Lúc
bấy giờ Trí-Thủ Bồ-Tát hỏi Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát :
'Phật-tử ! Bồ-Tát làm thế nào thân, ngữ, ý, ba nghiệp
được không lỗi lầm? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được chẳng
tổn hại ? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được không thể bị
hủy hoại ? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được chẳng dao động
? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được thù-thắng ? Thân, ngữ, ý,
ba nghiệp được vô nhiễm ? Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được
trí dẫn đạo ?
Bồ-Tát
làm thế nào được sanh-xứ đầy đủ ? Chủng-tộc đầy
đủ ? Gia-thế đầy đủ ? Sắc-thân đầy đủ ? Tướng mạo
đầy đủ ? Niệm đầy đủ ? Huệ đầy đủ ? Hạnh đầy
đủ ? Vô-úy đầy đủ ? Giác-ngộ đầy đủ ?
Bồ-Tát
làm thế nào được thắng-huệ ? Ðược đệ-nhứt-huệ ?
Ðược tối-thượng-huệ ? Ðược tối-thắng-huệ ? Ðược
vô-lượng-huệ ? Ðược vô-số-huệ ? Ðược bất-tư-nghì-huệ,
Ðược vô-giữ-đẳng-huệ ? Ðược bất-khả-lượng huệ
? Ðược bất-khả-thuyết huệ ?
Bồ-Tát
làm thế nào được : nhơn-lực, duyên-lực, dục-lực, phương-tiện-lực,
sở-duyên-lực, căn-lực, quan-sát-lực, xa-ma-tha-lực, tỳ-bát-xá-na-lực,
tư-duy-lực ?
Bồ-Tát
làm thế nào được : uẩn thiện-xảo, xứ thiện-xảo, giới
thiện-xảo, duyên-khởi thiện-xảo, dục-giới thiện-xảo,
sắc-giới thiện-xảo, vô-sắc-giới thiện-xảo, quá-khứ
thiện-xảo, vị-lai thiện-xảo, hiện-tại thiện-xảo ?
Bồ-Tát
làm thế nào khéo tu tập : niệm giác-phần, trạch-pháp giác-phần,
tinh-tấn giác-phần, hỉ giác-phần, xả giác-phần, không giác-phần,
vô-tướng giác-phần, vô-nguyện giác-phần ?
Bồ-Tát
làm thế nào được viên-mãn : đàn ba-la-mật, thi ba-la-mật,
sằn-đề ba-la-mật, tỳ-lê-gia ba-la-mật, thiền-na ba-la-mật,
tỳ-lê-gia ba-la-mật, thiền-na ba-la-mật, bát-nhã ba-la-mật,
từ, bi, hỉ, xả ?
Bồ-Tát
làm thế nào được thập lực : xứ-phi-xứ trí-lực, quả-vị
hiện-tại nghiệp-báo trí-lực, căn thắng liệt trí-lực,
chủng-chủng giới trí-lực, chủng-chủng giải trí-lực, nhứt-thiết-chí-xứ-đạo
trí-lực, thiền giải-thoát tam-muội nhiễm tịnh trí-lực,
túc-trụ-niệm trí-lực, vô-chướng-ngại thiên-nhãn trí-lực,
đoạn chư tập trí-lực ?
Bồ-Tát
làm thế nào thường được sự thủ-hộ cung kính cúng-dường
của : Thiên-Vương, Long-Vương, Dạ-Xoa-Vương, Càn-thát-bà-Vương,
A-tu-la-Vương, Ca-lâu-la-Vương, Khẩn-na-la-Vương, Ma-hầu-la-già-Vương,
Nhơn-Vương, Phạm-Vương ?
Bồ-Tát
làm thế nào được mình là những chỗ : y-tựa, cứu-độ,
chỗ về, chỗ đến, là đuốc, là sáng, là soi, là dẫn đạo,
thắng đạo, phổ đạo cho tất cả chúng-sanh ?
Ðối
với tất cả chúng-sanh, Bồ-Tát làm thế nào là : đệ-nhứt,
là lớn, là thắng, là tối-thắng, là diệu, là cực-diệu,
là thượng, là vô-thượng, là vô-đẳng, là vô-đẳng-đẳng
?
