Phẩm sáu: Du Dà
(82)
Vào lúc bấy giờ
đại bồ tát Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong
Đại thừa, các vị Bồ tát y cứ vào chỗ nào và trú ở
vào chỗ nào mà tu tập chỉ quán? Đức Thế tôn dạy đại
bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, hãy nhận thức rằng, trong
Đại thừa, các vị Bồ tát tu tập chỉ quán thì lấy giáo
pháp của Như lai thiết lập mà làm chỗ y cứ, lấy sự không
bỏ mất tâm nguyện vô thượng bồ đề mà làm chỗ trú ở.
Nói Sở Duyên
Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn
nói có bốn đối cảnh sở duyên, một là có phân biệt, hai
là không phân biệt, ba là biên tế các pháp, bốn là sở tác
thành tựu (83) ; bốn đối cảnh này mấy là sở duyên của
chỉ, mấy là sở duyên của quán, mấy là sở duyên của cả
chỉ quán? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện
nam tử, một là sở duyên của chỉ, đó là đối cảnh không
phân biệt; một là sở duyên của quán, đó là đối cảnh
có phân biệt; hai là sở duyên của cả chỉ quán, đó là
đối cảnh biên tế các pháp và đối cảnh sở tác thành
tựu.
Nói Sự Cầu Và
Sự Khéo Về Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát do bốn đối
cảnh sở duyên như trên mà cầu về chỉ và khéo về quán
là như thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị:
Thiện nam tử, giáo pháp của Như lai thiết lập cho Bồ tát
là khế kinh, ứng tụng, ký biệt, phúng tụng, tự thuyết,
nhân duyên, thí dụ, bản sự, bản sinh, phương quảng, hy pháp,
luận nghị; đối với giáo pháp ấy (84) , Bồ tát khéo lắng
nghe, khéo tiếp nhận, văn khéo rành rẻ, ý khéo tìm tòi, thấy
khéo thông suốt; rồi chính nơi giáo pháp phải khéo tư duy
(85) như vậy, Bồ tát một mình ở chỗ không phiền không
ồn mà tác ý tư duy; sự tư duy này phải được nội tâm
liên tục tác ý tư duy: hễ đứng vững rất nhiều trong cái
chánh hạnh ấy, sinh ra sự khinh an (86) nơi thân và sự khinh
an nơi tâm, thì đó là chỉ, và Bồ tát như vậy là cầu về
chỉ. Bồ tát này do cái thân tâm khinh an trên đây làm nền
tảng, đối với ấn tượng chánh định theo giáo pháp phải
khéo tư duy (87) nói trên, hãy quan sát, thắng giải (88) , bỏ
cái tâm tướng về chỉ: hễ đối với ấn tượng chánh định
cần phải chứng biết ấy mà chính xác quyết trạch, cùng
cực quyết trạch, tầm tư toàn bộ, tứ sát toàn bộ, rồi
xác nhận, ưa thích, hiểu biết, nhìn thấy, xét thấy, thì
đó là quán, và Bồ tát như vậy là khéo về quán.
Nói Tác Ý Tùy
Thuận Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát từ khi lấy
(ấn tượng của) tâm mà làm đối tượng, nội tâm tư duy
tâm, cho đến lúc chưa được thân tâm khinh an, thì sự tác
ý trong thì gian đó nên gọi là gì? Đức Thế tôn dạy đại
bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đó chưa phải là tác ý về
chỉ, mà là tác ý thích ứng sự thắng giải tùy thuận với
chỉ. Bạch đức Thế tôn, cho đến lúc chưa được thân tâm
khinh an, Bồ tát có sự tác ý tư duy đối với ấn tượng
chánh định theo giáo pháp phải tư duy, sự tác ý đó nên
gọi là gì? Thiện nam tử, đó chưa phải là tác ý về quán,
mà là tác ý thích ứng sự thắng giải tùy thuận với quán.
Nói Đồng Dị
Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ với quán nên
nói có khác nhau hay nên nói không khác nhau? Đức Thế tôn
dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nên nói không phải
có khác nhau, cũng không phải không khác nhau. Tại sao không
phải có khác nhau, vì (chỉ) lấy cái tâm đối tượng của
quán mà làm đối tượng của nó; tại sao không phải không
khác nhau, vì ấn tượng có phân biệt (của quán) không phải
là ấn tượng của nó.
