Phẩm
tám: Phật Sự (169)
Bấy giờ đại
bồ tát Mạn thù (170) thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như
đức Thế tôn nói pháp thân Như lai, vậy pháp thân Như lai
có những sắc thái gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn
thù: Thiện nam tử, khéo tu rốt ráo (171) các độ của các
địa mà hoàn thành chuyển y (172) , thì (chuyển y) đó là sắc
thái của pháp thân Như lai. Sắc thái này vì hai lý do nên
bất khả tư nghị, đó là siêu việt hý luận và siêu việt
thi vi -- mà chúng sinh thì hý luận và thi vi (173) . Bạch đức
Thế tôn, chuyển y của Thanh văn và Độc giác được gọi
là pháp thân không? Thiện nam tử, không. Bạch đức Thế tôn,
vậy nên gọi là gì? Thiện nam tử, nên gọi là giải thoát
thân. Do giải thoát thân nên nói Thanh văn Độc giác cùng với
Như lai rất bình đẳng (174) , nhưng do pháp thân nên có khác
biệt. Pháp thân Như lai khác biệt là vì có vô lượng công
đức (175) vừa tối thắng vừa khác biệt, toán số ví dụ
không thể diễn tả.
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, chúng con nên
hiểu như thế nào về trạng huống sinh khởi của đức Thế
tôn? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam
tử, hóa thân Như lai mà động tác thì cũng như thế giới
sinh khởi mọi thứ; (hóa thân ấy) được mọi công đức
của Như lai trang sức và duy trì. Ông nên biết hóa thân thì
có sinh khởi, pháp thân thì phi sinh khởi. Bạch đức Thế
tôn, chúng con nên hiểu như thế nào về phương tiện khéo
léo của hóa thân Thế tôn đã thị hiện? Thiện nam tử, khắp
cả cõi Phật của Như lai là đại thiên thế giới này, ở
trong vương gia tăng thượng mà ai cũng công nhận hay trong gia
đình đại phước mà ai cũng công nhận, Như lai cùng lúc (176)
vào thai, đản sinh, lớn lên, hưởng dục, xuất gia, thị hiện
khổ hạnh, rồi bỏ khổ hạnh mà thành đẳng chánh giác,
thị hiện với thứ tự như vậy thì gọi đó là phương tiện
khéo léo của hóa thân Như lai thị hiện (177) .
Lược Giải.-
Đoạn D1 này có
2 đoạn nhỏ: một nói về pháp thân, một nói về hóa thân.
Nói Về Kinh Và
Luật
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Mạn thù thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, có mấy loại tiếng
nói của hóa thân Thế tôn chủ trì, tiếng nói mà nhờ đó
những người được hóa độ chưa thành thục thì thành thục,
đã thành thục thì cũng vin vào đó mà mau được giải thoát?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử,
tiếng nói Như lai khái lược có ba loại: một là khế kinh,
hai là điều phục, ba là bản mẫu. Bạch đức Thế tôn, khế
kinh là gì? điều phục là gì? bản mẫu là gì? Thiện nam
tử, chỗ nào Như lai căn cứ những sự bao quát mà thuyết
pháp thì đó là khế kinh. Những sự ấy có bốn, có chín
và có hai mươi chín. Bốn sự là những gì, một là lắng
nghe, hai là hướng đến, ba là tu học, bốn là chứng ngộ
(178) . Chín sự là gì, một là thiết lập chúng sinh, hai là
thiết lập sự thọ dụng của chúng sinh, ba là thiết lập
sự sinh khởi của chúng sinh, bốn là thiết lập sự tồn
tại của chúng sinh, năm là thiết lập sự nhiễm tịnh của
