(Hán
bộ quyển 35)
Chúng
Bồ Tát đã nghe
Ðịa
tối thắng vi diệu
Tâm
các Ngài thanh tịnh
Tất
cả đều vui mừng
Ðồng
rời tòa đứng dậy
Vọt
bay dừng trên không
Khắp
rải hoa báu đẹp
Ðồng
thời chung khen ngợi :
Lành
thay Kim Cang Tạng
Bực
đại trí vô úy
Khéo
nói những pháp lành
Của
Sơ địa Bồ Tát.
Bồ
Tát Giải Thoát Nguyệt
Biết
lòng chúng thanh tịnh
Thích
nghe những hành tướng
Của
đệ nhị "Ly Cấu"
Liền
thỉnh Kim Cang Tạng :
Ðại
trí xin diễn thuyết
Phật
tử đều thích nghe
Ðệ
nhị Ly Cấu Ðịa.
Bấy
giờ Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát
rằng : Thưa Phật Tử ! Ðại Bồ Tát đã tu Sơ địa muốn
vào đệ nhị địa thời phải phát khởi mười thứ thâm
tâm.
Ðây
là mười thứ thâm tâm :
Tâm
chánh trực, tâm nhu nhuyến, tâm kham năng, tâm điều phục,
tâm tịch tịnh, tâm thuần thiện, tâm chẳng tạp, tâm không
cố luyến, tâm rộng, tâm lớn.
Bồ
Tát dùng mười thâm tâm này thời được vào bực Ly Cấu
Ðịa thứ hai.
Chư
Phật tử ! Bồ tát trụ Ly Cấu Ðịa thời tánh tự xa rời
tất cả sát sanh, chẳng chứa dao gậy, chẳng có lòng oán
hận, có tàm có quý, đầy đủ lòng nhơn thứ. Với tất cả
chúng sanh có mạng sống thời thương, sanh lòng từ làm lợi
ích.
Bồ
Tát này còn chẳng có lòng ác não hại chúng sanh, huống là
với họ mà có chúng sanh tưởng cố ý làm việc giết hại.
Tánh
tự chẳng trộm cắp. Với của cải mình Bồ Tát thường
biết vừa đủ, với người thời thương yêu tha thứ chẳng
hề xâm tổn. Nếu đồ vật thuộc người khác thời tưởng
là của người khác, trọn không sanh lòng trộm cắp, nhẫn
đến lá cây của người không cho thời không lấy, huống
là đồ vật dụng khác. Tánh tự chẳng tà dâm. Với tự thê,
Bồ Tát tri túc chẳng mong vợ người. Với thê thiếp của
người cùng con gái của người, trọn không móng lòng tham
nhiễm, huống là tùng sự dâm dục, huống là nơi phi đạo.
Tánh
tự chẳng vọng ngữ. Bồ Tát luôn thật ngữ, chơn ngữ, thời
ngữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng còn chẳng nói lời phú
tàng, vô tâm, vọng ngữ, huống là cố ý nói dối.
Tánh
tự chẳng lưỡng thiệt. Bồ Tát đối với chúng sanh không
tâm ly gián, không tâm não hại, chẳng đem lời người này
đến nói với người kia để pháp người kia, chẳng đem lời
người kia đến nói với người này để phá người này,
người chưa ly phá thời chẳng cho ly phá, người đã ly phá
thời chẳng cho thêm hơn. Chẳng mừng sự ly gián, chẳng ưa
sự ly gián, chẳng nói lời ly gián. Chẳng cho lời ly gián
là thiệt hay chẳng thiệt.
Tánh
tự chẳng ác khẩu, như là lời độc hại, lời thô tục,
lời làm khổ người khác, lời làm người khác sân hận,
lời hiện tiền, lời chẳng hiện tiền, lời xấu ác, lời
dung tiện, lời bất nhã, lời làm người nghe không ưa, không
vui, lời giận dữ, lời như lửa đốt lòng, lời oán kết,
lời nhiệt não, lời có thể làm hại mình và người. Những
ác khẩu như vậy đều bỏ lìa cả. Thường nói lời lợi
ích, lời mềm mỏng, lời đẹp dạ, lời thích nghe, lời làm
người nghe vui mừng, lời khéo vào tâm người, lời phong nhã
điển tắc, lời nhiều người mến thích, lời nhiều người
vui đẹp, lời thân tâm hớn hở.
Tánh
tự chẳng ỷ ngữ. Bồ Tát thường thích nói lời chín chắn,
lời phải thời, lời thiệt, lời đúng nghĩa, lời đúng pháp,
lời thuận đạo lý, lời khéo điều phục, lời tùy thời
tính lường quyết định. Bồ Tát này nhẫn đến chơi cười
còn luôn suy nghĩ kỹ, huống là cố ý nói ra lời tán loạn.
Tánh
tự chẳng tham lam. Bồ Tát này đối với tài vật đồ dùng
của kẻ khác chẳng móng tâm tham, chẳng mong cầu.
Tánh
tự rời giận hờn. Bồ Tát này đối với tất cả chúng
sanh luôn khởi tâm từ mẫn, tâm lợi ích, tâm đau xót, tâm
hoan hỷ, tâm hoà thuận, tâm nhiếp thọ, bỏ hẳn sân hận
oán hại nhiệt não, thường nghĩ đến thật hành nhơn từ
lợi ích.