Nói Duy Thức Của
Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ấn tượng chánh
định của quán cùng với tâm thức chánh định ấy nên nói
có khác hay nên nói không khác? Đức Thế tôn dạy đại bồ
tát Từ thị: Thiện nam tử, nên nói không khác. Bạch đức
Thế tôn, vì sao không khác? Thiện nam tử, vì ấn tượng ấy
chỉ là tâm thức. Thiện nam tử, Như lai nói cái gì thức
biết thì cái ấy chỉ do thức hiện. Bạch đức Thế tôn,
nếu ấn tượng tâm thức không khác tâm thức thì làm sao
tâm thức trở lại nhận thấy tâm thức? Thiện nam tử, ở
đây không có chút pháp nào nhận thấy chút pháp nào, nhưng
chính tâm thức khi sinh ra thế nào thì hình thành đối tượng
thế ấy. Như có kẻ nhờ mặt gương trong sáng rồi chính
thân mình làm duyên tố mà thấy thân mình, nhưng bảo mình
thấy hình ảnh, lại bảo hình ảnh đó biệt lập với thân
mình; tương tự như vậy, khi tâm thức sinh ra thì thấy như
có ấn tượng chánh định biệt lập hình thành. Bạch đức
Thế tôn, như vậy thì chúng sinh ở trong đặc chất của mình
(chứ không phải ở trong chánh định) mà nhận thức sắc
thanh hương vị xúc pháp, ấn tượng ấy với nhận thức ấy
cũng không khác nhau chăng? Thiện nam tử, cũng không khác nhau;
nhưng kẻ ngu ngơ thì vì ảo giác thác loạn, không nhận thức
ấn tượng một cách đúng như sự thật của chúng chỉ là
tâm thức, nên sinh ra ngộ nhận.
Nói Đơn Song Của
Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì nên
nói là Bồ tát một chiều tu quán? Đức Thế tôn dạy đại
bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, ngang nơi sự liên tục tác
ý chỉ tư duy ấn tượng của tâm. Bạch đức Thế tôn, ngang
đâu thì nên nói là Bồ tát một chiều tu chỉ? Thiện nam
tử, ngang nơi sự liên tục tác ý chỉ tư duy tâm ấy liên
tục. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu thì nên nói là Bồ tát
chỉ quán hóa hợp cùng có? Thiện nam tử, ngang nơi sự chính
xác tư duy về tâm đồng nhất cảnh. Bạch đức Thế tôn,
ấn tượng của tâm là gì? Thiện nam tử, là ấn tượng có
phân biệt của chánh định mà quán chuyên chú vào. Bạch đức
Thế tôn, tâm ấy liên tục là gì? Thiện nam tử, là cái tâm
chuyên chú ấn tượng nói trên mà chỉ chuyên chú vào. Bạch
đức Thế tôn, tâm đồng nhất cảnh là gì? Thiện nam tử,
là thấu triệt rằng ấn tượng chánh định là duy thức,
hoặc thấu triệt như vậy rồi lại tư duy về chân như.
Nói Chủng Số
Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, quán có mấy thứ?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử,
đại khái quán có ba thứ, một là có tướng, hai là tầm
cầu, ba là tứ sát. Quán có tướng là gì, là sự quán thuần
tư duy ấn tượng có phân biệt của chánh định; quán tầm
cầu là gì, là sự quán nhờ tuệ nên tác ý tư duy để khéo
thấu hiểu đối với toàn bộ các pháp chưa khéo thấu hiểu;
quán tứ sát là gì, là sự quán nhờ tuệ nên tác ý tư duy
để khéo chứng ngộ và cực giải thoát đối với các pháp
đã khéo thấu hiểu. Bạch đức Thế tôn, chỉ có mấy thứ?
Thiện nam tử, do chính cái tâm liên tục theo quán nên chỉ
cũng có ba thứ; lại có tám thứ, đó là bốn tịnh lự và
bốn không định, mỗi thứ là một chỉ; lại có bốn thứ,
đó là bốn vô lượng từ bi hỷ xả, mỗi thứ là một chỉ.