chúng sinh, sáu là thiết lập sự sai biệt của chúng sinh,
bảy là người nói, tám là pháp được nói, chín là chúng
hội nghe nói (179) . Hai mươi chín sự là gì, loại tạp nhiễm
có 1 là các hành, 2 là các hành lưu chuyển, 3 là nơi đó chấp
ngã nên vị lai lưu chuyển, 4 là nơi đó chấp pháp nên vị
lai lưu chuyển; loại thanh tịnh có 5 là chánh niệm pháp được
nghe, 6 là tinh tiến về pháp ấy, 7 là tâm an định, 8 là sống
trong pháp lạc; 9 là phương pháp giải thoát khổ não; 10 là
biến tri khổ não -- sự này có ba: biến tri chỗ của những
thứ điên đảo, biến tri chỗ của những thứ tà hành, biến
tri chỗ của những thứ nội ly thượng mạn -- 11 là diệt
nhân, 12 là tác chứng, 13 là tu tập; 14 là cứng chắc, 15 là
hành tướng của sự cứng chắc, 16 là sở duyên của sự
cứng chắc, 17 là sự khéo quan sát cái đã đoạn và cái chưa
đoạn của sự cứng chắc; 18 là sự tán loạn của sự cứng
chắc, 19 là sự không tán loạn của sự cứng chắc, 20 là
chỗ dựa của sự không tán loạn, 21 là tu tập một cách
cần cù nỗ lực; 22 là thắng ích của sự tu tập, 23 là sự
bền chắc của sự tu tập, 24 là thu hoạch tuệ giác của
thánh giả, 25 là thu hoạch sự hỗ trợ của tuệ giác ấy,
26 là thông suốt chân như, 27 là chứng đắc niết bàn; 28
là sự siêu việt trên đỉnh chánh kiến ngoại đạo của
sự chánh kiến về pháp Như lai thiện thuyết ẫ dầu sự
chánh kiến ấy đang còn hữu lậu, 29 là sự thoái lui của
sự chánh kiến ấy -- nhưng không tu tập pháp thiện thuyết
nên nói là thoái lui, chứ không phải sự chánh kiến ấy có
gì sai lầm mà gọi là thoái lui (180) .
Lược Giải.-
Trên đây nói
về kinh tạng, dưới đây nói về luật tạng.
Chính Văn.-
Thiện nam tử,
chỗ nào Như lai do các vị Thanh văn và các vị Bồ tát mà
nói về pháp biệt giải thoát và pháp tương ứng với biệt
giải thoát thì đó là điều phục. Bạch đức Thế tôn, biệt
giải thoát của Bồ tát bao gồm vào mấy tiết mục? Thiện
nam tử, nên biết có bảy tiết mục, một là nói về qui tắc
thọ giới, hai là nói về các giới pháp nặng (181) , ba là
nói về sự phạm giới, bốn là nói về tánh tình còn phạm
giới, năm là nói về tánh tình không phạm giới (182) , sáu
là nói về cách sám hối sự phạm giới, bảy là nói về
sự xả giới.
Nói Về Luận
Chính Văn.-
Thiện nam tử,
chỗ nào Như lai đem mười một tiết mục mà thuyết pháp
thì đó là bản mẫu (183) . Mười một tiết mục ấy là những
gì, tiết mục 1 là thế tục đế, tiết mục 2 là thắng nghĩa
đế, tiết mục 3 là sở duyên của các pháp bồ đề phần,
tiết mục 4 là hành tướng, tiết mục 5 là tự tánh, tiết
mục 6 là quả của tự tánh, tiết mục 7 là sự tiếp nhận
khai thị của tự tánh, tiết mục 8 là chướng ngại của
tự tánh, tiết mục 9 là tùy thuận của tự tánh, tiết mục
10 là lỗi lầm của tự tánh, tiết mục 11 là thắng ích của
tự tánh. Tiết mục 1, thế tục đế có 3 mục: mục 1 nói
về ngã chấp, mục 2 nói về biến kế chấp, mục 3 nói về
tác dụng của các pháp (184) . Tiết mục 2, thắng nghĩa đế
là nói về 7 chân như. Tiết mục 3, sở duyên của các pháp
bồ đề phần là nói về tất cả chủng loại sở tri.