Tánh
tự lìa tà khiến. Bồ Tát trụ nơi chánh đạo, chẳng coi
bói, chẳng thọ lấy cấm giới tà ác, tâm kiến chánh trực,
không dua dối, quyết định tin nơi Phật, Pháp, Tăng.
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ tát hộ trì mười nghiệp đạo lành
như vậy không hề gián đoạn. Lại tự nghĩ rằng : tất cả
chúng sanh sa đọa nơi ác đạo đều do mười nghiệp ác. Vì
thế nên tôi phải tự tu chánh hạnh, cũng khuyên người khác
tự tu chánh hạnh. Vì mình không tự tu thời không thể bảo
kẻ khác tu.
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ tát này lại nghĩ rằng : Mười nghiệp
đạo ác là nhơn thọ sanh nơi địa ngục, súc sanh và ngạ
quỷ. Mười nghiệp đạo lành là nhơn thọ sanh nơi loài người
cõi Trời. Lại thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này
dùng trí huệ để tu tập, vì tâm hẹp kém, vì sợ sanh tử,
vì thiếu đại bị, vì theo người Thanh Văn khác mà tỏ ngộ
thời thành Thanh Văn thừa. Lại thượng phẩm mười nghiệp
đạo lành này tu tập thanh tịnh, chẳng do người khác dạy
mà tự giác ngộ, vì chẳng đủ đại bi phương tiện, mà
tỏ ngộ pháp nhơn duyên thậm thâm thời thành Ðộc Giác thừa.
Lại thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này tu tập thanh
tịnh, vì tâm rộng vô lượng, vì đầy đủ bi mẫn, vì phương
tiện nhiếp thọ, vì phát sanh đại nguyện, vì chẳng bỏ
chúng sanh, vì mong cầu Phật trí, vì tu tập trí địa của
Bồ Tát, vì tịnh tu tất cả Ba la mật, mà thành hạnh quảng
đại của Bồ Tát. Lại thượng thượng phẩm mười nghiệp
đạo lành này, vì Nhứt thiết chủng thanh tịnh nhẫn đến
chứng Thập lực, Tứ vô úy nên tất cả Phật pháp đều
được thành tựu. Vì những lẽ trên đây nên tôi bình đẳng
thật hành mười nghiệp lành làm cho tất cả đều thanh tịnh
đầy đủ.
Những
phương tiện như vậy Bồ Tát phải học.
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ tát này lại nghĩ rằng : Mười nghiệp
đạo ác : Thượng phẩm là nhơn địa ngục, trung phẩm là
nhơn súc sanh, hạ phẩm là nhơn ngạ quỷ.
Trong
đây về tội sát sanh có thể làm cho chúng sanh đọa địa
ngục, súc sanh, ngạ qủy. Nếu sanh trong loài người thời
mắc hai quả báo : Mạng vắn và nhiều bịnh.
Tội
trộm cấp cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh
trong loài người thời mắc hai quả báo : Nghèo cùng và tài
sản chung không được tự do dùng.
Tội
tà dâm cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh trong
loài người thời mắc hai quả báo : Vợ không trinh lương
và quyến thuộc không được tùy ý.
Tội
vọng ngữ cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh
trong loài người thời mắc hai quả báo : Bị phỉ báng và
bị khi dối.
Tội
lưỡng thiệt cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu
sanh trong loài người thời mắc hai quả báo : Quyến thuộc
trái lìa và thân tộc tệ ác.
Tội
ác khẩu cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh
trong loài người thời mắc hai quả báo : Thường nghe tiếng
ác và lời nói nhiều tranh cãi.
Tội
ỷ ngữ cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh trong
loài người thời mắc hai quả báo : Lời nói người không
lãnh thọ và lời không rõ ràng.
Tội
tham dục cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh
trong loài người thời mắc hai quả báo : Lòng không biết
đủ và quá tham muốn không nhàm.
Tội
sân hận cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh
trong loài người thời mắc hai quả báo : Thường bị người
khác tìm chỗ hay dở và luôn bị người khác não hại.
Tội
tà kiến cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo. Nếu sanh
trong loài người thời mắc hai quả báo : sanh nhà tà kiến
và tâm dua vạy.
Chư
Phật tử ! Mười nghiệp đạo ác có thể sanh vô lượng vô
biên những quả khổ. Do đây Bồ Tát nghĩ rằng : Tôi phải
xa rời mười nghiệp ác. Làm vườn pháp an ổn thích thú tự
ở trong đó, cũng khuyên người khác cùng ở trong đó.
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ tát này với tất cả chúng sanh phát
sanh tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm từ, tâm bi, tâm lân mẫn,
tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ, tâm tự kỷ, tâm Sư, tâm Ðại
Sư.