Nói Y Và Bất
Y Pháp Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn
nói chỉ quán dựa vào pháp, lại nói chỉ quán không dựa
vào pháp, vậy thế nào là chỉ quán dựa vào pháp, thế nào
là chỉ quán không dựa vào pháp? Đức Thế tôn dạy đại
bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ tát tùy thuận cái
pháp đã tiếp nhận và tư duy, và chỉ quán đạt được bởi
nghĩa lý của pháp ấy thì gọi là chỉ quán dựa vào pháp;
nếu Bồ tát chưa có cái pháp đã tiếp nhận và tư duy, chỉ
dựa vào sự chỉ dạy của người khác, và chỉ quán đạt
được bởi nghĩa lý của sự chỉ dạy ấy, như quán thân
thể bất tịnh, các hành vô thường, các hành khổ não, các
pháp vô ngã, niết bàn vắng lặng, những loại chỉ quán như
vậy gọi là chỉ quán không dựa vào pháp. Dựa vào pháp mà
được chỉ quán thì Như lai qui định đó là Bồ tát tùy
pháp hành, là Bồ tát lợi căn; không dựa vào pháp mà được
chỉ quán thì Như lai qui định đó là Bồ tát tùy tín hành,
là Bồ tát độn căn.
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế
tôn nói chỉ quán vin vào pháp riêng biệt, lại nói chỉ quán
vin vào pháp tổng quát, vậy chỉ quán vin pháp riêng biệt
là thế nào, chỉ quán vin pháp tổng quát là thế nào? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, nếu Bồ
tát vin vào mỗi pháp khế kinh cho đến luận nghị, đúng như
pháp đã tiếp nhận và tư duy mà tu chỉ quán, thì gọi là
chỉ quán vin pháp riêng biệt; nếu Bồ tát vin vào các pháp
khế kinh cho đến luận nghị, tập hợp lại làm một viên
một cục một phần một khối, tác ý tư duy các pháp ấy
(bằng cách) tùy thuận chân như, xu hướng chân như, đi vào
chân như, tùy thuận bồ đề, tùy thuận niết bàn, tùy thuận
chuyển y, xu hướng các pháp này, đi vào các pháp này, từ
các pháp này thuyết ra vô lượng vô số thiện pháp, tư duy
như vậy mà tu chỉ quán thì gọi là chỉ quán vin pháp tổng
quát.
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế
tôn nói chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ, chỉ quán vin pháp
tổng quát lớn, chỉ quán vin pháp tổng quát vô lượng, vậy
thế nào là chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ, thế nào là
chỉ quán vin pháp tổng quát lớn, thế nào là chỉ quán vin
pháp tổng quát vô lượng? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát
Từ thị: Thiện nam tử, nếu vin vào mỗi khế kinh riêng biệt
cho đến mỗi luận nghị riêng biệt mà làm một viên một
khối để tác ý tư duy, thì nên biết như thế đó gọi là
chỉ quán vin pháp tổng quát nhỏ; nếu vin vào các khế kinh
cho đến các luận nghị đã tiếp nhận và tư duy mà làm một
viên một khối để tác ý tư duy, chứ không phải chỉ vin
vào mỗi giáo pháp riêng biệt, thì nên biết như thế đó
gọi là chỉ quán vin pháp tổng quát lớn; nếu vin vào vô
lượng giáo pháp của Như lai, (bằng cách) vin vào vô lượng
văn từ pháp nghĩa của giáo pháp ấy, vào vô lượng pháp
được soi tỏ bởi vô lượng tuệ của các giai đoạn liên
tiếp sau đó, mà làm một viên một khối để tác ý tư duy,
chứ không phải chỉ vin vào các pháp đã tiếp nhận và tư
duy, thì nên biết như thế đó gọi là chỉ quán vin pháp tổng
quát vô lượng.
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, Bồ tát ngang
đâu thì gọi là đạt được chỉ quán vin pháp tổng quát?
Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử,
ngang lúc có năm hiệu quả sau đây thì gọi là đạt được:
một là khi tư duy thì trong từng sát na đã tiêu dung chỗ dựa
của mọi thứ thô trọng, hai là bỏ phân biệt mà được
pháp lạc, ba là mở tỏ vô số ánh sáng của cái pháp không
phân biệt khắp trong mười phương quốc độ, bốn là đã
thường xuyên hiện ra cái trí không phân biệt do việc làm
đã thành mãn và đã thích ứng với phần thanh tịnh, năm
là những giai đoạn sau đó vẫn thể hiện những nhân tố
tinh tế hơn lên để làm cho pháp thân thành mãn.
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán vin
pháp tổng quát như trên thì từ đâu gọi là thông đạt và
từ đâu gọi là chứng đắc? Đức Thế tôn dạy đại bồ
tát Từ thị: Thiện nam tử, từ địa thứ nhất là Cực hỷ
thì gọi là thông đạt, từ địa thứ ba là Phát quang mới
gọi là chứng đắc. Thiện nam tử, các vị Bồ tát mới tu
học cũng tác ý học theo chỉ quán này, tuy chưa đáng tán
dương nhưng đừng nên nhác bỏ.