Lược Giải.-
Đ2 có mấy đoạn
nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ kê tên 11 tiết mục của luận
tạng và lược giải các tiết mục 1, 2 và 3.
Chính Văn.-
Tiết mục 4, hành
tướng là nói về 8 hành quán: mục 1 là đế thật, mục 2
là an lập, mục 3 là quá thất, mục 4 là công đức, mục
5 là lý thú, mục 6 là lưu chuyển, mục 7 là đạo lý, mục
8 là tổng biệt. Mục 1, đế thật là nói về chân như của
các pháp. Mục 2, an lập là lập ra ngã chấp, là lập ra biến
kế chấp, là lập ra quyết định, phân tách, hỏi lại và
lặng bỏ, là lập ra ẩn mật và minh bạch hay ký biệt và
sai biệt (185) . Mục 3, quá thất là nói pháp tạp nhiễm có
nhiều mặt tội lỗi. Mục 4, công đức là nói pháp thanh tịnh
có nhiều mặt thắng ích. Mục 5, lý thú có 6 thứ: lý thú
chân lý, lý thú chứng đắc, lý thú giáo hóa, lý thú siêu
việt nhị biên, lý thú bất khả tư nghị, lý thú mật ý.
Mục 6, lưu chuyển là 3 thì gian, 3 hữu vi tướng và 4 duyên
tố. Mục 7, đạo lý là 4 đạo lý: thứ 1 là đạo lý quán
đãi, thứ 2 là đạo lý tác dụng, thứ 3 là đạo lý chứng
thành, thứ 4 là đạo lý pháp nhĩ (186) . Thứ 1, đạo lý quán
đãi là do nhân tố và duyên tố mà phát sinh các hành và phát
sinh ngôn từ liên quan các hành. Thứ 2, đạo lý tác dụng
là do nhân tố và duyên tố mà các pháp sinh, các pháp thành,
các pháp sinh thành rồi tác dụng. Thứ 3, đạo lý chứng thành
là do nhân tố và duyên tố mà làm cho ý nghĩa nói ra được
xác lập và làm cho người nghe hiểu biết chính xác (187) .
Thứ 4, đạo lý pháp nhĩ là Như lai xuất thế hay không xuất
thế, pháp tánh các pháp vẫn an lập, pháp giới các pháp vẫn
an trú (188) . Mục 8, tổng biệt là trước nói tổng quát bằng
một câu về pháp, sau đó nói những câu phân tách khác nhau
làm cho rõ ràng trọn vẹn.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ nói về hành tướng, tiết mục 4.
Chính Văn.-
Thêm nữa, đạo
lý chứng thành có 2 loại, là loại trong sáng và loại vẩn
đục. Do 5 sắc thái mà trong sáng và do 7 sắc thái mà vẩn
đục. (Thứ nhất), do 5 sắc thái mà trong sáng là hiện thấy,
suy luận, luận cứ, toàn hảo và chánh giáo. Hiện thấy là
các hành vô thường, các hành khổ não, các pháp vô ngã, đại
loại như vậy, đó là những điều mà hiện lượng thấy
được. Suy luận là dựa vào sự hiện thấy, tức xét thấy
các hành là tính sát na, là tính có đời sau, là tính nghiệp
lành nghiệp dữ không mất; tính sát na là do sự vô thường
thô thiển mà biết, tính có đời sau là do chúng sinh có nhiều
loại vì có nhiều loại nghiệp mà biết, tính nghiệp lành
nghiệp dữ không mất là do chúng sinh có vui có khổ mà biết,
đại loại như vậy, đó là những điều không hiện thấy
mà có thể suy luận. Luận cứ là dẫn chứng từ những thí
dụ cùng tính chất, tức đối với các hành nơi bản thân
hay nơi ngoại giới đều có thể dẫn sự sống chết mà ai