Bồ
Tát nghĩ rằng : chúng sanh đáng thương đọa nơi rừng rậm
tà kiến, trí ác, muốn ác, đạo ác. Tôi phải làm cho họ
trụ nơi chánh kiến tu hành đạo hành đạo chơn thiệt.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : tất cả chúng sanh phân biệt bỉ ngã
phá hoại lẫn nhau, đấu tranh sân hận hẩy hừng không ngớt,
tôi phải làm cho họ an trụ trong vô thượng đại từ.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : Tất cả chúng sanh tham lấy không biết
nhàm, chỉ cầu của cải tự sống bằng cách tà mạng. Tôi
phải làm cho họ an trụ trong chánh pháp thân, ngữ, ý thanh
tịnh chánh mạng.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : tất cả chúng sanh thường theo tham, sân,
si, các thứ phiền não nhơn đó mà hẩy hừng, họ chẳng biết
lập chí cầu phương tiện giải thoát. Tôi phải làm cho họ
dứt trừ tất cả lửa lớn phiền não, đặt họ vào chỗ
Niết Bàn thanh lương.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : tất cả chúng sanh bị màn đầy ngu si
vọng kiến tối tăm che đậy mà phải vào trong rừng rậm
tối lòa, mất ánh sáng trí huệ, đi đường hiểm đồng hoang
sanh ác kiến. Tôi phải làm cho họ được trí nhãn thanh tịnh
không chướng ngại, biết tường như thật của các pháp,
chẳng theo người khác dạy.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : tất cả chúng sanh ở trong đường hiểm
sanh tử, sắp đọa địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, vào trong
lưới ác khiến, bị rừng tậm ngu si làm mê, theo dõi đạo
tà, làm hạnh điên đảo, ví như người mù không kẻ dắt
đường. Chẳng phải đạo giải thoát mà cho là đạo giải
thoát. Vào cảnh giới ma, bị bọn giặc ác nhiếp lấy, thuận
theo tâm mà, xa lìa ý Phật. Tôi phải cứu họ ra khỏi nạn
hiểm như vậy, cho họ an trụ nơi thành Nhứt thiết trí vô
úy.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : Tất cả chúng sanh bị dòng nước chảy
xiết sóng lớn nhận chìm vào dòng dục, dòng sanh tử, dòng
vô minh, dòng tà kiến, xoay lăn trong sanh tử, trôi nổi trong
sông ái nhiễm, mãi bị dồi giập không rảnh để quan sát,
rồi bị quan niệm tham dục, sân hận, độc hại không rời
tâm họ, nên họ bị quỷ La sát thân kiến bắt đem nhốt
hẳn trong rừng rậm ái dục. Họ lại quá nhiễm trước nơi
chỗ tham ái, ở nơi gò ngã mạn, ngụ trong tụ lạc sáu căn.
Nếu không người cứu giỏi, thời không thể độ họ được.
Tôi
phải phát khởi tâm đại bi đối với họ, dùng những thiện
căn để cứu tế họ, cho họ khỏi tai hoạn lìa nhiễm ô
được thanh tịnh, mà ở an nơi thành báu Nhứt thiết trí.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : Tất cả chúng sanh ở trong lao ngục thế
gian bị nhiều khổ não, thường ôm lòng yêu ghét, tự mang
lấy gông xiềng lo sợ tham dục, rừng rậm vô minh che chướng
họ, không thể thoát khỏi ba cõi. Tôi phải làm cho họ ra
khỏi hẳn ba cõi mà ở an nơi đại Niết Bàn vô ngại.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : Tất cả chúng sanh chấp trước nơi ngã
và ngã sở, chẳng có ý muốn ra khỏi nhà tù ngũ uẩn, nương
nơi tụ lạc trống rỗng, sáu căn phát khởi bốn hạnh điên
đảo, bị bốn rắn độc tứ đại cắn mổ, bị giặc thù
ngũ uẩn giết hại chịu vô lượng đau khổ.
Tôi
phải làm cho họ ở an nơi chỗ tối thắng vô trước, chính
là Vô thượng Niết Bàn dứt hết mọi chướng ngại.
Bồ
Tát lại nghĩ rằng : Tâm của chúng sanh hèn kém, chẳng chịu
thật hành đạo có thể Nhứt thiết trí. Dầu họ muốn giải
thoát, nhưng họ chỉ thích hai thừa Thanh Văn và Bích Chi Phật.
Tôi phải làm cho họ an trụ nơi Phật pháp quảng đại, nơi
trí huệ quảng đại.
Bồ
Tát này hộ trì giới cấm như vậy khéo có thể thêm lớn
tâm từ bi.
Chư
Phật tử ! Bồ tát ở bực Ly Cấu Ðịa này, do nguyện lực
mà được thấy nhiều Phật. Như là thấy trăm Ðức Phật,
ngàn đức Phật, trăm ngàn Ðức Phật, nhẫn đến thấy trăm
ngàn ức na do tha đức Phật.
Ở
chỗ Chư Phật, Bồ Tát này dùng tâm quảng đại thâm tâm
cung kính tôn trọng phụng thờ, cúng dường những thứ y phục,
ăn uống, thuốc men, ngọa cụ, tất cả đồ dùng. Và cũng
cúng dường tất cả chúng Tăng. Ðem công đức này hồi hướng
Vô thượng Bồ đề.
Ở
chỗ Chư Phật, do tâm tôn trọng, Bồ Tát này lại thọ hành
mười đạo pháp lành, tùy chỗ đã thọ nhẫn đến Bồ đề
trọn không quên mất.