Lược Giải.-
Đoạn này, ngoài
1 đoạn nhỏ chính yếu, còn có 4 đoạn nhỏ tiếp phụ nói
thêm về chỉ quán dựa vào pháp: dựa vào pháp mà có pháp
riêng biệt có pháp tổng quát, pháp tổng quát mà có nhỏ
có lớn và có vô lượng, 5 hiệu quả của pháp tổng quát,
2 địa vị của pháp tổng quát.
Nói Có Và Không
Tầm Tứ Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán như vậy
tại sao gọi là chánh định có tầm có tứ, chánh định không
tầm chỉ tứ, chánh định không tầm không tứ? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, đối với
ấn tượng đã thủ đắc từ giáo pháp đã tầm tứ, những
chỉ quán có sự tiếp nhận quán sát rất thô thì gọi là
chánh định có tầm có tứ; đối với ấn tượng ấy, những
chỉ quán tuy không có sự tiếp nhận quán sát rất thô nhưng
có sự tiếp nhận quán sát của ký ức sáng tỏ rất nhỏ,
thì gọi là chánh định không tầm chỉ tứ; đối với ấn
tượng của tất cả giáo pháp, những chỉ quán mà sự tiếp
nhận quán sát không có mọi sự tác ý (89) , thì gọi là chánh
định không tầm không tứ. Lại nữa, Thiện nam tử, chỉ
quán có tầm cầu thì gọi là chánh định có tầm có tứ,
chỉ quán có tứ sát thì gọi là chánh định không tầm chỉ
tứ, chỉ quán chỉ vin pháp tổng quát thì gọi là chánh định
không tầm không tứ.
Nói Chỉ, Cử
Và Xả Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, đình chỉ là thế
nào? phấn chấn là thế nào? xả bỏ là thế nào? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, khi tâm quấy
động, hay khi phòng tâm quấy động, thì sự tác ý về cái
đáng chán, và sự tác ý về cái tâm ấy liên tục, gọi là
đình chỉ; khi tâm chìm đắm, hay khi phòng tâm chìm đắm,
thì sự tác ý về cái đáng vui, và sự tác ý về cái tâm
ấy, gọi là phấn chấn; hoặc chỉ có chỉ, hoặc chỉ có
quán, hoặc cả chỉ quán song hành, mà khi bị nhuốm bẩn vì
hai thứ tùy phiền não (là quấy động và chìm đắm như trên)
thì sự tác ý trong vô công dụng mà nhiệm vận chuyển, gọi
là xả bỏ.
Nói Sự Biết
Pháp Và Biết Nghĩa Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ tát
tu tập chỉ quán thì phải biết pháp và biết nghĩa, vậy
biết pháp là thế nào? biết nghĩa là thế nào?
Đức Thế tôn
dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, các vị Bồ tát
ấy do năm sự sau đây mà biết về pháp: một là biết tên,
hai là biết câu, ba là biết văn (90) , bốn là biết riêng,
năm là biết chung. Tên là thế nào, là sự giả thiết về
tự tánh của tất cả các pháp nhiễm tịnh. Câu là thế nào,
là sự qui tụ của tên, thành cấu trúc diễn tả về nghĩa
nhiễm hay tịnh của các pháp. Văn là thế nào, là chữ mà
tên và câu dựa vào. Biết riêng những thứ trên là thế nào,
là tác ý nhận thức mỗi thứ riêng ra. Biết chung những thứ
trên là thế nào, là tác ý nhận thức các thứ trên chung
lại. Tất cả những sự trên đây tổng lược nhất trí thì
gọi là biết về pháp, và biết về pháp như vậy thì gọi
là Bồ tát biết pháp.
Lược Giải.-
Đ12 này có 4 đoạn
nhỏ: nói về sự biết pháp, nói về sự biết nghĩa, nói
về cái trí biết pháp biết nghĩa, nói về sự trừ khử của
cái trí ấy. Trên đây là đoạn nhỏ thứ nhất, nói về sự
biết pháp.
