Lúc
bấy giờ, Văn-Thù-Sư-Lợi Ðại Bồ-Tát bảo chư Bồ-Tát
rằng : 'Chư Phật tử ! Khổ Thánh-Ðế, trong cõi Ta-Bà này,
hoặc gọi là tội, là bức ngặt, là biến dị, là phan duyên,
là nhóm, là đâm, là căn tựa, là hư dối, là chỗ nhọt ghẻ,
là kẻ ngu-si.
Chư
Phật-tử ! Khổ-Tập Thánh-Ðế, cõi Ta-Bà này, hoặc gọi
là trói buộc, là diệt hoại, là ái trước, là vọng-niệm,
là thú-nhập, là quyết-định, là lưới, là hí luận, là
tùy-hành, là gốc điên đảo.
Chư
Phật-tử ! Khổ-Diệt Thánh-Ðế, cõi Ta-Bà này, hoặc gọi
là Vô-tránh, là ly-trần, là tịch-tịnh, là vô tướng, là
vô-một, là vô-tự-tánh, là vô chướng ngại, là diệt, là
thể chơn-thật, là trụ tự-tánh.
Chư
Phật-tử ! Khổ-Diệt-Ðạo Thánh-Ðế, cõi Ta-Bà này, hoặc
gọi là Nhứt-Thừa, là thú-tịch, là đạo-dẫn, là cứu-cánh
vô-phân-biệt, là bình-đẳng, là xả-đảm, là vô-sở-thú,
là tùy-thánh-ý, là tiên-nhơn-lành, là thập-tạng.
Chư
Phật-tử ! Nơi cõi Ta-Bà này nói về tứ thánh-đế có bốn
trăm ức mười ngàn danh-từ, theo tâm ý của chúng-sanh khiến
họ được điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Như cõi Ta-Bà này nói về khổ thánh-đế, trong
thế-giới Mật-Huấn hoặc gọi là doanh-cầu-căn, là bất-xuất-ly,
là hệ-phược-bổn, là làm điều không nên làm, là khắp
tranh đấu, là phân tích đều vô-lực, là chỗ để tựa,
là cực khổ, là tháo-động, là hình-trạng-vật.
Chư
Phật-tử ! Về khổ-tập-thánh-đế, trong thế-giới Mật-Huấn,
hoặc gọi là thuận sanh-tử, là nhiễm trước, là đốt cháy,
là lưu chuyển, là gốc bại hoại, là mối hữu-lậu, là ác
hạnh, là ái-trước, là nguồn bịnh, là phân số.
Chư
Phật-tử ! Về Khổ-diệt thánh-đế, trong thế-giới Mật-Huấn,
hoặc gọi là đệ-nhất-nghĩa, là xuất-ly, là tán-thán, là
an-ổn, là thiện thú-nhập, là điều-phục, là nhứt phần,
là vô tội, là ly tham, là quyết định.
Chư
Phật-tử ! Về khổ-diệt-đạo thánh-đế, trong thế-giới
Mật-Huấn hoặc gọi là mãnh tướng, là thượng hạnh, là
siêu xuất, là hữu phương-tiện, là bình-đẳng-nhãn, là ly
biên, là liễu ngộ, là nhiếp thủ, là tối-thắng-nhãn, là
quán-phương.
Chư
Phật-tử ! Về tứ thánh-đế, ở thế-giới Mật-Huấn có
bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của
chúng-sanh để khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Về khổ thánh-đế, ở thế-giới Tối-Thắng,
hoặc gọi là khủng bố, là phần đoạn, là khả-yểm-ố,
là phải thừa-sự, là biến dị, là chiếu-dẫn-oan, là hay
khi đoạt, là khó cộng-sự, là vọng phân biệt, là có thế
lực.
Chư
Phật-tử ! Về khổ-tập thánh-đế, ở thế-giới Tối-Thắng,
hoặc gọi là bại-hoại, là si-căn, là đại-oan, là dao bén,
là dứt mùi vị, là cừu-thù, là chẳng phải vật của mình,
là ác-đạo-dẫn, là thêm đen tối, là hư lợi lành.