Văn-Thù-Sư-Lợi
Bồ-Tát bảo Trí-Thủ Bồ-Tát : 'Lành thay Phật-tử ! nay ngài
vì muốn nhiều lợi-ích, nhiều an-ổn, thương xót thế-gian,
lợi-lạc thiên-nhơn mà hỏi những nghĩa như vậy.
Phật-tử
! Nếu Bồ-Tát khéo dụng tâm thời được tất cả công-đức
thắng-diệu, nơi phật-pháp được tâm vô-ngại, được trụ
nơi đạo của tam-thế chư Phật, trụ theo chúng-sanh hằng
không bỏ rời, đều có thể thông-đạt đúng các pháp-tướng,
dứt tất cả điều ác, đầy đủ tất cả điều lành, sẽ
được hình sắc đệ-nhứt như Phổ-Hiền, đầy đủ tất
cả hạnh-nguyện, với tất cả pháp đều được tự-tại,
sẽ là đạo-sư thứ hai của chúng-sanh.
Phật-tử
! Bồ-Tát dụng tâm thế nào mà có thể được tất cả thắng-diệu
công-đức ?
Phật-tử
lóng nghe đây :
Bồ-Tát
ở nhà, nên nguyện chúng-sanh, biết nhà tánh không, khỏi sự
bức ngặt.
Hiếu
thờ cha mẹ, nên nguyện chúng-sanh, kính thờ chư Phật, hộ
dưỡng tất cả.
Vợ
con hội họp, nên nguyện chúng-sanh, oán thân bình-đẳng, lìa
hẳn tham trước.
Nếu
được ngũ-dục, nên nguyện chúng-sanh, nhổ mũi tên dục,
rốt ráo an-ổn.
Kỹ
nhạc tụ hội, nên nguyện chúng-sanh, vui nơi chánh-pháp, rõ
nhạc chẳng thật.
Nếu
ở cung thất, nên nguyện chúng-sanh, vào nơi thánh-địa, trừ
hẳn uế-dục.
Lúc
đeo trang-sức, nên nguyện chúng-sanh, bỏ tư-trang giả, đến
chỗ chơn thật.
Lên
trên lâu-các, nên nguyện chúng-sanh, lên lầu chánh-pháp, thấy
suốt tất cả.
Nếu
có bố-thí, nên nguyện chúng-sanh, bỏ được tất cả, lòng
không ái trước.
Chúng-hội
tu-tập, nên nguyện chúng-sanh, xả những tụ pháp, thành nhứt-thiết-trí.
Nếu
ở ách nạn, nên nguyện chúng-sanh, tùy ý tự-tại, chỗ làm
vô-ngại.
Lúc
bỏ cư-gia, nên nguyện chúng-sanh, xuất-gia vô-ngại, tâm được
giải-thoát.
Vào
tăng già-lam, nên nguyện chúng-sanh, diễn-thuyết các thứ pháp
không tranh cãi.
Ðến
đại, tiểu sư, nên nguyện chúng-sanh, khéo thờ sư-trưởng,
tập làm điều lành.
Cầu
xin xuất-gia, nên nguyện chúng-sanh, được pháp bất-thối,lòng
không chướng-ngại.
Thoát
bỏ tục nhãn, nên nguyện chúng-sanh, siêng tu căn lành, bỏ
những tội ách.
Cạo
bỏ râu tóc, nên nguyện chúng-sanh, lìa hẳn phiền-não, rốt
ráo tịch-diệt.
Ðắp
y ca-sa, nên nguyện chúng-sanh, lòng không nhiễm trước, đủ
đạo đại-tiên.
Lúc
chánh xuất-gia, nên nguyện chúng-sanh, đồng Phật xuất-gia,
cứu hộ tất cả.
Tự
quy-y Phật, nên nguyện chúng-sanh, nối thạnh Phật-chủng,
phát tâm vô-thượng.
Tự
quy-y Pháp, nên nguyện chúng-sanh, sâu vào kinh-tạng, trí-huệ
như biển.