Chính Văn.-
Thiện nam tử,
các vị Bồ tát ấy do mười sự sau đây mà biết về nghĩa:
một là biết tánh tận hữu, hai là biết tánh như hữu (91)
, ba là biết nghĩa năng thủ, bốn là biết nghĩa sở thủ,
năm là biết nghĩa dựng nên, sáu là biết nghĩa hưởng dụng,
bảy là biết nghĩa đảo ngược, tám là biết nghĩa không
ngược, chín là biết nghĩa tạp nhiễm, mười là biết nghĩa
thanh tịnh. (Một), tánh tận hữu là biên cương tất cả chủng
loại của các pháp nhiễm tịnh, biên cương ấy gọi là tánh
tận hữu, tức năm số về uẩn, sáu số về nội xứ, sáu
số về ngoại xứ, những pháp số đại loại như vậy. (Hai),
tánh như hữu là chân như nơi các pháp nhiễm tịnh, chân như
ấy gọi là tánh như hữu. Chân như ấy có bảy: một là chân
như nơi sự lưu chuyển, tức cái tánh không mở đầu không
chấm hết của các hành; hai là chân như nơi các tướng, tức
cái tánh nhân vô ngã và pháp vô ngã của các pháp; ba là chân
như nơi sự liễu biệt, tức cái tánh duy thức của các hành;
bốn là chân như nơi sự an lập, tức thánh đế về khổ
mà Như lai nói; năm là chân như nơi sự tà hành, tức thánh
đế về tập mà Như lai nói; sáu là chân như nơi sự thanh
tịnh, tức thánh đế về diệt mà Như lai nói; bảy là chân
như nơi sự chánh hành, tức thánh đế về đạo mà Như lai
nói. Nên biết trong đây do chân như nơi sự lưu chuyển, nơi
sự an lập và nơi sự tà hành nên tất cả chúng sinh rất
là bình đẳng; do chân như nơi các tướng và nơi sự liễu
biệt nên tất cả các pháp rất là bình đẳng; do chân như
nơi sự thanh tịnh nên Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề
và Vô thượng bồ đề rất là bình đẳng; do chân như nơi
sự chánh hành nên cái tuệ của chỉ quán siêu việt vin vào
pháp tổng quát, sau khi nghe giáo pháp, rất là bình đẳng.
(Ba), nghĩa năng thủ là năm sắc xứ ở trong (92) , là tâm
ý thức và các tâm sở. (Bốn), nghĩa sở thủ là sáu xứ
ở ngoài, và những nghĩa năng thủ cũng là nghĩa sở thủ.
(Năm), nghĩa dựng nên là giới thế giới (93) , trong giới
thế giới này có thể dựng nên giới chúng sinh, tức ruộng
đất một thôn, trăm, ngàn hay trăm ngàn ruộng đất thôn ấy;
hoặc một lục địa giới hạn bởi đại dương, trăm, ngàn
hay trăm ngàn lục địa ấy; hoặc một đại lục Thiệm bộ,
trăm, ngàn hay trăm ngàn đại lục ấy; hoặc một bốn đại
lục, trăm, ngàn hay trăm ngàn bốn đại lục ấy; hoặc một
thế giới ngàn nhỏ, trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn
nhỏ ấy; hoặc một thế giới ngàn vừa, trăm, ngàn hay trăm
ngàn thế giới ngàn vừa ấy; hoặc một thế giới ngàn lớn
(94) , trăm, ngàn hay trăm ngàn thế giới ngàn lớn ấy; hoặc
một ức, trăm, ngàn hay trăm ngàn ức thế giới ngàn lớn
ấy; hoặc một vô số, trăm, ngàn hay trăm ngàn vô số thế
giới ngàn lớn ấy; hoặc (tại một phương hướng), thế
giới ngàn lớn ấy nhiều đến vô số mà có cả trăm ngàn
lần, hay nhiều như số lượng vi trần; và ở khắp mười
phương hướng có vô lượng vô số những giới thế giới
như vậy. (Sáu), nghĩa hưởng dụng là đồ dùng của chúng
sinh thu thập (95) mà Như lai đã nói. (Bảy), nghĩa đảo ngược
là đối với những sự từ nghĩa năng thủ sắp đi trên đây
mà tưởng thác loạn tâm thác loạn và thấy thác loạn cho
vô thường là thường, tưởng thác loạn tâm thác loạn và
thấy thác loạn cho khổ là vui, cho bất tịnh là tịnh, cho
vô ngã là ngã. (Tám), nghĩa không ngược thì nên biết là
mâu thuẫn với những sự đảo ngược ở trên, có sức đối
trị những sự đảo ngược ấy. (Chín), nghĩa tạp nhiễm
là ba sự tạp nhiễm khắp cả ba cõi: một là hoặc tạp nhiễm,
hai là nghiệp tạp nhiễm, ba là sinh tạp nhiễm. (Mười) nghĩa
thanh tịnh là những pháp bồ đề phần có sức cởi mở sự
thắt buộc của ba sự tạp nhiễm nói trên. Mười sự như
trên đây, nên biết đã bao quát tất cả các nghĩa.
