Phẩm
bảy: Địa Độ (132)
Vào lúc bấy giờ,
đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: bạch đức Thế tôn,
như đức Thế tôn nói mười Bồ tát địa: thứ nhất là
Cực hỷ địa, thứ hai là Ly cấu địa, thứ ba là Phát quang
địa, thứ tư là Diệm tuệ địa, thứ năm là Nan thắng địa,
thứ sáu là Hiện tiền địa, thứ bảy là Viễn hành địa,
thứ tám là Bất động địa, thứ chín là Thiện tuệ địa,
thứ mười là Pháp vân địa, lại nói Như lai địa làm thứ
mười một; các địa như vậy được bao gồm vào mấy sự
thanh tịnh và mấy phần (viên mãn)?
Lúc ấy đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nên
biết các địa như vậy bao gồm vào bốn sự thanh tịnh và
mười một phần viên mãn. Bốn sự thanh tịnh bao gồm được
các địa là một, sự thanh tịnh do ý lạc tăng thượng thì
bao gồm địa thứ nhất, hai, sự thanh tịnh do giới tăng thượng
thì bao gồm địa thứ hai, ba, sự thanh tịnh do tâm tăng thượng
thì bao gồm địa thứ ba, bốn, sự thanh tịnh do tuệ tăng
thượng thì trong các địa sau đó càng siêu việt và tinh tế
hơn lên nên bao gồm từ địa thứ tư cho đến Như lai địa.
Đó là bốn sự thanh tịnh bao gồm tất cả các địa.
Thiện nam tử,
mười một phần viên mãn bao gồm được các địa là (một),
các vị Bồ tát trước tiên ở Giải hành địa (133) dùng
mười pháp hạnh (134) mà rất khéo tu tập về thắng giải
và thắng nhẫn, nên vượt qua địa ấy mà nhập vào chánh
tánh ly sanh của Bồ tát. (Hai), các vị Bồ tát này do lý do
này mà phần địa thứ nhất đã viên mãn; nhưng chưa thể
chánh trí tu hành (135) trong hiện hành của sự lầm lỡ vi
phạm rất nhỏ, vì vậy mà phần địa thứ hai chưa viên mãn;
để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng
được. (Ba), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa
thứ hai đã viên mãn; nhưng chưa thể đạt được đẳng trì
đẳng chí viên mãn và văn trì đà la ni viên mãn thuộc loại
thế gian, vì vậy mà phần địa thứ ba chưa viên mãn; để
phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được.
(Bốn), các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ
ba đã viên mãn; nhưng chưa thể làm cho pháp bồ đề phần
nào đã được thì tu tập nhiều lên, tâm trí chưa bỏ được
định ái và pháp ái, vì vậy mà phần địa thứ tư chưa
viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh cần tu tập
thì chứng được. (Năm), các vị Bồ tát này do lý do này
mà phần địa thứ tư đã viên mãn; nhưng chưa thể chính
xác quán sát các đế lý, chưa bỏ được cái tác ý một
chiều bỏ sinh tử hướng niết bàn, chưa tu được các pháp
bồ đề phần bao gồm trong phần phương tiện, vì vậy mà
phần địa thứ năm chưa viên mãn; để phần này được viên
mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Sáu), các vị
Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ năm đã viên mãn;
nhưng chưa thể chính xác quán sát sự sinh tử lưu chuyển,
lại vì quá chán sự sinh tử lưu chuyển ấy, nghĩa là chưa
thể ở nhiều trong sự tác ý về vô tướng, vì vậy mà phần
địa thứ sáu chưa viên mãn; để phần này được viên mãn
nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Bảy), các vị Bồ
tát này do lý do này mà phần địa thứ sáu đã viên mãn;
nhưng chưa thể làm cho sự tác ý về vô tướng được không
thiếu sót không gián đoạn và tu tập nhiều, vì vậy mà phần
địa thứ bảy chưa viên mãn; để phần này được viên mãn
nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Tám), các vị Bồ
tát này do lý do này mà phần địa thứ bảy đã viên mãn;
nhưng chưa thể hết được sự dụng công về vô tướng,
lại chưa được tự tại với hữu tướng, vì vậy mà phần
địa thứ tám chưa viên mãn; để phần này được viên mãn
nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Chín), các vị Bồ
tát này do lý do này mà phần địa thứ tám đã viên mãn;
nhưng đối với những danh và những tướng diễn đạt khác
nhau về hết thảy chủng loại để tuyên thuyết chánh pháp
thì chưa được đại tự tại, vì vậy mà phần địa thứ
chín chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh
cần tu tập thì chứng được. (Mười), các vị Bồ tát này
do lý do này mà phần địa thứ chín đã viên mãn; nhưng chưa
thể hiện tiền chứng thọ pháp thân viên mãn, vì vậy mà
phần địa thứ mười chưa viên mãn; để phần này được
viên mãn nên tinh cần tu tập thì chứng được. (Mười một),
các vị Bồ tát này do lý do này mà phần địa thứ mười
đã viên mãn; nhưng đối với toàn thể cảnh giới sở tri,
vẫn chưa được cái trí thấy biết tinh tế không còn vướng
mắc không còn chướng ngại, vì vậy mà phần địa thứ mười
một chưa viên mãn; để phần này được viên mãn nên tinh
cần tu tập thì chứng được -- Chứng được phần này viên
mãn là viên mãn tất cả các phần. Đó là mười một phần
viên mãn bao gồm hết cả các địa.