Tự
quy-y Tăng, nên nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, tất
cả vô-ngại.
Lục
thọ học giới, nên nguyện chúng-sanh, khéo học nơi giới,
chẳng làm điều ác.
Thọ
Xà-Lê dạy, nên nguyện chúng-sanh, đầy đủ oai-nghi, chỗ
làm chơn thật.
Thọ
Hòa-Thượng dạy, nên nguyện chúng-sanh, vào trí vô-sanh, đến
chỗ vô-y.
Thọ
giới cụ-túc, nên nguyện chúng-sanh, đủ các phương-tiện,
được pháp tối-thắng.
Nếu
vào nhà cửa, nên nguyện chúng-sanh, lên nhà vô-thượng, an-trụ
bất-động.
Nếu
trải giường tòa, nên nguyện chúng-sanh, trải mở pháp lành,
thấy tướng chơn thật.
Chánh
thân đoan tọa, nên nguyện chúng-sanh, ngồi bồ-đề toà, tâm
không tham trước.
Lúc
ngồi kiết-già, nên nguyện chúng-sanh, căn lành kiên-cố, được
bực bất-động.
Tu
hành nơi định, nên nguyện chúng-sanh, dùng định phục tâm,
rốt ráo không thừa.
Nếu
tu pháp quán, nên nguyện chúng-sanh, thấy lý như thật, trọn
không tranh cãi.
Xả
ngồi kiết-già, nên nguyện chúng-sanh, quan-sát hành pháp, đều
quy tan mất.
Lúc
để chân đứng, nên nguyện chúng-sanh, tâm được giải-thoát,
an-trụ bất động.
Nếu
cất chân lên, nên nguyện chúng-sanh, khỏi biển sanh-tử, đủ
các pháp lành.
Lúc
mặc quần dưới, nên nguyện chúng-sanh, mặc những căn lành,
đầy đủ hổ thẹn.
Chỉnh
áo cột giải, nên nguyện chúng-sanh, kiểm thúc căn lành, chẳng
để tan mất.
Nếu
mặc áo trên, nên nguyện chúng-sanh, được căn lành lớn,
đến bờ pháp kia.
Ðấp
tăng-già-lê, nên nguyện chúng-sanh, vào ngôi đệ-nhứt, được
pháp bất-động.
Tay
cầm nhành dương, nên nguyện chúng-sanh, đều được diệu-pháp,rốt-ráo
thanh-tịnh.
Lúc
nhăn nhành dương, nên nguyện chúng-sanh, tâm-ý điều tịnh,
nhai các phiền-não.
Lúc
đại tiểu tiện, nên nguyện chúng-sanh, bỏ tham sân si, dẹp
trừ điều tội.
Việc
rồi đến nước, nên nguyện chúng-sanh, trong pháp xuất-thế,
qua đến mau chóng.
Rửa
ráy thân nhơ, nên nguyện chúng-sanh, thanh-tịnh điều nhu, rốt
ráo không nhơ.
Xối
nước trên tay, nên nguyện chúng-sanh, được tay thanh-tịnh,
thọ trì phật-pháp.
Dùng
nước rửa mặt, nên nguyện chúng-sanh, được tịnh pháp-môn,
trọn không nhơ bợn.
Tay
cầm tích-trượng, nên nguyện chúng-sanh, lập hội bố-thí,
bày đạo như Phật.
Tay
cầm ứng khí, nên nguyện chúng-sanh, thành-tựu pháp-khí, thọ
trời người-cúng.
Bước
chân lên đường, nên nguyện chúng-sanh, đến chỗ Phật đi,
vào nơi vô-y.
Nếu
ở nơi đường, nên nguyện chúng-sanh, hay đi đường Phật,
hướng pháp vô-dư.
Theo
đường mà đi, nên nguyện chúng-sanh, noi tịnh pháp-giới,tâm
không chướng ngại.
Thấy
lên đường cao, nên nguyện chúng-sanh, khỏi hẳn ba cõi, tâm
không khiếp nhược.
Thấy
xuống đường thấp, nên nguyện chúng-sanh, tâm ý khiêm hạ
lớn căn lành Phật.