Thiện nam tử,
các vị Bồ tát ấy lại còn do biết năm sự sau đây nên
gọi là biết về nghĩa. Năm sự ấy là những gì, một là
sự biến tri, hai là nghĩa biến tri, ba là nhân biến tri, bốn
là quả biến tri, năm là biết sự ấy. (Một), sự biến tri
thì nên hiểu là tất cả pháp sở tri, tức các uẩn, các
nội xứ, các ngoại xứ, những sự như vậy. (Hai), nghĩa biến
tri là bao nhiêu phẩm loại khác nhau mà cần biết về sự
ở trên, tức hoặc thế tục đế với thắng nghĩa đế; hoặc
công đức với lầm lỗi; hoặc duyên tố với thì gian (96)
; hoặc sinh, trú và diệt; hoặc như bịnh tật, (như ung thối,
như trúng tên, như đau đớn); hoặc khổ, tập, diệt, đạo;
hoặc chân như, thật tế, pháp giới, và những danh hiệu cùng
loại (97) ; hoặc phong phú với khái quát (98) ; hoặc bốn cách
phán quyết là quyết định, phân tách, hỏi lại và lặng
bỏ (99) ; hoặc ẩn mật với minh bạch; những pháp như vậy
nên biết là nghĩa biến tri. (Ba), nhân biến tri là những pháp
bồ đề phần có sức thủ đắc hai loại biến tri ở trên,
tức bốn niệm trú, bốn chánh đoạn, và những pháp số cùng
loại. (Bốn), quả biến tri là các sa môn quả đã tạm diệt
tham sân si (99B) và vĩnh diệt tham sân si, cùng với những công
đức chứng sa môn quả mà Như lai đã nói, tức những công
đức cọng hữu hay đặc hữu mà bao gồm cả thế gian và
xuất thế của Thanh văn và của Như lai. (Năm), biết sự ấy
là chính những công đức chứng sa môn quả nói trên, các
trí giải thoát khai thị và tuyên dương phong phú cho người.
Năm sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa.
Thiện nam tử,
các vị Bồ tát ấy lại do biết bốn sự sau đây nên gọi
là biết về nghĩa. Bốn sự ấy là những gì, một là chấp
thọ, hai là lãnh nạp, ba là liễu biệt, bốn là nhiễm tịnh
(100) . Bốn sự như trên nên biết cũng bao quát tất cả các
nghĩa.
Thiện nam tử,
các vị Bồ tát ấy lại còn do biết ba sự sau đây nên gọi
là biết về nghĩa. Ba sự ấy là những gì, một là văn, hai
là nghĩa, ba là giới. Văn là danh thân cú thân và văn thân.
Nghĩa thì có mười: một là sự chân thật (101) , hai là sự
biến tri, ba là sự vĩnh đoạn, bốn là sự tác chứng, năm
là sự tu tập (102) , sáu là sự chi tiết của các sự nói
trên, bảy là sự tương thuộc của sở y và năng y, tám là
sự chướng ngại của sự biến tri cho đến sự tu tập, chín
là sự tùy thuận của sự biến tri cho đến sự tu tập, mười
là nhược điểm với ưu điểm của sự bất tri với sự
biến tri, cho đến sự bất tu với sự tu tập (103) . Giới
là năm giới: một là giới thế giới (104) , hai là giới chúng
sinh, ba là giới các pháp, bốn là giới người được thuần
hóa, năm là giới phương pháp thuần hóa. Năm sự như trên
nên biết cũng bao quát tất cả các nghĩa.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ hai, nói về sự biết nghĩa.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, cái tuệ do
nghe mà có và biết nghĩa của cái nó nghe, cái tuệ do nghĩ
mà có và biết nghĩa của cái nó nghĩ, cái tuệ do tu chỉ
quán mà có và biết nghĩa của cái nó tu, ba cái tuệ như vậy
khác nhau thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị:
Thiện nam tử, cái tuệ do nghe mà có thì dựa vào văn từ,
chỉ như lời nói, chưa khéo biết ý nghĩa, (đồng loại với
cái nghĩa đã biết là ấn tượng chánh định) chưa hiện
trước mắt, tùy thuận với giải thoát, nhưng chưa lãnh nhận
được sự giải thoát thành đạt. Cái tuệ do nghĩ mà có
thì cũng dựa vào văn từ, nhưng không phải chỉ như lời
nói, lại khéo biết ý nghĩa, (đồng loại với cái nghĩa đã
biết là ấn tượng chánh định) chưa hiện trước mắt, nhưng
càng thuận với giải thoát, dầu cũng chưa lãnh nhận được
sự giải thoát thành đạt. Còn cái tuệ do tu mà có của Bồ
tát thì cũng dựa vào văn từ mà cũng không dựa vào văn từ,
cũng như lời nói mà cũng không như lời nói, khéo biết ý
nghĩa, đồng loại với cái nghĩa đã biết là ấn tướng
chánh định đã hiện trước mắt, cực thuận với giải thoát,
đã lãnh nhận được sự giải thoát thành đạt. Đó là sự
biết nghĩa mà khác nhau của ba tuệ.