Chư
Phật-tử ! Về khổ-diệt thánh-đế, ở thế-giới Tối-Thắng,
hoặc gọi là đại-nghĩa, là nhiêu-ích, là nghĩa-trung-nghĩa,
là vô-lượng, là chỗ phải thấy, là ly phân-biệt, là tối-thượng-điều-phục,
là thường-bình-đẳng, là khả-đồng-trụ, là vô-vị.
Chư
Phật-tử ! Về khổ-diệt-đạo thánh-đế, ở thế-giới Tối-Thắng,
hoặc gọi là hay đốt cháy, là tối-thượng-phẩm, là quyết-định,
là vô-năng-phá, là thâm-phương-tiện, là xuất-ly, là bất-hạ-liệt,
là thông-đạt, là giải-thoát-tánh, là năng-độ-thoát.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Tối-Thắng, về tứ thánh-đế, có
bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng-sanh
khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Ly-Cấu, về khổ thánh-đế, hoặc
gọi là hối-hận, là tư-đải, là triển-chuyển, là trụ-thành,
là nhứt-vị, là phi-pháp, là cư-trạch, là chỗ vọng-trước,
là thấy hư-vọng, là không có số.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Ly-Cấu, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là vật không thật, là chỉ có lời nói, là chẳng
trong trắng, là sanh-địa, là chấp-thủ, là bỉ-tiện, là
tăng-trưởng, là gánh nặng, là hay sanh, là thô rắn.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Ly-Cấu, vể khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là vô đẳng-đẳng, là khắp trừ sạch, là ly-cấu,
là tối-thắng-căn, là xưng hội, là không tư-đãi, là diệt-hoặc,
là tối-thượng, là tất-cánh, là phá-noãn.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Ly-Cấu, về khổ-diệt-đạo thánh-đế,
hoặc gọi là vật kiên cố, là phương-tiện-phần, là giải-thoát-bổn,
là bổn-tánh-thật, là chẳng thể chê mắng, là rất thanh-tịnh,
là mé hữu-lậu, là toàn nhận gởi, là làm rốt-ráo, là tịnh
phân biệt.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Ly-Cấu, tứ thánh-đế, có bốn trăm
ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng-sanh khiến
họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở Phong-Dật thế-giới, về khổ thánh-đế, hoặc
gọi là chỗ ái-nhiễm, là gốc hiểm hại, là phần biển
hữu lậu, là chứa nhóm lên, là gốc sai biệt, là tăng trưởng,
là sanh-diệt, là chướng-ngại, là cây đao gươm, là số làm
thành.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Phong-Dật, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là đáng ghét, là danh-tự, là vô-tận, là phân
số, là chẳng đáng ưa, là hay chụp cắn, là vật thô bỉ,
là ái trước, là khí cụ, là dao động.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Phong-Dật, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là dứt tương-tục, là khai-hiển, là vô-văn-tự,
là vô-sở-tu, là vô-sở-kiến, là vô-sở-tác, là tịch-diệt,
là đã đốt sạch, là xả-trọng-đảm, là đã trừ hoại.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Phong-Dật, về khổ-diệt-đạo thánh-đế,
hoặc gọi là hạnh tịch-diệt, là hạnh xuất-ly, là siêng
tu-chứng, là đi an ổn, là vô-lượng-thọ, là khéo rõ biết,
là đạo cứu-cánh, là khó tu-tập, là đến bờ kia, là vô-năng
thắng.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Phong-Dật, về tứ thánh-đế, có
bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm chúng-sanh,
khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiếp-Thủ, về khổ thánh-đế,
hoặc gọi là hay cướp dựt, là bạn chẳng lành, là nhiều
khủng bố, là những hí-luận, là địa ngục tánh, là không
thật nghĩa, là gánh tham dục, là gốc sâu nặng, là tùy tâm
chuyển, là bổn trống rỗng.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiếp-Thủ, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là tham trước, là ác thành biện, là quá-ác, là
tốc-tật, là hay chấp-thủ, là tưởng, là có quả, là vô-khả-thuyết,
là vô-khả-thủ, là lưu-chuyển.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiếp-Thủ, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là bất-thối-chuyển, là ly-ngôn-thuyết, là vô-tướng-trạng,
là khả-hân-lạc, là kiên-cố, là thượng-diệu, là ly-si,
là diệt-tận, là viễn-ác, là xuất-ly.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiếp-Thủ, về khổ-diệt đạo
thánh-đế, hoặc gọi là ly-ngôn, là vô-tránh, là giáo-đạo,
là thiện-hồi-hướng, là đại-thiện-xảo, là sai-biệt phương
tiện, là như hư-không, là tịch-tịnh-hạnh, là thắng-trí,
là năng-liễu-nghĩa.