Thấy
đường quanh co, nên nguyện chúng-sanh, bỏ đạo bất chánh,
trừ hẳn ác-kiến.
Nếu
thấy đường thẳng, nên nguyện chúng-sanh,tâm ý chánh-trực,không
dua không dối.
Thấy
đường nhiều bụi, nên nguyện chúng-sanh, xa lìa bụi bặm,
được pháp thanh-tịnh.
Thấy
đường không bụi, nên nguyện chúng-sanh, thường tu đại-bi,
tâm ý nhuần thấm.
Nếu
thấy đường hiểm, nên nguyện chúng-sanh, trụ chánh pháp-giới,
lìa những tội nạn.
Nếu
thấy chúng-hội, nên nguyện chúng-sanh, nói pháp thậm-thâm,
tất cả hòa hiệp.
Nếu
thấy trụ lớn, nên nguyện chúng-sanh, lìa tâm chấp ngã, không
có phẩn hận.
Nếu
thấy tòng-lâm, nên nguyện chúng-sanh, chư thiên và nhơn, chỗ
nên kính lễ.
Nếu
thấy núi cao, nên nguyện chúng-sanh, căn lành siêu thoát, không
thể tột đảnh.
Lúc
thấy cây gai, nên nguyện chúng-sanh, chóng được cắt bỏ,
những gai tam độc.
Thấy
cây lá rậm, nên nguyện chúng-sanh, dùng định giải thoát,
để làm che chói.
Nếu
thấy hoa nở, nên nguyện chúng-sanh, các pháp thần-thông, như
hoa đua nở.
Nếu
thấy cây hoa, nên nguyện chúng-sanh, tướng tốt như hoa, đủ
ba mươi hai.
Nếu
thấy trái hột, nên nguyện chúng-sanh, được pháp tối-thắng,
chứng đạo bồ-đề.
Nếu
thấy sông lớn, nên nguyện chúng-sanh, được dự pháp-lưu,
vào Phật-trí-hải.
Nếu
thấy bờ đầm, nên nguyện chúng-sanh, chóng ngộ diệu-pháp,
nhứt vị của Phật.
Nếu
thấy ao hồ, nên nguyện chúng-sanh, ngữ-nghiệp hoàn-toàn,
hay khéo diễn-thuyết.
Nếu
thấy giếng nước, nên nguyện chúng-sanh, đầy đủ biện
tài, diễn tất cả pháp.
Nếu
thấy suối chảy, nên nguyện chúng-sanh, thêm lớn phương-tiện,
thiện căn vô-tận.
Nếu
thấy kiều-lộ, nên nguyện chúng-sanh, rộng độ tất cả,
dường như cầu đò.
Nếu
thấy nước chảy, nên nguyện chúng-sanh, được ý nguyện
lành, rửa nhơ phiền-não.
Thấy
dọn vườn tược, nên nguyện chúng-sanh, trong vườn ngũ dục,
dọn sạch cỏ ái.
Thấy
rừng vô-ưu, nên nguyện chúng-sanh, lìa hẳn tham-ái, chẳng
còn lo sợ.
Nếu
thấy công viên, nên nguyện chúng-sanh, siêng tu hạnh lành,
đến Phật bồ-đề.
Thấy
người nghiêm-sức, nên nguyện chúng-sanh, trang-nghiêm thân
đẹp, ba mươi hai
tướng.
Thấy
không nghiêm-sức, nên nguyện chúng-sanh, bỏ những trang-sức,
đủ hạnh đầu-đà.
Thấy
người ham vui, nên nguyện chúng-sanh, vui nơi chánh-pháp, ưa
thích chẳng bỏ.
Thấy
không ham vui, nên nguyện chúng-sanh, trong sự hữu-vi, lòng không
ưa thích.
Thấy
người vui sướng, nên nguyện chúng-sanh, thường được an
vui, thích cúng-dường
Phật.
Thấy
người khổ-não, nên nguyện chúng-sanh, được căn-bổn trí,
dứt trừ sự khổ.