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ
tát tu chỉ quán thì phải biết pháp biết nghĩa, vậy biết
là thế nào? thấy là thế nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ
tát Từ thị: Thiện nam tử, bằng nhiều mặt, Như lai đã
nói sự khác biệt của biết và thấy. Như lai nay nói khái
lược cho ông về sự ấy: cái tuệ tinh tế vin vào pháp tổng
quát mà tu chỉ quán thì gọi là biết, cái tuệ tinh tế vin
vào pháp riêng biệt mà tu chỉ quán thì gọi là thấy.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ ba, nói về cái trí biết pháp biết nghĩa.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, các vị Bồ
tát tu chỉ quán là do tác ý nào? trừ khử tướng gì? và
làm sao trừ khử? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị:
Thiện nam tự, do tác ý chân như, và trừ khử pháp tướng
nghĩa tướng. ẫ Đối với cái danh của pháp nghĩa, và tự
tánh của cái danh ấy, khi vô đắc (105) thì cũng không thấy
cái tướng của cái danh ấy dựa vào: trừ khử như vậy đó;
như đối với danh thì đối với câu, đối với văn và đối
với nghĩa nên biết cũng cũng vậy; sau hết đối với cái
giới của pháp nghĩa, và tự tánh của cái giới ấy, khi vô
đắc thì cũng không thấy cái tướng của cái giới ấy dựa
vào: trừ khử như vậy đó. Bạch đức Thế tôn, thấu triệt
chân như thì tướng chân như ấy cũng bị trừ khử chăng?
Thiện nam tử, thấu triệt chân như hoàn toàn vô tướng và
vô đắc, vậy trừ khử cái gì. Như lai nói rằng khi thấu
triệt chân như thì trừ khử được pháp tướng và nghĩa
tướng, chứ không phải chân như được thấu triệt đó cái
khác có thể trừ khử. Bạch đức Thế tôn, như đức Thế
tôn nói đồ chứa nước dơ bẩn, bức gương không sáng sạch,
suối hồ nước xao động, thì không thể nhìn thấy hình ảnh
mặt mình, nhìn thấy thì không phải những thứ trên đây;
tương tự như vậy, cái tâm mà không tu thì không thể chính
xác nhìn thấy chân như, khéo tu cái tâm thì có thể nhìn thấy.
Lời này nói về quán trí nào và nói về chân như nào? Thiện
nam tử, lời này nói về ba quán trí là quán trí do nghe mà
có, quán trí do nghĩ mà có và quán trí do tu mà có, và căn
cứ chân như nơi sự liễu biệt (106) mà nói.
Bạch đức Thế
tôn, để trừ khử các tướng nên các vị Bồ tát biết pháp
tướng nghĩa tướng phải nỗ lực tu tập phương cách trừ
khử, vậy có bao nhiêu cái tướng khó trừ khử? và cái gì
trừ khử được? Thiện nam tử, cái tướng có mười thứ,
và cái Không có thể trừ khử. Mười thứ ấy là những gì
? Một là biết pháp biết nghĩa thì có cái tướng văn từ,
cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi các pháp không.