Bồ
Tát này từ vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp vì đã
xa rời tội tham giận phá giới nên hạnh bố thí, trì giới
được thanh tịnh toàn vẹn.
Ví
như chơn kim để trong phàn thạch, đúng theo cách thức luyện
xong thời lìa tất cả cấu nhơ càng sáng sạch hơn.
Bồ
Tát trụ bực Ly Cấu Ðịa này cũng như vậy. Trải qua vô
lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, vì xa lìa bợn nhơ tham
sân phá giới, nên hạnh bố thí, trì giới được thanh tịnh
đầy đủ.
Chư
Phật tử ! Trong bốn nhiếp pháp, Bồ tát này thiên về ái
ngữ nhiều. Trong mười môn Ba la mật Bồ Tát này thiên nhiều
về trì giới. Với các pháp khác thời tùy phần tùy sức.
Chư
Phật tử ! Ðây là lược nói về bực Ly Cấu Ðịa.
Ðại
Bồ Tát trụ bực này, phần nhiều hiện thân làm Chuyển Luân
Thánh Vương, làm Ðại pháp chủ, đầy đủ thất bửu, có
sức tự tại, có thể trừ cấu nhiễm tham, sân, phá giới
của tất cả chúng sanh. Dùng phương tiện khéo làm cho họ
an trụ trong mười nghiệp đạo lành. Làm vị đại thí chủ
châu ấp vô tận. Bao nhiêu công hạnh như bố thí, ái ngữ,
lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm Nhứt thiết chủng
trí.
Bồ
Tát này lại nghĩ rằng : Nơi tất cả chúng sanh tôi sẽ là
thượng thủ, là thắng, là tối thắng, là diệu, là vi diệu,
là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là chỗ y chỉ của
Nhứt thiết chủng trí.
Bồ
Tát này lúc muốn bỏ nhà để ở trong Phật pháp tinh tấn
tu hành. Liền có thể rời nhà vợ con, quyến thuộc, ngũ dục.
Khi đã xuất gia thời siêng năng tu tập, khoảng một niệm
được ngàn tam muội, được thấy ngàn Ðức Phật, biết
thần lực của ngàn Ðức Phật, có thể chấn động ngàn
thế giới, nhẫn đến có thể thị hiện ngàn thân, mỗi thân
thị hiện ngàn Bồ Tát làm quyến thuộc. Nếu dùng nguyện
lực thù thắng tự tại để thị hiện thời hơn số này,
trong trăm ngàn ức na do tha kiếp cũng chẳng đếm biết được.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ rằng
:
Chất
trực, nhu nhuyến và kham năng
Ðiều
phục, tịch tịnh và thuần thiện
Ý
rộng lớn mau thoát sanh tử
Do
mười tâm vào đệ Nhị địa.
Ở
đây thành tựu giới công đức
Xa
lìa sát sanh chẳng não hại
Cũng
lìa trộm cắp và tà dâm
Lìa
hẳn vọng, ác, ly, ỷ ngữ.
Chẳng
tham của cải thường xót thương
Chánh
đạo, trực tâm không siểm ngụy
Rời
hiểm, bỏ mạn, rất điều nhu
Y giáo
thật hành chẳng phóng dật.
Ðịa
ngục, súc sanh chịu khốn khổ
Ngạ
quỷ đói khát miệng tuôn lửa
Tất
cả đều do tội ác gây
Tôi
phải lìa xa trụ thật pháp
Nhơn
gian tùy ý được thọ sanh
Nhẫn
đến thiền định Sắc, Vô sắc
Thanh
Văn, Ðộc Giác đến thành tựu.
Tư
duy như vậy chẳng phóng dật
Tự
gìn tịnh giới dạy người trì
Lại
thấy quần sanh chịu đau khổ
Lại
càng thêm lớn tâm đại bi.
Phàm
phu tà kiến hiểu bất chánh
Thường
giận hay hờn nhiều tranh cãi.
Tham
cầu nhiễm trước không nhàm đủ
Tôi
phải độ họ trừ ba độc
Ngu
si đen tối che trùm lấp
Vào
đường hiểm lớn lưới tà kiến
Nhà
giam sanh tử bị nhốt bắt
Tôi
phải khiến họ dẹp giặc ma.
Bốn
dòng đẩy trôi tâm chìm đắm
Ba
cõi đốt thui vô lượng khổ
Chấp
uẩn làm nhà : ngã ở trong
Vì
muốn độ họ siêng hành đạo.
Dầu
muốn giải thoát tâm lại kém
Bỏ
xa vô thượng Phật trí huệ
Tôi
muốn khiến họ trụ Ðại thừa
Chuyên
cần tinh tấn không nhàm đủ.
Bồ
Tát ở đây chứa công đức
Thấy
vô lượng Phật đều cúng dường
Ức
kiếp tu hành thêm sáng sạch
Như
dùng thuốc tốt luyện chơn kim,
Bồ
Tát ở đây hiện Luân Vương
Ðộ
khắp chúng sanh tu thập thiện
Bao
nhiêu pháp lành đều tu tập
Ðể
thành Thập lực cứu thế gian
Muốn
bỏ Vương vị và tài bửu
Liền
lìa nhà tục nương Phật giáo
Dũng
mãnh tinh tấn trong một niệm
Ðược
ngàn tam muội, thấy ngàn Phật.