Thấy
người mạnh khỏe, nên nguyện chúng-sanh, vào chơn-thật-huệ,
trọn không bịnh
Khổ.
Thấy
người tật bịnh, nên nguyện chúng-sanh, biết thân không tịch,
lìa sự tranh cãi.
Thấy
người xinh đẹp, nên nguyện chúng-sanh, với Phật Bồ-Tát,
thường kính thường tin.
Thấy
người xấu-xí, nên nguyện chúng-sanh, với điều bất thiện,
chẳng ưa chẳng thích.
Thấy
người báo ơn, nên nguyện chúng-sanh, với Phật Bồ-Tát, hay
biết ơn đức.
Thấy
người bội ơn, nên nguyện chúng-sanh, với kẻ làm ác, chẳng
trả thù oán.
Nếu
thấy Sa-Môn, nên nguyện chúng-sanh, điều-nhu tịch-tịnh, rốt
ráo đệ-nhứt.
Thấy
Bà-La-Môn, nên nguyện chúng-sanh, giữ trọn phạm-hạnh, lìa
tất cả ác.
Thấy
người khổ hạnh, nên nguyện chúng-sanh, y nơi khổ hạnh,
đến bực rốt ráo.
Thấy
người hạnh tốt, nên nguyện chúng-sanh, giữ bền chí-hạnh,
chẳng bỏ Phật-đạo.
Thấy
mặc giáp-trụ, nên nguyện chúng-sanh, thường mặc giáp lành,
đến pháp vô-sư.
Thấy
không võ-trang, nên nguyện chúng-sanh, lìa hẳn tất cả, những
nghiệp bất-thiện.
Thấy
người luận nghị, nên nguyện chúng-sanh, đều dẹp phá được,
tất cả dị-luận.
Thấy
người chánh-mạng, nên nguyện chúng-sanh, được mạng thanh-tịnh,
không dối
giả
dạng.
Nếu
thấy Quốc-vương, nên nguyện chúng-sanh, được làm pháp-vương,
thường chuyển
chánh-pháp.
Nếu
thấy vương-tử, nên nguyện chúng-sanh, từ pháp hóa-sanh, mà
làm phật-tử.
Nếu
thấy trưởng-giả, nên nguyện chúng-sanh, xét đoán sáng suốt,
chẳng làm điều ác.
Nếu
thấy đại-thần, nên nguyện chúng-sanh, hằng giữ chánh-niệm,
tập làm điều thiện.
Nếu
thấy thành quách, nên nguyện chúng-sanh, được thân kiên cố,tâm
không hèn nhát.
Nếu
thấy kinh-đô, nên nguyện chúng-sanh, công-đức đồng nhóm,
lòng luôn vui vẻ.
Thấy
ở rừng vắng, nên nguyện chúng-sanh, đáng được trời người,
ca ngợi kính ngưỡng.
Vào
xóm khất thực, nên nguyện chúng-sanh, nhập thâm pháp-giới,
tâm không chướng
ngại.
Ðến
cửa nhà người, nên nguyện chúng-sanh, vào trong tất cả,
cửa nhà phật-pháp.
Vào
nhà người rồi, nên nguyện chúng-sanh, được vào phật-thừa,
ba thời bình-đẳng.
Thấy
không thí-xả, nên nguyện chúng-sanh, thường chẳng bỏ rời,
pháp công-đức lớn.
Thấy
người thí-xả, nên nguyện chúng-sanh, được bỏ lìa hẳn,
khổ ba ác-đạo.
Nếu
thấy bát không, nên nguyện chúng-sanh, tâm ý thanh-tịnh, trống
sạch phiền-não.
Nếu
thấy bát đầy, nên nguyện chúng-sanh, đầy đủ trọn vẹn,
tất cả thiện-pháp.
Nếu
được cung-kính, nên nguyện chúng-sanh, cung-kính tu hành, tất
cả phật-pháp.
Chẳng
được cung-kính, nên nguyện chúng-sanh, chẳng làm tất cả,những
điều bất thiện.
Thấy
người hổ-thẹn, nên nguyện chúng-sanh, đủ hạnh hổ-thẹn,
che giữ căn-thân.
