Lúc
bấy giờ Chánh Niệm Thiên Tử bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng:
Thưa Phật tử! Trong tất cả thế giới, chư Bồ Tát y theo
giáo pháp của Như Lai nhuộm y xuất gia, thế nào mà được
phạm hạnh thanh tịnh, từ địa vị Bồ Tát đến đạo vô
thượng bồ đề?'
Pháp
Huệ Bồ Tát nói: 'Nầy Phật tử! Ðại Bồ Tát lúc tu phạm
hạnh, nên dùng mười pháp làm cảnh sở duyên để tác ý
quan sát.
Ðây
là mười pháp: thân, thân nghiệp, ngữ, ngữ nghiệp, ý, ý
nghiệp, Phật, Pháp, Tăng và giới.
Nên
quan sát như vầy: Thân là phạm hạnh ư? Nhẫn đến giới
là phạm hạnh ư?
Nếu
thân là phạm hạnh, phải biết phạm hạnh thời là chẳng
phải thiện, là phi pháp, là lộn đục, là hôi xấu, là bất
tịnh, là đáng nhàm, là trái nghịch, là tạp nhiễm, là tử
thi, là nhóm trùng.
Nếu
thân nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là hành, trụ,
tọa, ngọa, là ngó bên nầy bên kia, là co, duỗi, cúi, ngước.
Nếu
ngữ ngôn là phạm hạnh, thời phạm hạnh là âm thinh, gió
thở, là môi, lưỡi, cuống họng, là thổ nạp, ngăn buông,
là cao thấp, trong đục.
Nếu
ngữ nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là thưa chào
hỏi thăm, là nói lược nói rộng, là nói dụ nói thẳng,
là lời khen lời chê, là lời an lập, lời tùy tục, lời
hiển liễu.
Nếu
ý là phạm hạnh, thời phạm hạnh là giác, là quán, là phân
biệt, ức niệm, tư duy, là ảo thuật, là ngủ mơ.
Nếu
ý nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là tư tưởng lạnh
nóng đói khát, khổ vui, lo mừng.
Nếu
Phật là phạm hạnh, thời sắc là Phật? hay thọ, tưởng,
hành, thức là Phật? Tướng hảo hay thần thông là Phật?
Nghiệp hạnh hay quả báo là Phật?
Nếu
pháp là phạm hạnh, thời tịch diệt hay niết bàn là pháp?
Bất sanh hay bất khởi là pháp? Bất khả thuyết hay vô phân
biệt, vô sở hành, bất hiệp tập, bất tùy thuận, vô sở
đắc là pháp?
Nếu
Tăng là phạm hạnh, thời Dự Lưu Hướng hay Dự Lưu Quả
la Tăng? Nhứt Lai Hướng hay Nhứt Lai Quả là Tăng? Bất Hoàn
Hướng hay Bất Hoàn Quả, Vô Sanh Hướng hay Vô Sanh Quả là
Tăng? Tam minh hay lục thông là Tăng?
Nếu
giới là phạm hạnh, thời đàn tràng là giới, hay hỏi thanh
tịnh là giới? Dạy oai nghi hay tam yết ma là giới? Hoà Thượng
hay A Xà Lê là giới? Thế phát là giới, hay đắp y ca sa, hay
khất thực, hay chánh mạng là giới?
Quan
sát như vậy, nơi thân không sở thủ, nơi tu không sở trước,
nơi pháp không sở trụ, quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến,
hiện tại không tịch, không người tác nghiệp, không kẻ
thọ báo, đời nầy chẳng dời động, đời kia chẳng cải
đổi. Như vậy, trong đây pháp nào gọi là phạm hạnh? Phạm
hạnh từ chỗ nào đến? Là sở hữu của ai? Thể là gì?
Do ai làm? Là có? Là không? Là Sắc? Là phi sắc? Là thọ? Là
phi thọ? Là tướng? Là phi tướng? Là hành? Là phi hành? Là
thức? Là phi thức?
Quan
sát như vậy, vì pháp phạm hạnh bất khả đắc, vì pháp
tam thế đều không tịch, vì ý không thủ trước, vì tâm
không chướng ngại, vì sở hành vô nhị, vì phương tiện
tự tại, vì thọ pháp vô tướng, vì quán pháp vô tướng,
vì biết phật pháp bình đẳng, vì đủ tất cả phật pháp.
Như đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
Lại
phải tu tập mười pháp, chính là mười trí lực của Như
Lai. Phải quan sát mỗi trí lực. Trong mỗi trí lực có vô
lượng nghĩa đều phải hạn hỏi. Sau khi nghe phải khởi tâm
đại từ bi, quan sát chúng sanh mà chẳng bỏ lìa, tư duy các
pháp không có thôi dứt, thật hành nghiệp vô thượng không
cần quả báo, rõ biết cảnh giới như ảo mộng, như bóng
vang, như biến hóa.
Nếu
Bồ Tát nào được tương ứng với quán hạnh như vậy, ở
trong các pháp chẳng sanh hai kiến giải, tất cả phật pháp
mau được hiện tiền. Lúc sơ phát tâm liền được a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề. Biết tất cả pháp tức là tâm
tự tánh, thành tựu huệ thân giác ngộ chẳng do người khác.