Bao
nhiêu tất cả sức thần thông
Bồ
Tát Nhị địa đều hiện được
Nguyện
lực đã làm lại hơn đây
Vô
lượng tự tại độ quần sanh.
Người
làm lợi ích khắp thế gian
Ðã
tu Bồ Tát hạnh tối thắng
Công
đức đệ nhị địa như vậy
Vì
các Phật tử đã khai diễn.
Phật
tử được nghe công hạnh này
Cảnh
giới Bồ Tát khó nghĩ bàn
Thảy
đều cung kính lòng hoan hỷ
Rải
hoa hư không để cúng dường.
Khen
rằng : lành thay đấng Ðại Sĩ
Lòng
từ thương xót các chúng sanh
Khéo
nói luật nghi của trí giả
Và
hành tướng trong đệ Nhị địa.
Ðây
diệu hạnh của chư Bồ Tát
Chơn
thiệt không lạ không sai biệt.
Vì
muốn lợi ích các quần sanh
Diễn
nói như vậy rất thanh tịnh.
Tất
cả Nhơn, Thiên đến cúng dường
Mong
được nghe giảng đệ Tam địa
Những
trí hạnh cùng pháp tương ưng
Cảnh
giới như vậy mong nói đủ.
Phật
có tất cả pháp : thí, giới,
Nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền, trí huệ.
Cùng
với phương tiện đạo từ bi
Phật
hạnh thanh tịnh xin nói hết.
Giải
Thoát Nguyệt Bồ Tát lại thưa :
Mong
Kim Cang Tạng đại Bồ Tát
Giảng
nói tiến vào đệ Tam địa
Tất
cả công đức của bực này.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát nói với Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát : "Thưa
Phật tử ! Ðại Bồ Tát đã thanh tịnh đệ Nhị địa muốn
vào đệ Tam địa, phải phát khởi mười thâm tâm".
Ðây
là mười thâm tâm :
Tâm
thanh tịnh, tâm an trụ, tâm nhàm bỏ, tâm lìa tham, tâm bất
thối, tâm kiên cố, tâm minh thạnh, tâm dũng mãnh, tâm rộng,
tâm lớn. Bồ Tát do mười tâm này mà được vào đệ Tam
địa.
Chư
Phật tử ! Ðại Bồ tát đã an trụ nơi đệ Tam địa quán
sát tất cả pháp hữu vi đúng với tướng chơn thật của
nó. Chính là : Vô thường, khổ, bất tịnh, chẳng an ổn,
bại hoại, chẳng ở lâu, sát na sanh diệt, chẳng phải từ
thuở trước sanh, cũng chẳng phải theo thuở sau diệt, và
chẳng phải trụ ở hiện tại.
Bồ
Tát lại quan sát những pháp này không được cứu, không chỗ
tựa, mà đồng ở với lo, buốn, khổ, não, ràng buộc bởi
yêu ghét, sầu thảm càng nhiều không hề dừng, tham, sân,
si hẩy hừng chẳng hề dứt, những họa hoạn vấn vít ngày
đêm thêm lớn, toàn là như huyễn hóa không thiệt.
Bồ
Tát quan sát thấy như thế rồi, đối với pháp hữu vi càng
thêm nhàm lìa mà hướng đến Phật trí huệ. Thấy Phật trí
chẳng thể nghĩ bàn, vô đẳng vô lượng khó được, không
tạp, không não, không lo, đến thành trì vô úy không còn lui
lại, có thể cứu thoát vô lượng chúng sanh khổ nạn.
Bồ
Tát thấy Phật trí vô lượng lợi ích, thấy tất cả pháp
hữu vi vô lượng tội lỗi, thời đối với tất cả chúng
sanh phát sanh mười tâm xót thương.
Ðây
là mười tâm xót thương :
Thấy
chúng sanh cô độc không chỗ tựa nương mà sanh lòng thương.
Thấy chúng sanh nghèo cùng khốn thiếu mà sanh lòng thương.
Thấy chúng sanh bị lửa tam độc đốt cháy mà sanh lòng thương.
Thấy chúng sanh bị lao tù mà sanh lòng thương. Thấy chúng
sanh bị rừng rậm phiền não luôn che chướng mà sanh lòng
thương. Thấy chúng sanh chẳng khéo quan sát mà sanh lòng thương.
Thấy chúng sanh không thích muốn pháp lành mà sanh lòng thương.
Thấy chúng sanh bỏ mất Phật pháp mà sanh lòng thương. Thấy
chúng sanh theo dòng sanh tử mà sanh lòng thương. Thấy chúng
sanh mất phương tiện giải thoát mà sanh lòng thương.
Bồ
Tát thấy chúng sanh giới vô lượng khổ não như vậy phát
đại tinh tấn mà nghĩ rằng : Với tất cả chúng sanh này
tôi phải cứu, tôi phải giải thoát, tôi phải thanh tịnh,
tôi phải độ, tôi phải đặt họ ở chỗ lành, phải làm
cho họ ở an, cho họ hoan hỷ, cho họ thấy biết, cho họ điều
phục, cho họ tịch diệt.