Lược Giải.-
Đoạn Đ1 này
có 6 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói 10
địa bao gồm trong 4 sự thanh tịnh và 11 phần viên mãn.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì sao địa
đầu tiên tên là Cực hỷ địa, cho đến vì sao địa cuối
cùng tên là Như lai địa? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát
Quan thế âm: Thiện nam tử, thành tựu lợi ích chân thật
và vĩ đại, được tâm trí xuất thế mà trước đây chưa
được, sinh hoan hỷ lớn lao, nên địa đầu tiên tên là Cực
hỷ địa. Rời xa hết thảy mọi sự phạm giới rất nhỏ,
nên địa thứ hai tên là Ly cấu địa. Chánh định và văn
trì đà la ni mà ở đây đạt được thì có thể làm chỗ
dựa cho vô lượng ánh sáng trí giác, nên địa thứ ba tên
là Phát quang địa. Do pháp bồ đề phần ở đây thành đạt
mà thiêu đốt phiền não, trí giác ở đây như ngọn lửa,
nên địa thứ tư tên là Diệm tuệ địa. Chính pháp bồ đề
phần nói trên, ở đây phương tiện tu tập cùng cực khó
khăn mới được tự tại, nên địa thứ năm tên là Nam thăắng
địa. Quán sát các hành lưu chuyển như ở trước mắt, nhưng
đối với vô tướng thì tu nhiều về tác ý mới hiện ở
trước mắt, nên địa thứ sáu tên là Hiện tiền địa. Đứng
xa mà đã được cái tác ý không còn thiếu sót và gián đoạn
về vô tướng, tiếp cận với vị trí thanh tịnh, nên địa
thứ bảy tên là Viễn hành địa. Đã được vô công dụng
đối với vô tướng, trong các tướng thì không còn bị phiền
não hiện hành làm xao động, nên địa thứ tám tên là Bất
động địa. Đối với sự thuyết pháp bằng tất cả chủng
loại thì đã được tự tại, đã được trí tuệ rộng lớn
và không tội lỗi, nên địa thứ chín tên là Thiện tuệ
địa. Cái thân nặng nề thì như hư không, còn sự viên mãn
của pháp thân thì như mây lớn giăng che khắp cả, nên địa
thứ mười tên là Pháp vân địa. Diệt trừ vĩnh viễn phiền
não chướng và sở tri chướng cùng cực vi tế, không còn
vướng mắc không còn chướng ngại, đối với cảnh giới
sở tri, tức toàn thể chủng loại, đã thể hiện chánh biến
giác, nên địa thứ mười một tên là Như lai địa.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ hai, giải thích danh nghĩa của các địa.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong các địa
như thế này có mấy thứ ngu tối? có mấy sự nặng nề (136)
? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam
tử, trong các địa như thế này có hai mươi hai thứ ngu tối
và mười một sự nặng nề, toàn là những cái bị đối
trị. Một, trong địa đầu tiên có hai thứ ngu tối, một
là ngu tối vì ngã chấp và pháp chấp, hai là ngu tối vì những
sự tạp nhiễm trong ác đạo, cùng với sự nặng nề của
hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị ở đây.
Hai, trong địa thứ hai có hai thứ ngu tối, một là ngu tối
vì sự lầm lỡ vi phạm rất nhỏ, hai là ngu tối vì các nghiệp,
cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những
cái bị đối trị ở đây. Ba, trong địa thứ ba có hai thứ
ngu tối, một là ngu tối vì tham lam của dục, hai là ngu tối
đôắi với văn trì đà la ni viên mãn, cùng với sự nặng
nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị
ở đây. Bốn, trong địa thứ tư có hai thứ ngu tối, một
là ngu tối vì định ái, hai là ngu tối vì pháp ái, cùng với
sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị
đối trị ở đây. Năm, trong địa thứ năm có hai thứ ngu
tối, một là ngu tối vì tác ý một chiều bỏ sinh tử, hai
là ngu tối vì tác ý một chiều hướng niết bàn, cùng với
sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị
đối trị ở đây. Sáu, trong địa thứ sáu có hai thứ ngu
tối, một là ngu tối vì hiện tiền quán sát các hành lưu
chuyển, hai là ngu tối vì hiện hành nhiều về hữu tướng,
cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những
cái bị đối trị ở đây. Bảy, trong địa thứ bảy có hai
thứ ngu tối, một là ngu tối vì hiện hành của tế tướng,
hai là ngu tối đối với tác ý mong thuần vô tướng, cùng
với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái
bị đối trị ở đây. Tám, trong địa thứ tám có hai thứ
ngu tối, một là ngu tối vì dụng công về vô tướng, hai
là ngu tối đôắi với sự tự tại về hữu tướng, cùng
với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái
bị đối trị ở đây. Chín, trong địa thứ chín có hai thứ
ngu tối, một là ngu tối đối với sự tự tại về tuệ
biện đà la ni của các địa sau nữa, trong sự thuyết pháp
vô lượng và trong vô lượng pháp nghĩa văn tự, hai là ngu
tối đối với sự tự tại về biện tài, cùng với sự nặng
nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối trị
ở đây. Mười, trong địa thứ mười có hai thứ ngu tối,
một là ngu tối đối với đại thần thông, hai là ngu tối
đối với sự ngộ nhập về bí mật vi tế, cùng với sự
nặng nề của hai thứ ngu tối ấy, là những cái bị đối
trị ở đây. Mười một, trong địa thứ mười một có hai