cũng biết để ví dụ, dẫn mọi sự khổ não của sự sống
chết mà ai cũng biết để ví dụ, dẫn sự bất tự do mà
ai cũng biết để ví dụ, dẫn sự thịnh suy mà ai cũng biết
để ví dụ, đại loại như vậy. Toàn hảo là do hiện thấy,
do suy luận và do luận cứ mà làm cho chủ thuyết lập ra được
quyết định. Chánh giáo là những giáo huấn tốt đẹp trong
sáng, tức những tuyên thuyết của bậc toàn giác, như tuyên
thuyết niết bàn là vắng lặng trọn vẹn, đại loại như
vậy. Do 5 sắc thái như vậy mà gọi là khéo quan sát về đạo
lý trong sáng, và do sự trong sáng ấy mà đạo lý như vậy
đáng được học tập. Bạch đức Thế tôn, bậc toàn giác
thì có mấy sắc thái? Thiện nam tử, đại khái có 5 sắc
thái: một là xuất hiện thế giới thì cái tiếng toàn giác
ai cũng nghe cả; hai là toàn hảo 32 tướng quí của bậc đại
trượng phu; ba là đầy đủ 10 trí lực loại được mọi
nghi hoặc cho chúng sinh; bốn là đầy đủ 4 vô úy tuyên thuyết
chánh pháp, không bị sự biện luận của ai khuất phục mà
lại khuất phục được những sự tà luận; năm là trong chánh
pháp được tuyên thuyết thì 8 thánh đạo và 4 thánh quả
toàn là những cái có thể thực hiện ngay trong hiện tại.
Sự xuất hiện thế giới (với cái tiếng toàn giác và đủ
các tướng quí), sự giải quyết nghi hoặc, sự không bị
khuất phục mà khuất phục được người khác, sự hiện
tại có thể thực hiện thánh đạo và thánh quả, 5 sự như
vậy là sắc thái của bậc toàn giác mà ông nên biết. Và,
như thế, đạo lý chứng thành do hiện lượng, do tỷ lượng
(cùng những luận cứ và sự toàn hảo của tỷ lượng ấy),
và do chánh giáo lượng, do 5 sắc thái như vậy mà gọi là
trong sáng. (Thứ hai), do 7 sắc thái mà vẩn đục là 1, một
phần cùng tính chất, 2, một phần khác tính chất, 3, toàn
phần cùng tính chất, 4, toàn phần khác tính chất, 5, ví dụ
khác tính chất, 6, không phải toàn hảo, 7, không phải chánh
giáo. Nếu đưa ra lý do vì ý thức nhận biết thì đó là
toàn phần cùng tính chất. Nếu đưa ra lý do vì sắc thái,
vì đặc tính, vì tác dụng, vì nhân quả, mỗi lý do riêng
biệt của mỗi pháp, quyết định khác nhau, thì đó là toàn
phần khác tính chất. Nếu đưa ra lý do mà một phần cùng
tính chất và ví dụ lại toàn phần khác tính chất thì vì
vậy mà chủ thuyết lập ra không được quyết định, nên
đó là không phải toàn hảo. Nếu đưa ra lý do mà một phần
khác tính chất và ví dụ lại toàn phần cùng tính chất thì
vì vậy mà chủ thuyết lập ra không được quyết định,
nên đó là không phải là toàn hảo. Không phải toàn hảo,
không phải khéo quan sát đạo lý trong sáng, thì do sự vẩn
đục ấy mà không đáng học tập. Ví dụ khác tính chất,
và không phải chánh giáo, thì ông nên biết bản chất toàn
là vẩn đục (189) .
Lược Giải.-
Đoạn nhỏ này,
như đã nói ở ghi chú 187, là nói thêm về đạo lý 3, đạo
lý chứng thành.