Bồ
Tát nhàm lìa pháp hữu vi như vậy, lòng thương như vậy. Biết
Nhứt thiết chủng trí có lợi ích thù thắng, muốn nương
Phật trí để cứu độ chúng sanh.
Bồ
Tát suy nghĩ rằng : Những chúng sanh này đọa trong khổ lớn
phiền não, dùng phương tiện gì để có thể cứu tế, cho
họ an trụ trong sự vui cứu cánh Niết Bàn ? Bồ Tát lại
nghĩ rằng : Muốn độ chúng sanh cho họ an trụ nơi Niết Bàn
quyết không thể rời trí giải thoát vô ngại. Trí này không
rời như thiệt giác ngộ tất cả pháp. Giác ngộ này không
rời huệ quang của hạnh vô hành vô sanh. Huệ quang này không
rời thiền trí thiện xảo quyết định quán sát. Thiền trí
này chẳng rời đa văn hay khéo.
Bồ
Tát suy gẫm như vậy rồi, đối với chánh pháp càng thêm
siêng năn tu tập. ngày đêm chỉ mong nghe được pháp, vui nơi
pháp, nương với pháp, thuận theo pháp, hiểu nơi pháp, đến
pháp, trụ tại pháp và thật hành chánh pháp.
Bồ
Tát cần cầu Phật pháp như vậy, bao nhiêu của báu đều
không lẫn tiếc, chẳng thấy có vật khó được đáng trọng.
Chỉ ở nơi người hay giảng thuyết Phật pháp thời sanh lòng
kính ngưỡng. Vì thế nên đối với tài vật và thân thể
của mình, Bồ Tát đều có thể xả thí để cầu Phật pháp.
không có sự cung kính nào mà chẳng làm được, không có sự
kiệu mạn nào mà không bỏ được, không có sự phụng thờ
nào mà không làm được, không có sự cần khổ nào mà không
chịu được.
Nếu
được nghe một câu chánh pháp chưa từng nghe, lòng Bồ Tát
rất vui mừng hơn là được trân bửu đầy cả cõi Ðại
Thiên. Nếu nghe được một kệ chánh pháp chưa từng nghe thời
Bồ Tát rất vui mừng hơn là được ngôi Chuyển Luân Vương.
Nếu được nghe một kệ chánh pháp có thể thanh tịnh hạnh
Bồ Tát, thời xem hơn là được trăm ngàn vô lượng kiếp
ở ngôi Ðế Thích Phạm Vương.
Nếu
có người bảo : Tôi có một câu Phật pháp có thể thanh tịnh
hạnh Bồ Tát, nếu Ngài có thể vào hầm lửa chịu nổi sự
nóng cháy thời tôi sẽ cho Ngài.
Bấy
giờ Bồ Tát tự nghĩ rằng : Tôi do một câu pháp của Phật
nói mà được thanh tịnh Bồ Tát hạnh, thời dầu ngọn lửa
lớn đầy cõi Ðại Thiên, tôi còn muốn từ trên trời Phạm
Thiên nhảy xuống lửa để lấy được câu Phật pháp, huống
là hầm lửa nhỏ này mà vào không được. Hiện tại tôi
vì Phật pháp đáng lẽ phải lãnh lấy tất cả sự khổ nơi
địa ngục, huống là sự khổ nhỏ mọn nơi nhơn gian.
Bồ
Tát này phát tâm tinh tấn cần cầu Phật pháp như vậy, như
chỗ đã được nghe mà suy gẫm tu hành.
Bồ
Tát này khi đã nghe pháp liền nhiếp tâm an trụ nơi chỗ vắng
lặng suy nghĩ rằng : Như lời Phật dạy tu hành mới chứng
được Phật pháp, chẳng phải chỉ miệng nói mà thanh tịnh
được.
Chư
Phật tử ! Lúc Bồ Tát này an trụ nơi Phát Quang Ðịa liền
xa lìa dục ác, có giác có quán, ly dục sanh hỷ lạc, trụ
nơi Sơ thiền. Diệt giác quán, nhứt tâm thanh tịnh không giác
quán, định sanh hỷ lạc, trụ nơi đệ Nhị thiền. Lìa hỷ
trụ nơi xả, có niệm chánh biết thân thọ lạc Chư Phật
đã nói, hay bỏ có niệm, thọ lạc trụ đệ Tam thiền. Dứt
lạc, trước trừ sự khổ mừng lo, diệt bất khổ, bất lạc,
xả niệm thanh tịnh trụ đệ Tứ thiền. Siêu tất cả sắc
tưởng, diệt hữu đối tưởng, chẳng nhớ các thứ tưởng,
vào hư không vô biên, trụ hư không vô biên xứ. Siêu tất
cả hư không vô biên xứ nhập vô biên thức, trụ thức vô
biên xứ. Siêu tất cả thức vô biên xứ, nhập vô thiểu
sở hữu, trụ vô sở hữu xứ. Siêu tất cả vô sở hửu
xứ, trụ phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Ðây chỉ do tùy
thuận theo pháp lành, trọn không thích không chấp.
Chư
Phật tử ! Bồ tát này tâm tùy nơi đức từ duy nhứt rộng
lớn vô lượng, không oán, không đối, không chướng, không
não, đến khắp tất cả chỗ, khắp pháp giới hư không giới,
khắp tất cả thế gian. An trụ đức bi, hỷ và xả cũng như
vậy.