thứ ngu tối, một là ngu tối vì sự vướng mắc cùng cực
vi tế về toàn thể cảnh giới sở tri, hai là ngu tối vì
sự chướng ngại cùng cực vi tế (về toàn thể cảnh giới
sở tri), cùng với sự nặng nề của hai thứ ngu tối ấy,
là những cái bị đối trị ở đây. Do hai mươi hai thứ ngu
tối cùng với mười một sự nặng nề như vậy nên lập
ra các địa, và được vô thượng bồ đề thì thoát ly hết
cả mọi sự ràng buộc ấy. Đại bồ tát Quan tự tại lại
thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vô thượng bồ đề rất
kỳ lạ, rất hiếm có, cho đến đạt được lợi ích lớn
lao và thành quả lớn lao, là làm cho các vị Bồ tát phá được
cái lưới ngu tối lớn lao đến thế, và vượt được cái
rừng nặng nề lớn lao đến thế, mà hiện tiền chứng được
vô thượng bồ đề ấy.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ ba, phân biệt các địa bằng 22 thứ ngu tối, 11
sự nặng nề.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các địa như
thế này được lập ra bởi mấy thứ đặc thù? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, khái lược
có tám thứ: một là sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng,
hai là sự thanh tịnh của tâm tăng thượng, ba là sự thanh
tịnh của bi tăng thượng, bốn là sự thanh tịnh của độ
tăng thượng, năm là sự thanh tịnh của sự phụng sự chư
Phật tăng thượng, sáu là sự thanh tịnh của sự thành thục
chúng sinh tăng thượng, bảy là sự thanh tịnh của sự thọ
sinh tăng thượng, tám là sự thanh tịnh của uy đức tăng
thượng. Sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng cho đến
sự thanh tịnh của uy đức tăng thượng trong địa đầu tiên,
cùng với sự thanh tịnh của ý lạc tăng thượng cho đến
sự thanh tịnh của uy đức tăng thượng trong các địa sau
đó cho đến trong Như lai địa, nên biết những sự thanh tịnh
này triển chuyển hơn lên, chỉ trong Như lai địa thì trừ
sự thanh tịnh của sự thọ sinh tăng thượng (137) . Thêm nữa,
công đức mà địa đầu tiên có thì các địa trên nữa cũng
có một cách bình đẳng, nhưng nên biết cái công đức đặc
thù của bản địa thì vẫn là đặc thù (138) ; công đức
của mười Bồ tát địa toàn là còn có cái trên nữa, còn
công đức của Như lai địa thì nên biết không có gì trên
nữa.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ tư, phân biệt các địa bằng 8 sự đặc thù.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào
mà nói sự thọ sinh của Bồ tát đặc thù nhất đối với
mọi sự thọ sinh khác? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan
tự tại: Thiện nam tử, vì bốn lý do: một là do thiện căn
cực kỳ trong sạch mà có sự thọ sinh ấy, hai là do sức
mạnh của sự cố ý chọn lựa mà lấy sự thọ sinh ấy,
ba là vì thương xót cứu vớt chúng sinh mà phải thọ sinh,
bốn là bản thân không ô nhiễm vì sự thọ sinh mà còn trừ
được cho người sự ô nhiễm ấy.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ năm, nói các địa bằng sự thọ sinh đặc thù.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, do lý do nào
mà nói các vị Bồ tát làm theo cái nguyện rộng lớn, nhiệm
mầu và siêu việt? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự
tại: Thiện nam tử, do bốn lý do, (một), Bồ tát biết rõ
và biết khéo cái vui của niết bàn và mình đủ sức chứng
lấy một cách mau chóng, (hai) nhưng vẫn bỏ sự mau chóng chứng
lấy cái vui ấy, (ba) mà không cần mời mọc, không đợi biết
ơn, vẫn phát ra tâm nguyện vĩ đại, (bốn) nguyện vì lợi
ích chúng sinh mà ở trong cái khổ lớn lao vừa đa dạng vừa
lâu dài. Vì vậy Như lai nói Bồ tát làm theo cái nguyện rộng
lớn, nhiệm mầu và siêu việt.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ sáu, nói các địa bằng đại nguyện (đủ 3 đặc
tính và do 4 lý do).
Nói Về Các Độ
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các vị Bồ
tát (trong mười địa) như vậy có mấy sự phải tu học?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử,
sự phải tu học của Bồ tát có sáu: thí độ, giới độ,
nhẫn độ, tiến độ, định độ, tuệ độ.
Lược Giải.-
Đoạn Đ2 này
có 18 đoạn nhỏ. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói
về số lượng 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, sáu sự phải
tu học như vậy, mấy sự thuộc về giới học tăng thượng?
mấy sự thuộc về tâm học tăng thượng? mấy sự thuộc
về tuệ học tăng thượng? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát
Quan tự tại: Thiện nam tử, nên biết (thí độ giới độ
nhẫn độ) ba sự đầu ấy chỉ thuộc về giới học tăng
thượng, định độ một sự chỉ thuộc về tâm học tăng
thượng, tuệ độ một sự chỉ thuộc về tuệ học tăng
thượng, và Như lai nói rằng tiến độ thì khắp trong tất
cả.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ hai, nói 6 độ thuộc 3 học.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, sáu sự phải
tu học như vậy mấy sự thuộc về phước đức tư lương?