Chính Văn.-
Tiết mục 5, tự
tánh là sự tu hành và sự vin theo mà Như lai nói cho để thủ
đắc các pháp bồ đề phần là niệm trú và các mục cùng
loại. Tiết mục 6, quả của tự tánh là những sự diệt
trừ phiền não và những thành quả công đức thuộc cả phạm
vi thế gian và phạm vi xuất thế. Tiết mục 7, sự tiếp nhận
khai thị của tự tánh là đối với cái quả nói trên, đem
cái trí giải thoát mà lãnh nhận và khai thị phong phú cho
người. Tiết mục 8, chướng ngại của tự tánh là chính
các pháp ô nhiễm gây chướng ngại cho sự tu hành các pháp
bồ đề phần. Tiết mục 9, tùy thuận của tự tánh là những
gì làm cho sự tu hành ấy nhiều hơn lên. Tiết mục 10, tội
lỗi của tự tánh là những tội lỗi của các pháp chướng
ngại nói trên. Tiết mục 11, thắng ích của tự tánh là những
công đức của các pháp tùy thuận nói trên.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ chót hết của Đ2, lược giải các tiết mục còn lại
là 5 đến 11.
Nói Về Tổng
Trì
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, xin đức Thế
tôn nói tóm tắt cho các vị Bồ tát biết sự tổng trì kinh
luật luận, một sự tổng trì không cọng hữu với ngoại
đạo; do sự tổng trì không cọng hữu này mà làm cho các
vị Bồ tát ngộ nhập được mật ý sâu xa của các pháp
đức Thế tôn tuyên thuyết. Đức Thế tôn dạy đại bồ
tát Mạn thù: Thiện nam tử, ông hãy nghe kyծ Như lai nay sẽ
nói tóm tắt cho các ông về sự tổng trì không cọng hữu,
để làm cho các vị Bồ tát khéo ngộ nhập những ngôn từ
mật ý mà Như lai tuyên thuyết. Thiện nam tử, dầu pháp tạp
nhiễm, dầu pháp thanh tịnh, Như lai nói tất cả toàn không
tác dụng, toàn không bản ngã, bởi vì hết thảy chủng loại
đều là phi thi vi. Không phải pháp tạp nhiễm trước bẩn
sau sạch, không phải pháp thanh tịnh sau sạch trước bẩn.
Nơi cái thân nặng nề, những kẻ phàm phu chấp pháp chấp
ngã với bao đặc tính và chi tiết. Chính vọng kiến tùy miên
này làm duyên tố nên chấp ta và của ta. Chính vọng kiến
tùy miên này bảo ta thấy, ta nghe, ta ngửi, ta nếm, ta chạm,
ta biết, ta ăn, ta làm, ta bẩn, ta sạch, đại loại như vậy
chuyển thành tà hành. Nếu ai biết đúng như thế này thì
vĩnh viễn loại bỏ cái thân nặng nề, đạt được sự không
còn phiền não, cùng cực thanh tịnh, siêu việt hý luận, không
làm chỗ nương tựa, không có sự thi vi. Đó là tóm tắt về
tổng trì không cọng hữu.
Lúc ấy đức
Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời
chỉnh cú sau đây.
-
Tất cả các pháp
-
nhiễm cũng như tịnh,
-
toàn vô tác dụng
-
toàn phi bản ngã:
-
phi thi vi này
-
mà Như lai nói,
-
thì bẩn với sạch
-
không phải trước
sau.
-
Vọng kiến tùy miên
-
làm duyên tố chính,
-
thấy thân nặng
nề
-
là ta của ta,
-
và vọng nói rằng
-
ta thấy ta biết,
-
ta ăn ta làm
-
ta bẩn ta sạch.
-
Đúng như sự thật
-
mà biết như vậy,
-
vĩnh viễn diệt
được
-
cái thân nặng nề,
-
được phi nhiễm
tịnh
-
và siêu hý luận,
-
không là chỗ dựa
-
không là thi vi.
Lược Giải.-
Tổng trì không
cọng hữu được dạy như trên đây thì đúng là Bát nhã
và Không của Bát nhã.