Chư
Phật-tử ! Về tứ thánh-đế, ở Nhiếp-Thủ thế-giới có
bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của
chúng-sanh, khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiêu-Ích, về khổ thánh-đế, hoặc
gọi là trọng-đảm, là chẳng bền, là như giặc, là lão
tử, là ái-sở-thành, là lưu chuyển, là mệt nhọc, là tướng-trạng-ác,
là sanh trưởng, là dao bén.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiêu-Ích, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là bại hoại, là hỗn-trược, là thối thất, là
vô lực, là táng-thất, là oai-vi-trần, là bất hòa hợp, là
sở tác, là thủ, là ý-dục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiêu-Ích, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là xuất ngục, là chơn thật, là ly nạn, là phúc
hộ, là ly ác, là tùy thuận, là căn bổn, là xả-nhơn, là
vô vi, là không tương tục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Nhiêu-Ích, về khổ-diệt-đạo thánh-đế,
hoặc gọi là đạt-vô-sở-hữu, là nhứt-thiết-ấn, là tam-muội-tạng,
là đắc-quang-minh, là bấtt-thối-pháp, là năng-tận-hữu,
là quảng-đại-lộ, là năng điều-phục, là hữu an-ổn, là
gốc bất lưu chuyển.
Chư
Phật-tử ! Về tứ thánh-đế, ở thế-giới Nhiêu-Ích, có
bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của
chúng-sanh khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Tiển-Thiểu, về khổ thánh-đế,
hoặc gọi là hiểm-lạc-dục, là chỗ hệ-phược, là tà-hạnh,
là tùy-thọ, là vô-tâm-sĩ, là tham-dục-căn, là hằng-hà-lưu,
là thường phá hoại, là tánh khói lửa, là nhiều ưu não.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Tiển-Thiểu, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là quảng-địa, là năng-thú, là viễn-huệ, là
lưu-nạn, là khủng-bố, là phóng-dật, là nhiếp-thú, là trước-xứ,
là trạch-chủ, là liên-phược.
Chư
Phật-tử ! Ở Tiển-Thiểu thế-giới, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là sung-mãn, là bất-tử, là vô-ngã, là tự-tánh,
là phận-biệt-tận, là an-lạc-trụ, là vô-hạn-lượng, là
đoạn luân chuyển, là tuyệt-hành-xứ, là bất nhị.
Chư
Phật-tử ! Ở Tiển-Thiểu thế-giới, về khổ-diệt-đạo
thánh-đế, hoặc gọi là đại quang-minh, là diễn-thuyết hải,
là giản-trạch-nghĩa, là hòa-hiệp-pháp, là ly-thủ-trước,
là đoạn tương-tục, là quảng-đại-lộ, là bình đẳng nhơn,
là tịnh phương tiện, là tối-thắng-kiến.
Chư
Phật-tử ! Về tứ thánh-đế, ở Tiển-Thiểu thế-giới có
bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của
chúng-sanh khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Hoan-Hỉ, về khổ thánh-đế, hoặc
gọi là lưu-chuyển, là xuất sanh, là thất lợi, là nhiễm
trước, là trọng đảm, là sai biệt, là nội hiểm, là tập
hội, là ác xá trạch, là khổ-não-tánh.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Hoan-Hỉ, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là địa, là phương tiện, là phi thời, là phi-thật-pháp,
là vô-để, là nhiếp-thủ, là ly giới, là phiền-não-pháp,
là hiếp-liệt-kiến, là cấu-tụ.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Hoan-Hỉ, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là phá-y-chỉ, là bất-phóng-dật, là chơn thật,
là bình đẳng, là thiện tịnh, là vô bịnh, là vô khúc, là
vô tướng, là tự tại, là vô sanh.