mấy sự thuộc về trí tuệ tư lương? Đức Thế tôn dạy
đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, sự nào thuộc về
giới học tăng thượng thì thuộc về phước đức tư lương,
sự nào thuộc về tuệ học tăng thượng thì thuộc về trí
tuệ tư lương, còn hai sự tiến độ và định độ thì Như
lai nói khắp trong tất cả.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ ba, nói 6 độ thuộc 2 tư lương.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, đối với sáu
sự phải tu học như vậy, Bồ tát phải tu học như thế nào?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử,
phải tu học bằng năm cách thức sau đây: một là đầu tiên,
tin hiểu sắc mạnh đối với giáo pháp tinh tế tương ứng
với sáu độ, thuộc về Bồ tát tạng; hai là kế đó, đối
với mười pháp hạnh thì đem cái trí được tác thành bởi
sự nghe sự nghĩ sự tu mà tinh tiến tu hành; ba là theo mà
giữ tâm nguyện bồ đề; bốn là thân gần các vị thiện
tri thức đích thực; năm là siêng tu các loại thiện pháp
một cách không có gián đoạn.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ tư, nói 6 độ tu bằng 5 cách.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào
mà qui định sự phải tu học như vậy chỉ có sáu số? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại : Thiện nam tử, vì
hai lý do: một là lý do lợi ích chúng sinh, hai là lý do đối
trị phiền não. Ba độ trước là để lợi ích chúng sinh,
ba độ sau là để đối trị phiền não, nên nhận định như
vậy. Ba độ trước lợi ích chúng sinh là Bồ tát do bố thí
nên thu thập đồ dùng để lợi ích chúng sinh, do trì giới
nên không tổn hại bức bách và quấy rối để lợi ích chúng
sinh, do nhẫn nhục nên chịu đựng sự tổn hại bức bách
và quấy rối của chúng sinh để lợi ích chúng sinh. Ba độ
sau đối trị phiền não là Bồ tát do tinh tiến nên dẫu chưa
trừ hẳn phiền não, cũng chưa diệt hẳn tùy miên (139) , mà
vẫn dũng mãnh tu hành các loại thiện pháp, phiền não không
thể khuynh động sự tu hành ấy; rồi do thiền định mà trừ
hẳn phiền não; do tuệ giác mà diệt hẳn tùy miên.
Đại bồ tát
Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do
nào mà qui định các độ khác chỉ có bốn số? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại : Thiện nam tử, vì lý
do làm sự hỗ trợ cho sáu độ. (Một), Bồ tát lợi ích chúng
sinh bằng ba độ trước là dùng các nhiếp pháp (140) làm phương
tiện mà thu nhận họ, đặt họ vào thiện pháp, nên Như lai
nói phương tiện độ làm sự hỗ trợ của ba độ trước.
(Hai), Bồ tát nếu vì hiện tại nhiều phiền não nên không
thể tu hành một cách liên tục; vì ý lạc hèn kém và vì
thắng giải (xao động) của cõi Dục nên không thể nội tâm
an trú; vì không thể lắng nghe, vin theo và khéo tu giáo pháp
Bồ tát tạng nên sự tịnh lự không thể dẫn ra cái tuệ
xuất thế; (vì ba lý do như vậy), vị Bồ tát ấy thu thập
phước đức tư lương đang ít và kém mà phát thệ nguyện
chính yếu, để đời sau phiền não được nhẹ và nhỏ đi,
như thế đó là nguyện độ; do nguyện này mà phiền não nhỏ
và mỏng, có thể thực hành tinh tiến, nên Như lai nói nguyện
độ làm sự hỗ trợ của tiến độ. (Ba), Bồ tát nếu thân
gần các bậc thiện sĩ để lắng nghe chánh pháp và tác ý
đúng lý, do nhân tố này mà xoay ý lạc hèn kém thành ý lạc
siêu việt, lại được thắng giải (bình lặng) của cõi trên,
như thế đó là lực độ; do lực này mà có thể nội tâm
an trú, nên Như lai nói lực độ làm sự hỗ trợ của định
độ. (Bốn), Bồ tát nếu đã lắng nghe, vin theo và khéo tu
giáo pháp Bồ tát tạng thì có thể phát ra tịnh lự, như
thế đó là trí độ; do trí này mà có thể dẫn ra cái tuệ
xuất thế, nên Như lai nói trí độ làm sự hỗ trợ của
tuệ độ.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ năm, nói lý do của số lượng 6 độ (và của 4
độ hỗ trợ, thành cái gọi là 10 độ).
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào
mà nói sáu độ theo thứ tự như vậy? Đức Thế tôn dạy
đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì lý do dẫn ra
các độ về sau: Bồ tát nếu không luyến tiếc thân mạng
và tài sản thì có thể lãnh thọ và chấp trì tịnh giới,
để chấp trì tịnh giới nên thực hành nhẫn nhục, thực
hành nhẫn nhục thì phát ra tinh tiến, phát ra tinh tiến thì
có thể thành đạt tịnh lự, thành đạt tịnh lự thì đạt
được cái tuệ xuất thế. Vì thế mà Như lai nói sáu độ
theo thứ tự như vậy.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ sáu, nói thứ tự của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, sáu độ như
vậy mỗi độ có mấy loại khác nhau? Đức Thế tôn dạy
đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, mỗi độ có ba
loại. Ba loại thí độ là bố thí chánh pháp, bố trí tài
sản, bố thí vô úy. Ba loại giới độ là tịnh giới diệt
ác, tịnh giới sinh thiện, tịnh giới lợi người (141) . Ba
loại nhẫn độ là nhẫn chịu oán hại, nhẫn chịu khổ cực,
nhẫn chịu chân lý. Ba loại tiến độ là tinh tiến áo giáp
(142) , tinh tiến sinh thiện, tinh tiến lợi người. Ba loại
định độ là tịnh lự dẫn ra pháp lạc (143) , tịnh lự
dẫn ra công đức, tịnh lự dẫn ra lợi người. Ba loại tuệ
độ là tuệ giác vin thế tục đế, tuệ giác vin thắng nghĩa
đế, tuệ giác vin lợi ích người (144) .