Mấy Điều Quyết
Trạch
Chính Văn.-
Lúc ấy đại
bồ tát Mạn thù thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, chúng con
nên nhân thức như thế nào về trạng thái sinh khởi của
tâm đức Thế tôn? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn
thù: Thiện nam tử, Như lai thì không phải được biểu thị
bằng sự sinh khởi của tâm ý thức. Thế nhưng Như lai có
sự sinh khởi của cái tâm không cần da hành và sự sinh khởi
ấy nên biết tựa như sự biến hóa. Bạch đức Thế tôn,
pháp thân Thế tôn tách rời mọi sự da hành, da hành không
có thì làm sao có sự sinh khởi của tâm? Thiện nam tử, do
sức mạnh da hành mà trước đó đã tu tập về tuệ độ
nên tâm sinh khởi. Tựa như kẻ đang ngủ một cách không có
tâm thức gì trong giấc ngủ thì không có da hành gì để thức
cả, nhưng do sức mạnh da hành trước đó nên vẫn thức dậy.
Lại như vị đang nhập định Diệt tận thì không có da hành
gì để xuất định, xuất định là do da hành trước đó.
Như ngủ và định Diệt tận mà tâm sinh khởi trở lại, Như
lai cũng do sức mạnh da hành mà trước đó đã tu tập về
tuệ độ, nên vẫn có sự sinh khởi của tâm. Bạch đức
Thế tôn, hóa thân của đức Thế tôn có tâm thức hay không
tâm thức? Thiện nam tử, không phải có tâm thức, cũng không
phải không tâm thức, vì không có cái tâm do nơi mình nhưng
có cái tâm bởi nơi người (190)
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trú xứ với
đối tượng, hai thứ ấy của đức Thế tôn có gì khác nhau?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử,
trú xứ của Như lai là hết thảy chủng loại về cõi Phật
tinh khiết mà chư Như lai cùng có, và được trang hoàng bởi
vô lượng công đức bất khả tư nghị. Đối tượng của
Như lai là tất cả chủng loại về năm giới: giới chúng
sinh, giới thế giới, giới các pháp, giới người được
thuần hóa và giới phương pháp thuần hóa. Như thế đó gọi
là hai thứ khác nhau.
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, đức Thế tôn
thành đẳng chánh giác, chuyển chánh pháp luân, nhập đại
niết bàn, ba sự như vậy con nên hiểu là sắc thái gì? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, nên biết
ba sự như vậy toàn là sắc thái bất nhị: phi thành đẳng
chánh giác, phi không thành đẳng chánh giác; phi chuyển chánh
pháp luận, phi không chuyển chánh pháp luân; phi nhập đại
niết bàn, phi không nhập đại niết bàn. Tại sao, bởi vì
pháp thân Như lai thì cứu cánh thanh tịnh mà hóa thân Như
lai thì thường xuyên thị hiện.
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các loại chúng
sinh chỉ thấy nghe và phụng sự hóa thân Thế tôn mà sinh
công đức, vậy đức Thế tôn là duyên tố gì của họ? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, Như lai
là nhân duyên cho tăng thượng duyên của họ, bởi vì hóa
thân Như lai là do cái lực của pháp thân Như lai gìn giữ.
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật : Bạch đức Thế tôn, cùng là không
có da hành mà tại sao pháp thân Thế tôn vì chúng sinh mà phóng
ánh sáng lớn của trí giác vĩ đại, lại xuất ra vô lượng
ảnh tượng hóa thân, còn giải thoát thân của Thanh văn và
Độc giác lại không có những sự ấy? Đức Thế tôn dạy
đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, tựa như cùng là không
có da hành, nhưng tinh thể của nhật nguyệt thì phóng ánh
sáng lớn chứ không phải những tinh thể khác, ấy là vì
chúng sinh đại oai đức giữ gìn, vì nghiệp lực tăng thượng
của chúng sinh; thêm nữa, như từ viên ngọc ma ni được chạm
khắc bởi tay thợ lành nghề mới xuất hiện đường nét,
chứ không phải từ những viên ngọc không được chạm khắc.