Chư
Phật tử ! Bồ tát này được vô lượng sức thần thông,
có thể chấn động đại địa. Một thân hiện nhiều thân,
nhiều thân làm một thân, hoặc ẩn hoặc hiển, núi vách đá
các vật chướng đều qua lại vô ngại như hư không. Ở giữa
hu không ngồi kiết già bay đi như chim bay. Vào đất như vào
nước, đi trên nước như trên đất. Thân phát khói lửa như
đám lửa lớn, lại tuôn nước mưa như mây lớn. Mặt trời,
mật trăng ở hư không có oai lực lớn mà có thể lấy tay
rờ rẫm bưng nắm. Thân thể tự tại cao đến Phạm Thiên.
Thiên
nhĩ của Bồ Tát này thanh tịnh hơn tai người, nghe được
cả tiếng trời, người nhẫn đến tiếng muỗi mòng không
luận gần hay xa.
Bồ
Tát này dùng tha tâm trí, biết tâm chúng sanh khác đúng như
thật. Như chúng sanh có tâm tham thời biết là có tâm tham,
lìa tâm tham thời biết là lìa tâm tham, có tâm sân hay tâm
si, thời biết là có tâm sân hay tâm si, lìa tâm sân hay lìa
tâm si thời biết là lìa tâm sân, lìa tâm si. Nhẫn đến tán
tâm, định tâm, quảng đại tâm, vô lượng tâm, vô thượng
tâm đều biết đúng như thiệt.
Bồ
Tát này nhớ biết vô lượng đời trước sai khác nhau. Như
là nhớ biết một đời, hai đời, nhẫn đến vô lượng trăm
ngàn đời; kiếp thành, kiếp hoại, vô lượng kiếp thành
hoại. Thuở đó tôi từng ở xứ đó, tên họ đó, dòng họ
như vậy, ăn uốngnhư vậy, sống bao lâu khổ vui như vậy.
Từ xứ đó chết sanh đến xứ này, hình dạng như vậy, tướng
mạo như vậy, tiếng nói như vậy. Quá khứ vô lượng đời
sai khác như vậy đều có thể nhớ biết.
Bồ
Tát này Thiên mhãn thanh tịnh hơn mắt người. Thấy các chúng
sanh lúc sống lúc chết, sắc tốt sắc xấu, đường lành
đường dữ theo nghiệp mà đi. Nếu chúng sanh đó gây tạo
nghiệp ác nơi thân, nơi lời, nơi ý tưởng, chế nhạo Hiền
Thánh, đầy đủ tà kiến và nghiệp nhơn duyên tà kiến, sau
khi chết tất đọa ác đạo, sanh vào địa ngục. Nếu chúng
sanh thân tạo nghiệp lành, lời và ý cũng lành, chẳng khinh
Hiền Thánh, đầy đủ chánh kiến và nghiệp nhơn duyên chánh
kiến, sau khi chết tất sanh thiện đạo trong loài trời, loài
người. Thiên nhãn của Bồ Tát đều thấy biết như thiệt.
Bồ
Tát này đối với các Thiền, Tam muội, Tam ma bát đề, có
thể nhập, có thể xuất, nhưng chẳng nương sức thiền định
để thọ sanh, mà chỉ theo chỗ có thể viên mãn Bồ đề
phần, dùng sức ý nguyện mà thọ sanh trong đó.
Chư
Phật tử ! Bồ tát này trụ bực Phát Quang Ðịa, do nguyện
lực mà được thấy nhiều đức Phật, được thấy trăm
đức Phật, ngàn đức Phật, trăm ngàn đức Phật, nhẫn đến
thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật. Ðều dùng quảng đại
tâm, thâm tâm để cung kính, tôn trọng, phụng thờ, cúng dường
và cũng cúng dường chúng Tăng. Bồ Tát đem thiện căn này
hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Ở chỗ Ðức Phật, cung
kính nghe pháp nghe xong thọ trì rồi tùy sức mà tu hành.
Bồ
Tát này quán sát tất cả pháp nhơn duyên bất sanh bất diệt
mà có kiến phược. Trước dứt trừ tất cả dục phược,
sắc phược và hữu phược, cả vo minh phược đều càng yếu
mỏng. Vì trong vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng
tích tập nên tham, sân, si đều được trừ diệt. Tất cả
căn lành càng thêm sáng sạch.
Chư
Phật tử ! Ví như chơn kim khéo luyện thời cân chẳng giảm
mà càng thêm sáng sạch.
Cũng
vậy, Bồ Tát trự bực Phát Quang Ðịa này, vì chẳng tích
tập nên tham, sân, si đều dứt trừ, bao nhiêu thiện căn càng
thêm sáng sạch.
Bồ
Tát này về những tâm nhẫn nhục, nhu hòa, thuận hiệp, vui
đẹp, chẳng sân, chẳng động, chẳng trược, không cao hạ,
chẳng mong đền đáp, lòng báo ân, tâm chẳng dua vạy, chẳng
phỉnh dối, không thâm hiểm, càng thêm thanh tịnh.
Trong
bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên nhiều về lợi hành, và
thiên nhiều về nhẫn nhục trong mười môn Ba la mật. Với
những pháp môn khác tùy phần, tùy sức mà tu tập.