Chư
Phật-tử ! Ở thế-giới Hoan-Hỉ, về khổ-diệt-đạo thánh-đế,
hoặc gọi là nhập thắng-giới, là đoạn tập, là siêu-đẳng-loại,
là quảng đại tánh, là phân biệt tận, là thần lực đạo,
là chúng phương tiện, là chánh niệm hạnh, là thường tịch
lộ, là nhiếp-giải-thoát.
Chư
Phật-tử ! Về nhiếp-thánh-đế, ở Hoan-Hỉ thế-giới có
bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của
chúng-sanh khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở Quan-Thược thế-giới, về khổ thánh-đế,
hoặc gọi là bại hoại tướng, là như phố-khí, là ngã sở
thành, là chư-thú-thân, là sát lưu chuyển, là chúng ác môn,
là tánh khổ, là khả-khí-xả, là vô vị, là lai khứ.
Chư
Phật-tử ! Ở Quan-Thược thế-giới, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là hành, là phẩn độc, là hòa hiệp, là thọ chi,
là ngã tâm, là tạp độc, là hư xưng, là oai-vị, là nhiệt-não,
là kinh hãi.
Chư
Phật-tử ! Ở Quan-Thược thế-giới, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là vô tích tập, là bất khả đắc, là diệu dược,
là bất khả hoại, là vô trước, là vô lượng, là quảng
đại, là giác phần, là ly nhiễm, là vô chướng ngại.
Chư
Phật-tử ! Ở Quan-Thược thế-giới, về khổ-diệt-đạo
thánh-đế, hoặc gọi là an ổn hạnh, là ly dục, là cứu
cánh thật, là nhập nghĩa, là tánh cứu cánh, là tịnh hiện,
là nhiếp niệm, là thu giải thoát, là cứu tế, là thắng
hạnh.
Chư
Phật-tử ! Về tứ thánh-đế, ở Quan-Thược thế-giới có
bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của
chúng-sanh khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Ở Chấn-Âm thế-giới, về khổ thánh-đế, hoặc
gọi là dấu-lỗi, là thế-gian, là sở y, là ngạo mạn, là
tánh nhiễm trước, là dòng chảy mau, là chẳng vui được,
là che dấu, là mau diệt, là khó điều.
Chư
Phật-tử ! Ở Chấn-Âm thế-giới, về khổ-tập thánh-đế,
hoặc gọi là cần chế phục, là tâm thú, là năng phược,
là tùy niệm khởi, là đến hậu biên, là cộng hòa hiệp,
là phân biệt, là môn, là phiêu động, là ẩn che.
Chư
Phật-tử ! Ở Chấn-Âm thế-giới, về khổ-diệt thánh-đế,
hoặc gọi là vô y xứ, là bất khả thủ, chuyển hườn, là
ly tránh, là tiểu, là đại, là thiện tịnh, là vô tận, là
quảng bác, là vô đẳng giá.
Chư
Phật-tử ! Ở Chấn-Âm thế-giới, về khổ-diệt-đạo thánh-đế,
hoặc gọi là quan sát, là năng tồi địch, là liễu tri ấn,
là năng nhập tánh, là nan địch đối, là vô hạn nghĩa, là
năng nhập trí, là hòa hiệp đạo, là hằng bất động, là
thù thắng nghĩa.
Chư
Phật-tử ! Về tứ thánh-đế, ở Chấn-Âm thế-giới có bốn
trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng-sanh
khiến họ điều-phục.
Chư
Phật-tử ! Như cõi Ta-Bà này nói tứ thánh-đế có bốn trăm
ức mười ngàn danh hiệu, cũng vậy, mười phương tất cả
vô-lượng, vô-biên, bất-khả-thuyết thế-giới, tận pháp-giới
hư-không-giới, trong mỗi thế-giới nói tứ thánh-đế đều
có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, tùy tâm ý của chúng-sanh
khiến họ được điều-phục.
*************************