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ bảy, nói các loại của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào
mà sáu độ gọi là độ (145) ? Đức Thế tôn dạy đại bồ
tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì năm lý do: một là vì
không nhuốm bẩn, hai là vì không lưu luyến, ba là vì không
tội lỗi, bốn là vì không phân biệt, năm là vì chánh hồi
hướng (145B) . Không nhuốm bẩn là không nhuốm bẩn vì những
cái trái ngược với các độ. Không lưu luyến là tâm không
buộc vào các thành quả và dị thục quả (146) của các độ,
và vào sự trả ơn về các độ. Không tội lỗi là đối
với các độ, không có sự tạp nhiễm xen vào và tách rời
sự phi phương tiện. Không phân biệt là đối với các độ
không theo ngôn từ mà chấp đặc tính. Chánh hồi hướng là
đem các độ đã làm đã qui tụ xoay lại mà cầu thành quả
vô thượng bồ đề. Bạch đức Thế tôn, những gì gọi là
cái trái ngược với các độ? Thiện nam tử, những cái ấy
đại khái có sáu: một là ưa thích dục lạc (146B) và giàu
có tự do mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích (147) ,
hai là tung thân miệng ý vào cái mình ưa thích mà cảm thấy
sâu xa là hay ho và hữu ích, ba là không nhẫn nhịn nổi khi
kẻ khác khinh miệt mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích,
bốn là không siêng tu tập và đắm say dục lạc mà cảm thấy
sâu xa là hay ho và hữu ích, năm là ở chỗ ồn náo và làm
việc tạp loạn mà cảm thấy sâu xa là hay ho và hữu ích,
sáu là thấy nghe hay biết rồi ngôn từ hý luận mà cảm thấy
sâu xa là hay ho và hữu ích. Bạch đức Thế tôn, những gì
là quả báo của các độ ? Thiện nam tử, quả báo ấy đại
khái cũng có sáu : một là được giàu có lớn, hai là sinh
chỗ tốt lành, ba là không có thù oán, không bị phá hoại,
lắm nỗi vui vẻ, bốn là đứng đầu mọi người, năm là
thân không tổn hại, sáu là thuộc dòng họ lớn. Bạch đức
Thế tôn, những gì là sự tạp nhiễm xen vào của các độ?
Thiện nam tử, là đại khái có bốn cách làm: một là làm
mà không tình thương, hai là làm mà không hợp lý, ba là làm
mà không thường xuyên, bốn là làm mà không thiết tha. --
Làm mà không hợp lý là khi làm một độ mà tách rời và
đánh mất các độ khác (148) . Bạch đức Thế tôn, thế nào
là phi phương tiện của các độ? Thiện nam tử, Bồ tát muốn
đem các độ lợi ích chúng sinh, nhưng chỉ lợi ích chúng
sinh bằng tiền của mà cho là đủ rồi, không đưa họ thoát
chỗ ác, không đặt họ vào chỗ lành, thì như thế đó là
cách làm phi phương tiện. -- Bởi vì, Thiện nam tử, không
phải chỉ làm như thế cho chúng sinh mà gọi là lợi ích thật;
tựa như phấn uế thì nhiều ít gì cũng không bao giờ làm
cho thơm lên được, chúng sinh cũng vậy, vì là hành khổ (149)
nên bản chất chúng sinh là khổ, không cách gì chỉ lợi ích
tạm thời bằng tiền của mà có thể làm cho họ chuyển thành
ra vui, chỉ có cách đem họ đặt vào trong thiện pháp tuyệt
hảo mới được gọi là lợi ích bậc nhất.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ tám, nói về cái tên độ của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các độ như
thế này có mấy sự thanh tịnh? Đức Thế tôn dạy đại
bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, Như lai không bao giờ
nói ngoài năm sự nói trên mà các độ có sự thanh tịnh nào
khác. Nhưng nay Như lai căn cứ chính năm sự ấy mà nói tổng
quát và nói riêng biệt về sự thanh tịnh của các độ. Nói
tổng quát về sự thanh tịnh của các độ thì ông nên biết
có bảy sự: một là không cầu ai biết các độ ấy, hai là
tự thấy có các độ ấy mà không sinh ra chấp trước, ba
là không hoài nghi chính các độ ấy rằng đạt được vô
thượng bồ đề hay không, bốn là không bao giờ khen mình
chê người mà khinh miệt ai, năm là không kiêu ngạo buông
thả, sáu là không bao giờ được chút ít mà đã mừng rằng
đủ rồi, bảy là không bao giờ vì các độ này mà ganh ghét
keo kiết với ai (khi thấy họ cũng có các độ ấy). Nói riêng
biệt về sự thanh tịnh của các độ thì (mỗi độ) cũng
có bảy sự. (Thứ nhất), các vị Bồ tát tùy thuận làm đúng
như bảy sự thanh tịnh của thí độ mà Như lai nói, ấy là
do của thanh tịnh, do giới thanh tịnh, do thấy thanh tịnh,
do tâm thanh tịnh, do nói thanh tịnh, do trí thanh tịnh và do
bẩn thanh tịnh (150) mà làm sự bố thí thanh tịnh. Như thế
đó gọi là bảy sự thanh tịnh của thí độ. (Thứ hai), các
vị Bồ tát khéo biết giới pháp Như lai thiết lập, khéo
biết cách thức ra khỏi sự vi phạm, hoàn hảo giới pháp
thường xuyên, giới pháp bền chắc, giới pháp thường làm,
giới pháp thường chuyển (151) , và học tất cả giới điều.
Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của giới độ. (Thứ
ba), các vị Bồ tát thâm tín nghiệp báo nên khi có sự bất
lợi xảy ra thì không tức bực; cũng không mắng lại, không
giận không đánh, không khủng khiếp, không hý lộng, không
hại lại bằng những cách bất lợi; không thù oán; khi họ
sám hối (152) thì không làm họ bực bội; cũng không mong đợi
họ đến sám hối; không vì sợ hay thương mà nhẫn nhục;
không phải làm ơn (một lần) rồi bỏ họ liền (mà không
tiếp tục lợi ích cho họ). Như thế đó gọi là bảy sự
thanh tịnh của nhẫn độ. (Thứ tư), các vị Bồ tát nhận
thức tính chất quân bình (chứ không gấp không hoãn) của
tinh tiến, không vì dũng mãnh tinh tiến mà tự cao và lấn
người, đầy đủ nghị lực lớn lao, đầy đủ tiến thủ
lớn lao, có thể làm nổi và làm được, kiên cường, không
bao giờ trút bỏ cái ách kéo các thiện pháp. Như thế đó
gọi là bảy sự thanh tịnh của tiến độ. (Thứ năm), các
vị Bồ tát có tịnh lự biết thế tục đế, có tịnh lự
biết thắng nghĩa đế (153) , có tịnh lự biết cả hai đế,
có tịnh lự chuyển động, có tịnh lự không dựa, có tịnh
lự khéo tu (154) , có tịnh lự y như Bồ tát tạng mà lắng
nghe, vin theo và tu tập vô lượng chánh định. Như thế đó
gọi là bảy sự thanh tịnh của định độ. (Thứ bảy), các
vị Bồ tát tách rời hai cực đoan thêm và bớt mà đi theo
trung đạo thì đó là tuệ; do tuệ này mà biết đúng về
ba giải thoát môn là không vô nguyện vô tướng; biết đúng
về ba tự tánh là biến kế chấp y tha khởi viên thành thật;
biết đúng về ba vô tánh là tướng vô tánh sinh vô tánh nghĩa
vô tánh; biết đúng về thế tục đế là năm minh xứ (155)
; biết đúng về thắng nghĩa đế là bảy chân như; lại vì
ở nhiều nơi lý thể thuần nhất không phân biệt và không
hý luận, vì lấy pháp tổng quát vô lượng làm đối tượng,
và vì là quán, nên hoàn thành được sự tùy pháp hành (156)
. Như thế đó gọi là bảy sự thanh tịnh của tuệ độ.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ chín, nói sự thanh tịnh của các độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, năm sự nói
trên, mỗi sự có tác dụng gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ
tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nên biết mỗi sự có một
tác dụng: các vị Bồ tát vì không nhuốm bẩn nên trong hiện
tại luôn luôn thiết tha, nỗ lực tu tập các độ chứ không
phóng túng; vì không lưu luyến nên tạo thành cái nhân không
phóng túng
trong vị lai; vì không tội lỗi nên chính xác tu
tập các độ một cách rất khéo hoàn hảo, trong sáng và tươi
trắng; vì không phân biệt nên mau chóng viên mãn các độ
bằng phương tiện khéo léo; vì chánh hồi hướng nên sinh
ra ở đâu, các độ, và những thành quả cùng dị thục quả
khả ái của các độ, đều có đặc tính vô tận, đến tận
vô thượng bồ đề.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười, nói tác dụng của 5 sự.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, các độ được
nói như vậy, cái gì rất rộng lớn? cái gì không nhiễm ô?
cái gì rất sáng rực? cái gì không thể động? cái gì rất
thanh tịnh? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại:
Thiện nam tử, đặc tính không nhuốm bẩn, đặc tính không
lưu luyến và đặc tính chánh hồi hướng là rất rộng lớn;
đặc tính không tội lỗi và đặc tính không phân biệt là
không nhiễm ô; tư duy quyết trạch mà làm là rất sáng rực;
nhập vào vị trí không còn thoái chuyển là không thể động;
gồm trong địa thứ mười và Như lai địa là rất thanh tịnh.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười một, nói 5 sắc thái của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào
mà những thành quả và dị thục quả khả ái của các độ
luôn luôn vô tận, và chính các độ cũng vô tận? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, vì triển
chuyển dựa nhau mà sinh mãi, và tu tập không hề gián đoạn.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười hai, nói sự vô tận của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, vì lý do nào
mà các vị Bồ tát ưa thích sâu xa đối với các độ chứ
không đối với dị thục quả (157) khả ái của các độ?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử,
vì năm lý do: một, vì các độ là nhân tố của sự vui mừng
tối thượng, hai, vì các độ là nhân tố của sự lợi ích
rốt ráo cho mình người, ba, vì các độ là nhân tố của
dị thục quả khả ái trong thì gian vị lai, bốn, vì các độ
không phải là chỗ dựa của mọi sự tạp nhiễm, năm, vì
các độ không phải là những cái cuối cùng rồi cũng suy
tàn và hỏng mất.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười ba, nói sự ưa thích các độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, tất cả các
độ, mỗi độ có mấy thứ uy đức tối thắng? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, tất cả
các độ, mỗi độ đều có bốn thứ uy đức tối thắng:
một là tu tập chính xác các độ thì trừ bỏ keo lẫn, phạm
giới, căm phẫn, lười nhác, loạn động, kiến hoặc; hai
là tu tập chính xác các độ thì làm tư lương chân thật
cho vô thượng bồ đề; ba là tu tập chính xác các độ thì
tự thuần hóa và lợi ích người; bốn là tu tập chính xác
các độ thì vị lai được những dị thục quả khả ái vừa
quảng đại vừa vô tận (158) .