Chư
Phật tử ! Bồ tát trụ bực Phát Quang Ðịa thứ ba này phần
nhiều hiện thân làm Ðao Lợi Thiên Vương, có thể dùng phương
tiện làm cho chúng sanh lìa bỏ tham dục. Những công hạnh
bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm
đầy đủ Nhứt thiết chủng trí.
Bồ
Tát này lại nghĩ rằng : Nơi tất cả chúng sanh, tôi sẽ là
thượng thủ, là thắng, là thù thắng, là diệu, là vi diệu,
là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là người y chỉ của
Nhứt thiết chủng trí.
Bồ
Tát này nếu chuyên cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được
trăm ngàn tam muội, được thấy trăm ngàn đức Phật, biết
thần lực của trăm ngàn đức Phật, có thể chấn động
trăm ngàn thế giới, nhẫn đến thị hiện trăm ngàn thân
Phật, mỗi mỗi thân Phật hiện trăm ngàn Bồ Tát làm quyến
thuộc. Nếu dùng nguyện lực thù thắng, Bồ Tát này tự tại
thị hiện hơn số trên, trăm kiếp, ngàn kiếp, nhẫn đến
trăm ngàn ức na do tha kiếp không thể tính đếm biết được.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng
:
Thanh
tịnh an trụ tâm sáng thạnh
Tâm
nhàm lìa, không tham, không hại
Tâm
kiên cố, dũng mãnh, rộng lớn
Bực
trí dùng đây vào Tam Ðịa
Bồ
Tát trụ bực Phát Quang Ðịa
Quán
thấy hữu vi : khổ, vô thường
Bất
tịnh, bại hoại mau tan diệt
Không
bền, không dừng, không qua lại.
Xem
pháp hữu vi như bịnh nặng
Buộc
ràng bởi ưu bi, khổ não
Lửa
mạnh tam độc hằng cháy hực
Từ
vô thủy đến nay chẳng dứt
Nhàm
lìa ba cõi chẳng tham chấp
Chuyên
cầu Phật trí không niệm lạ
Khó
nghĩ khó lường không sánh kịp
Vô
lượng vô biên không bức não
Thấy
Phật trí rồi thương chúng sanh
Cô
độc không chỗ nương cứu hộ
Ba
độc cháy hừng thường thiếu khốn
Ở
ngục ba cõi luôn chịu khổ.
Phiền
não cột trói mê không trí
Chí
nguyện hạ liệt mất pháp bửu
Tùy
thuận sanh tử sợ Niết Bàn
Tôi
phải cứu họ siêng tinh tấn.
Toan
cầu trí huệ lợi chúng sanh
Nghĩ
phương tiện gì khiến giải thoát.
Chẳng
rời Như Lai trí vô ngại
Kia
lại phát khởi huệ vô sanh.
Nghĩ
rằng huệ này do nghe pháp
Suy
nghĩ như vậy tự siêng gắng
Ngày
đêm nghe tu không xen hở
Chỉ
dùng chánh pháp làm tôn trọng.
Quốc
thành, tiền của, các trân bửu
Vợ
con, quyến thuộc và ngôi vua
Bồ
Tát vì pháp tâm cung kính
Tất
cả như vậy đều thí xả
Ðầu,
mắt, tai, mũi, lưỡi và răng
Tay,
chân, xương, tủy, tim, máu, thịt
Thí
xả tất cả chưa là khó
Chỉ
cho nghe pháp là rất khó.
Dầu
có ai đến nói Bồ Tát.
Nếu
nhảy vào được trong hầm lửa
Tôi
sẽ truyền cho Phật pháp bửu
Nghe
nói vào lửa không khiếp sợ.
Dầu
cho lửa đầy cõi Ðại Thiên
Thân
từ trời Phạm mà nhảy vào
Vì
cầu Phật pháp xem không khó
Huống
là nhơn gian những khổ nhỏ.
Từ
sơ phát tâm đến thành Phật
Tất
cả sự khổ ngục A Tỳ
Vì
nghe Phật pháp đều chịu được
Huống
là sự khổ của nhơn gian.
Nghe
Phật pháp rồi Chánh tư duy
Lại
được Tứ thiền, Vô sắc định
Tứ
đẳng, Ngũ thông lần lượt khởi
Chẳng
theo định lực để thọ sanh.
Bồ
Tát ở đây thấy nhiều Phật
Cúng
dường nghe pháp tâm quyết định
Dứt
các tà hoặc càng thanh tịnh
Như
luyện chơn kim chất không giảm.
Bực
này thường làm Thiên Ðế Thích
Hóa
đạo vô lượng chúng cõi Trời
Khiến
bỏ tâm tham ở đạo lành
Một
bề chuyên cầu công đức Phật
Phật
tử ở đây siêng tinh tấn
Trăm
ngàn tam muội đều đầy đủ
Thấy
trăm ngàn Phật thân oai nghiêm
Nếu
dùng nguyện lực hơn vô lượng
Lợi
ích khắp tất cả chúng sanh
Công
hạnh tối thượng của Bồ Tát
Phát
Quang Ðịa có như vậy thảy
Tôi
y theo nghĩa đã giải thích.