Tương tự như vậy, do cái tuệ độ vin hết vô lượng pháp
giới cùng cực khéo léo tu tập mài dủa mới thành pháp thân
Như lai, từ pháp thân này mới phóng được ánh sáng trí giác
vĩ đại và xuất ra vô lượng ảnh tượng hóa thân, chứ
không phải chỉ từ giải thoát thân mà có những sự ấy.
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế
tôn nói, do oai đức giữ gìn của đức Thế tôn và của chư
Bồ tát mà làm cho chúng sinh ở trong cõi Dục thì sinh vào
nhà đại phú quí của đẳng cấp Sát đế lợi hay đẳng
cấp Bà la môn, cái thân con người cùng với tài sản bảo
vật không thứ nào không toàn hảo; sinh trong chư thiên cõi
Dục, sinh trong cõi Sắc và cõi Không, thì cũng toàn hảo thân
thể và tài bảo ở những cõi ấy. Bạch đức Thế tôn, lời
này có mật ý gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù:
Thiện nam tử, Như lai với Bồ tát đem oai đức mà giữ gìn
chánh pháp (191) ; bất cứ chỗ nào có thể làm cho chúng sinh
được thân thể và tài bảo toàn hảo, thì Như lai tùy nghi
mà nói chánh pháp ấy cho họ. Rồi ai có năng lực chính xác
tu hành chánh pháp ấy, thì sinh ra chỗ nào, thân thể và tài
bảo nhận được cũng đều toàn hảo; ai chống đối khinh
phá chánh pháp ấy, lại quấy phá tức giận Như lai, thì mạng
chung rồi sinh ra ở đâu, thân thể và tài bảo nhận được
cũng toàn thấp kém. Do vậy, oai đức giừ gìn của Như lai
và Bồ tát không những làm cho chúng sinh thân thể và tài
bảo đều toàn hảo, mà oai đức giữ gìn của Như lai và
Bồ tát cũng làm cho chúng sinh thân thể và tài bảo đều
thấp kém.
Đại bồ tát
Mạn thù lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong những
thế giới dơ bẩn thì việc gì dễ có và việc gì khó có?
trong những thế giới tinh khiết thì việc gì dễ có và việc
gì khó có? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện
nam tử, trong những thế giới dơ bẩn thì có tám sự dễ
có và hai sự khó có. Tám sự dễ có là dễ có ngoại đạo,
dễ có kẻ khổ, dễ có đẳng cấp gia tộc lắm sự thịnh
suy, dễ có sự làm ác, dễ có sự phạm giới, dễ có các
đường dữ, dễ có giáo lý thấp, dễ có Bồ tát ý lạc
và da hành đều thấp kém; hai sự khó có là khó có sự đến
đó của các vị Bồ tát mà ý lạc và da hành đều tăng thượng,
khó có sự xuất hiện của Như lai. Trong những thế giới
tinh khiết thì trái ngược với trên đây, có tám sự rất
khó có và có 2 sự dễ có.
Lược Giải.-
Đoạn D3 này có
7 đoạn nhỏ tất cả, quyết trạch khá nhiều vấn đề về
Phật.
Kết Thúc Pháp
Thoại
Chính Văn.-
Lúc ấy đại
bồ tát Mạn thù thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong toàn
bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh
là gì? Chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Mạn thù: Thiện nam tử, pháp thoại
này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về Phật sự. Ông hãy kính
cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy.
Khi đức Thế
tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về Phật sự thì trong
đại hội có bảy mươi lăm ngàn đại bồ tát đều được
chứng ngộ pháp thân viên mãn.
Lời
Nói Cuối
Sau khi dịch giải
xong, tôi tìm được 1 bản chú giải Giải thâm mật mà có
phần chắc là bản mà tôi đã được học. Bản ấy nằm
trong Vạn 76/304 - 324, xin ghi để ai muốn thì tìm tham khảo.
-
23.10.2532.
Trí
Quang