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười bốn, nói uy đức của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, tất cả các
độ như vậy nhân tố là gì? thành quả là gì? thật lợi
là gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện
nam tử, tất cả các độ như vậy lấy tâm đại bi làm nhân
tố, lấy sự ích lợi chúng sinh của dị thục quả khả ái
làm thành quả, lấy vô thượng bồ đề làm thật lợi.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười lăm, nói nhân quả thật lợi của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, nếu các vị
Bồ tát đầy đủ tiền của vô tận và thành tựu từ bi
rộng lớn thì vì sao thế giới này hiện có những người
nghèo khổ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại:
Thiện nam tử, ấy là lỗi vì cái nghiệp của họ. Nếu chúng
sinh không có ác nghiệp của mình cản trở lấy mình thì thế
giới này làm gì có người nghèo khổ khi Bồ tát thường
có lòng làm lợi ích cho người, lại thường có tiền của
vô tận. Tựa như quỉ đói bị nóng khát dữ dội hành hạ
cơ thể, vậy mà thấy nước biển khô cả. Như thế đâu
phải lỗi ở biển, lỗi vì nghiệp của quỉ đói mà thôi.
Tương tự như vậy, Bồ tát bố thí tiền của thì như biển
cả, nên không vì gì Bồ tát, mà chỉ vì ác nghiệp của chúng
sinh, như vì ác nghiệp của quỉ đói làm cho quỉ đói có
cái ác báo không có nước uống.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười sáu, nói nghiệp chúng sinh cản trở chúng
sinh hưởng được ích lợi của 6 độ.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, bồ tát dùng
độ nào lĩnh hội cái tánh không tự tánh của các pháp? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, dùng
tuệ độ thì lĩnh hội được cái tánh không tự tánh của
các pháp. Bạch đức Thế tôn, nếu tuệ độ lĩnh hội cái
tánh không tự tánh thì sao không lĩnh hội cái tánh có tự
tánh (159) ? Thiện nam tử, Như lai không bao giờ nói đem cái
tánh không tự tánh lĩnh hội cái tánh không tự tánh (như
ý ông hỏi), bởi vì cái tánh không tự tánh thì siêu việt
văn tự mà chứng ngộ bên trong. Nhưng không thể bỏ ngôn
ngữ văn tự mà nói được, nên Như lai nói tuệ độ lĩnh
hội cái tánh không tự tánh của các pháp (160) .
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười bảy, nói tuệ độ chứng thắng nghĩa.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế
tôn nói độ, độ gần và độ lớn, vậy độ là thế nào?
độ gần là thế nào? độ lớn là thế nào? Đức Thế tôn
dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, nếu các vị
Bồ tát trải qua vô số thì gian, tu tập thí cho đến tuệ,
thiện pháp thành tựu mà phiền não vẫn còn hiện hành như
cũ, chưa chế ngự được chúng mà lại bị chúng chế ngự,
thì đó là thắng giải bậc kém và bậc vừa trong Giải hành
địa, và gọi là độ. Trải qua vô số thì gian nữa, tu tập
thí cho đến tuệ, thiện pháp thành tựu được tăng thượng
dần lên mà phiền não vẫn còn hiện hành như cũ, nhưng chế
ngự được chúng chứ không bị chúng chế ngự, thì đó là
từ địa thứ nhất sắp lên, và gọi là độ gần. Trải
qua vô số thì gian nữa, tu tập thí cho đến tuệ, thiện pháp
thành tựu càng tăng thượng hơn nữa, mọi phiền não không
còn hiện hành, thì đó là từ địa thứ tám sắp lên, và
gọi là độ lớn.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ mười tám, và là cuối cùng của đoạn Đ2, nói
về 3 cấp của 6 độ.
Nói Về Chướng
Ngại
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong các Bồ
tát địa ấy, tùy miên của phiền não có thể có mấy loại?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử,
khái lược có ba loại. Một là loại tùy miên hỗ trợ (161)
, ở trong năm Bồ tát địa trước, tại sao, vì chính hiện
hành của phiền não không phải câu sinh là những thứ hỗ
trợ cho hiện hành của phiền não câu sinh, và lúc bấy giờ
vĩnh viễn không còn nữa, nên gọi là tùy miên hỗ trợ. Hai
là loại tùy miên liệt nhược, là hiện hành nhỏ nhiệm trong
địa thứ sáu và địa thứ bảy, nếu (162) tu đạo chế ngự
thì chúng không hiện hành nữa. Ba là tùy miên nhỏ nhiệm,
là sở tri chướng trong địa thứ tám sắp lên, ở đó mọi
phiền não không còn hiện hành nữa (163) .
Đại bồ tát
Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, những loại
tùy miên này do mấy loại thô trọng (164) bị diệt trừ mà
làm rõ ra (165) ? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự
tại: Thiện nam tử, chỉ do hai loại: (một), do loại thô trọng
da ngoài bị diệt trừ mà làm rõ ra loại tùy miên thứ nhất
và loại tùy miên thứ hai; (hai), do loại thô trọng da trong
bị diệt trừ mà làm rõ ra loại tùy miên thứ ba; còn (ba),
loại thô trọng xương cốt bị diệt trừ thì Như lai nói
vĩnh viễn diệt trừ toàn thể tùy miên, và vị trí là ở
Như lai địa.
