm, hành nhiều việc,
Bực
trí do đây lên Thất Ðịa.
Quán
sát pháp này được rõ ràng
Rộng
vì chúng sanh làm lợi ích,
Vào
chúng sanh giới không biên tế
Công
nghiệp giáo hóa cũng vô lượng.
Quốc
độ, các pháp cùng kiếp số
Giải,
dục, tâm hành đều hay vào
Thuyết
pháp tam thừa cũng vô hạn
Như
thế giáo hóa các quần sanh.
Bồ
Tát siêng cầu đạo tối thắng
Ðộng
nghĩ, chẳng bỏ phương tiện huệ
Mỗi
mỗi hồi hướng Phật Bồ đề
Niệm
niệm thành tựu Ba la mật.
Phát
tâm hồi hướng là bố thí,
Dứt
hoặc là giới, chẳng hại : nhẫn,
Cầu
lành không nhàm là tinh tấn,
Nơi
đạo chẳng động tức tu thiền,
Nhẫn
thọ vô sanh là Bát Nhã,
Hồi
hướng phương tiện là nguyện độ,
Không
bị phá : lực, khéo rõ : trí,
Thập
độ như vậy đều thành mãn,
Sơ
Ðịa phan duyên công đức đủ,
Nhị
Ðịa Ly Cấu tam nghiệp tịnh,
Tứ
Ðịa nhập đạo, Ngũ thuận hành,
Ðệ
Lục vô sanh trí quang chiếu,
Ðệ
Thất Bồ đề công đức toàn
Tất
cả đại nguyện đều đầy đủ,
Do
đây hay khiến bực nhập Ðịa
Tất
cả c⮧ hạnh đều thanh tịnh.
Ðịa
này khó qua, trí mới siêu
Ví
như chặng giữa hai thế giới
Cũng
như Thánh Vương không lây nghèo
Nhưng
chưa được gọi : Tổng siêu độ.
Nếu
trụ trong Ðệ Bát Trí Ðịa
Mới
là vượt qua tâm cảnh giới
Như
Phạm Thiên Vương siêu nhơn loại
Như
sen ở nước chẳng tanh bùn.
Ðệ
Thất dầu siêu các phiền não
Chẳng
gọi có hay không phiền não
Chẳng
có vì không hoặc hiện hành
Chẳng
không vì tâm cầu Phật trí.
Bao
nhiêu kỷ nghệ ở thế gian
Kinh
sách từ luận đều rành cả
Thiền
định, tam muội và thần thông
Tất
cả tu hành đều thành tựu.
Bồ
Tát tu hành đạo Thất Ðịa
Vượt
hơn tất cả hạnh Nhị thừa,
Sơ
Ðịa nguyện thành, đây do trí,
Ví
như Vương tử đủ oai lực,
Thành
tựu thậm thâm vẫn tiến tu
Tâm
tâm tịch diệt chẳng tác chứng
Ví
như ngồi thuyền vào trong biển
Ở
nước chẳng bị nước nhận chìm.
Phương
tiện huệ hành đủ công đức
Tất
cả thế gian không rõ được
Cúng
dường nhiều Phật tâm càng sáng
Như
dùng diệu bửu trang nghiêm vàng.
Thất
Ðịa Bồ Tát trí rất sáng
Như
sáng mặt trời khô nước ái
Thường
làm Tự Tại vua cõi Trời
Hóa
đạo quần sanh tu chánh trí.
Nếu
do dũng mãnh tinh tấn lực
Ðược
nhiều tam muội thấy nhiều Phật
Trăm
ngàn ức số na do tha
Nguyện
lực tự tại lại hơn đây.
Ðây
là Bồ Tát Viễn Hành Ðịa
Phương
tiện trí huệ thanh tịnh đạo
Tất
cả thế gian trời và người
Thanh
văn, độc giác không biết được.