Thấy
không hổ-thẹn, nên nguyện chúng-sanh, lìa bỏ không thẹn,
trụ đạo đại-từ.
Ðược
thực phẩm ngon, nên nguyện chúng-sanh, đều được mãn nguyện,
không lòng
tham
muốn.
Ðược
thực phẩm dở, nên nguyện chúng-sanh, ai cũng đều được,
pháp-vị tam-muội.
Ðược
vật thực mềm, nên nguyện chúng-sanh, huân-tập đại-bi, tâm
ý nhu nhuyến.
Ðược
vật thực cứng, nên nguyện chúng-sanh, tâm không nhiễm trước,
dứt hết tham ái.
Nếu
lúc ăn cơm, nên nguyện chúng-sanh, ăn món thiền-duyệt, pháp-hỉ
no đủ.
Lúc
thọ mùi vị, nên nguyện chúng-sanh, được Phật hương-vị,
cam-lộ đầy đủ.
Lúc
ăn cơm xong, nên nguyện chúng-sanh, việc làm đều xong, đủ
những phật-pháp.
Nếu
lúc thuyết-pháp, nên nguyện chúng-sanh, biện-luận vô-tận,
tuyên rộng pháp yếu.
Lúc
ra khỏi nhà, nên nguyện chúng-sanh, thâm nhập phật-trí, khỏi
hẳn ba cõi.
Nếu
lúc xuống nước, nên nguyện chúng-sanh, vào nhứt-thiết-trí,
rõ ba thời đồng.
Tắm
rửa thân thể, nên nguyện chúng-sanh, thân tâm không nhơ, trong
ngoài sáng sạch.
Mùa
nắng nóng độc, nên nguyện chúng-sanh, bỏ lìa khổ não, tất
cả đều hết.
Hết
nắng vừa mát, nên nguyện chúng-sanh, chứng pháp vô-thượng,
rốt ráo mát mẻ.
Lúc
đọc tụng kinh, nên nguyện chúng-sanh, thuận lời Phật dạy,
tổng trì chẳng quên.
Nếu
được thấy Phật, nên nguyện chúng-sanh, được vô-ngại-nhãn,
thấy tất cả Phật.
Lúc
ngắm kỹ Phật, nên nguyện chúng-sanh, đều như Phổ-Hiền,
xinh đẹp nghiêm tốt.
Lúc
thấy tháp Phật, nên nguyện chúng-sanh, tôn-trọng như tháp,
thọ trời người cúng.
Cung
kính xem tháp, nên nguyện chúng-sanh, chư thiên và người, cùng
nhau chiêm
ngưỡng.
Ðảnh
lễ tháp Phật, nên nguyện chúng-sanh, tất cả trời người,
chẳng thấy đảnh được.
Ði
nhiễu tháp Phật, nên nguyện chúng-sanh, tu hành không trái,
thành nhứt-thiết-trí.
Nhiễu
tháp ba vòng, nên nguyện chúng-sanh, siêng cầu phật-đạo,
lòng không biếng trễ.
Khen
công-đức Phật, nên nguyện chúng-sanh, đều đủ công-đức,
ca-ngợi vô-tận.
Khen
tướng-hảo Phật, nên nguyện chúng-sanh, thành tựu phật-thân,
chứng pháp
vô-tướng.
Nếu
lúc rửa chân, nên nguyện chúng-sanh, đủ sức thần-túc, chỗ
đi vô-ngại.
Ngủ
nghỉ phải thời, nên nguyện chúng-sanh, thân được an-ổn,
lòng không động loạn.
Ngủ
vừa tỉnh-giấc, nên nguyện chúng-sanh, tất cả trí-giác,
ngó khắp mười phương.
Phật-tử
! Nếu chư Bồ-Tát dụng tâm như vậy thời được tất cả
công-đức thắng-diệu. Tất cả thế-gian : chư thiên, ma, phạm,
sa-môn, bà-la-môn, càn-thát-bà, a-tu-la v.v... nhẫn đến tất
cả Thanh-Văn, Duyên-Giác không thể làm lay động được.
*******************