Đại bồ tát
Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, phải trải
qua mấy vô số kiếp mới diệt trừ được những loại thô
trọng như vậy? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự
tại: Thiện nam tử, phải trải qua ba vô số kiếp lớn, hoặc
vô lượng kiếp mà sát na, nháy mắt, chốc lát, nửa buổi,
một buổi (166) , ngày đêm, nửa tháng, một tháng, một năm,
không thể (lấy những thì gian này làm đơn vị mà) tính kể.
Đại bồ tát
Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong các
Bồ tát địa, Bồ tát phát ra phiền não thì phiền não ấy
là sắc thái gì? có nhược điểm gì? có ưu điểm gì? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử, phiền
não ấy là sắc thái không ô nhiễm, vì sao, vì các vị Bồ
tát này, ngay trong địa thứ nhất, quyết định đã khéo thông
đạt pháp tánh các pháp, do đó, các vị phải biết rõ (có
cần thiết) mới để cho phiền não phát ra, không phải không
biết, thế nên Như lai nói là sắc thái không ô nhiễm. Trong
bản thân các vị Bồ tát này, phiền não ấy không thể gây
ra khổ não, nên không có nhược điểm gì. Phiền não được
các vị Bồ tát này để cho phát ra như vậy có năng lực
cắt đứt cái nhân đau khổ trong chúng sinh giới, nên nó có
vô số ưu điểm. Đại bồ tát Quan tự tại thưa Phật: Thật
là kỳ lạ, bạch đức Thế tôn ! Vô thượng bồ đề có
công đức lớn lao đến như vậy, ấy là làm cho phiền não
của Bồ tát phát ra mà còn hơn cả thiện căn của chúng sinh,
của Thanh văn và Độc giác, huống chi vô lượng công đức
khác.
Lược Giải.-
Đoạn Đ3 này
có 4 đoạn nhỏ: thứ nhất nói chủng loại của tùy miên,
thứ hai nói thô trọng bị diệt trừ, thứ ba nói thì gian
diệt trừ thô trọng, thứ tư nói phiền não của Bồ tát.
Nói Về Nhất
Thừa
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Quan tự tại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như đức Thế
tôn dạy Thanh văn thừa hay Đại thừa chỉ là nhất thừa,
lời này có mật ý gì? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan
tự tại: Thiện nam tử, như trong Thanh văn thừa Như lai nói
những tiết mục của các pháp là năm uẩn, sáu xứ ở trong,
sáu xứ ở ngoài, và các tiết mục đồng đẳng như vậy,
thì trong Đại thừa Như lai nói chính các pháp ấy là đồng
nhất pháp tánh, đồng nhất lý thú (167) . Thế nên Như lai
không nói các thừa có tính sai biệt. -- Chỉ có những kẻ
y theo ngôn từ mà vọng phân ý nghĩa, mới thành một số thêm
lên, một số bớt đi (168) , lại cho những điểm sai biệt
của các thừa là mâu thuẫn nhau, rồi cứ thế mà triển chuyển
tranh luận. Mật ý ở đây là như vậy.
Lược Giải.-
Trong phẩm bốn
đã nói nhất thừa. Ở đây lại nói nữa. Mỗi chỗ có một
lý do. Nên coi kyՠlại. Nhất là phải coi kyլ thật kyլ về
nhất thừa của Pháp hoa. Để xác quyết chỗ qui túc của
toàn bộ Phật pháp là ở đâu.
Kết Thúc Pháp
Thoại
Vào lúc bấy giờ,
đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những
lời chỉnh cú sau đây.
-
Mười Bồ tát địa
-
bao gồm những gì
-
danh nghĩa thế nào
-
đối trị cái gì
-
đặc thù có gì
-
phát sinh những gì
-
đại nguyện ra sao
-
và bao tiết mục;
-
đó là đại thừa
-
Như lai đã nói.
-
Qua các địa ấy,
-
khéo léo tu tập
-
thì sẽ thành tựu
-
vô thượng đại
giác.
-
Như lai tuyên thuyết
-
tiết mục các pháp,
-
lại nói các pháp
-
đồng nhất lý thú;
-
nghĩa là đối với
-
thừa thấp thừa
cao,
-
Như lai nói rằng
-
không tính dị biệt.
-
Chỉ có những kẻ
-
y theo ngôn từ
-
vọng phân ý nghĩa
-
mới có thêm bớt,
-
cho rằng hai thừa
-
mâu thuẫn với nhau,
-
nhận thức ngu ngơ
-
thành ra tranh cãi.
Lúc ấy đại bồ
tát Quan tự tại lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong
toàn bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh
danh là gì? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Quan tự tại: Thiện nam tử,
pháp thoại này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về các địa độ.
Ông hãy kính cẩn ghi nhớ theo cái tên như vậy.
Khi đức Thế
tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về các địa độ thì
trong đại hội có bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được chánh
định Ánh sáng đại thừa của Bồ tát.
Nói Tâm Ấy Là
Quả Sở Đắc
-
D1. Nói Về Thân
Phật
-
D2. Nói Về Tiếng
Phật
-
Đ1. Nói Về Kinh
Và Luật
-
Đ2. Nói Về Luận
-
Đ3. Nói Về Tổng
Trì
-
D3. Mấy Điều Quyết
Trạch
-
D4. Kết Thúc Pháp
Thoại
Nói Về Thân Phật
Chính Văn.-