Hai là biết chân như nơi sự an lập thì có cái tướng sinh
trụ diệt và cái tướng liên tục chuyển biến, hai cái tướng
ấy được chính yếu trừ khử bởi tướng không (107) và
vô tiền hậu không (108) . Ba là biết nghĩa năng thủ thì có
cái tướng luyến tiếc thân thể và cái tướng ngã mạn,
hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi nội không
và vô sở đắc không. Bốn là biết nghĩa sở thủ thì có
cái tướng luyến tiếc tài sản, cái tướng ấy được chính
yếu trừ khử bởi ngoại không. Năm là biết nghĩa hưởng
dụng, trong đó có trai gái phục dịch và đồ dùng thích hợp,
thì có cái tướng trong thấy thích thú và cái tướng ngoài
thấy tốt đẹp, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ
khử bởi nội ngoại không và bản tánh không. Sáu là biết
nghĩa dựng nên thì có cái tướng thế giới bao la, cái tướng
ấy được chính yếu trừ khử bởi đại không. Bảy là biết
không hình sắc thì có cái tướng bên trong vắng lặng giải
thoát, cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi hữu
vi không. Tám là biết chân như nơi các tướng thì có các
tướng nhân vô ngã, tướng pháp vô ngã, tướng duy thức và
tướng thắng nghĩa, bốn cái tướng ấy được chính yếu
trừ khử bởi cứu cánh không, vô tánh không, vô tánh tánh
không và thắng nghĩa không. Chín là biết chân như nơi sự
thanh tịnh thì có cái tướng vô vi và cái tướng không biến
dịch, hai cái tướng ấy được chính yếu trừ khử bởi
vô vi không và vô biến dị không. Mười là chính sự tác
ý tư duy về cái không để đối trị các cái tướng nói
trên thì có cái tướng không, cái tướng ấy được chính
yếu trừ khử bởi không không. Bạch đức Thế tôn, như vậy
khi trừ khử mười cái tướng là trừ khử cái gì? và giải
thoát cái gì? Thiện nam tử, trừ khử cái tướng của ấn
tượng chánh định, và giải thoát sự tạp nhiễm thắt buộc
(109) , rồi sự trừ khử ấy cũng không còn. Nhưng ông nên
biết Như lai căn cứ phần đặc thù mà nói cái không này
trừ khử cái tướng kia, chứ không phải mỗi cái không không
trừ khử được mọi cái tướng. Thí dụ vô minh không phải
không sinh ra mọi thứ tạp nhiễm từ hành cho đến lão tử,
nhưng căn cứ phần đặc thù nên nói vô minh sinh ra hành, vì
nó là duyên tố gần nhất của hành. Đạo lý ở đây ông
nên biết cũng là như vậy. Bạch đức Thế tôn, ở đây cái
không nào là cái không tổng quát? Bồ tát hiểu được cái
không ấy thì không có những sự mất mát hư hỏng, bỏ được
sự tăng thượng mạn đối với cái không. Đức Thế tôn,
vào lúc ấy, ca tụng đại bồ tát Từ thị, rằng tốt lắm,
Thiện nam tử, tốt lắm; ông có thể hỏi Như lai cái nghĩa
sâu như vậy để làm cho các vị Bồ tát không bị mất bị
hỏng về cái không. Các vị Bồ tát mất hỏng về cái không
thì mất hỏng toàn thể Đại thừa. Do vậy, ông hãy nghe cho
thật kyլ Như lai nói cho ông về cái không tổng quát. Ấy
là, nơi y tha khởi tánh và viên thành thật tánh, mọi biến
kế chấp tánh dầu thuộc loại tạp nhiễm hay thuộc loại
thanh tịnh đều rốt ráo rời bỏ, hoàn toàn vô đắc, như
vậy gọi là cái không tổng quát của Đại thừa.
Lược Giải.-
Đây là đoạn
nhỏ thứ tư, nói về sự trừ khử của cái trí biết pháp
biết nghĩa.
Nói Sự Bao Quát
Các Định Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế
này bao gồm được mấy thứ chánh định siêu việt? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, vô lượng
chánh định siêu việt của Thanh văn của Bồ tát và của
Như lai mà Như lai đã nói, thì ông nên biết tất cả đều
bao gồm trong chỉ quán ở đây.
Nói Nhân Quả
Tác Dụng Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Bạch đức Thế
tôn, chỉ quán như thế này lấy gì làm nhân tố? Thiện nam
tử, nhân tố của chỉ quán như thế này là giới thanh tịnh,
là chánh kiến được có bởi nghe thanh tịnh và nghĩ thanh
tịnh. Bạch đức Thế tôn, chỉ quán như thế này lấy gì
làm thành quả? Thiện nam tử, thành quả của chỉ quán như
thế này là tâm thanh tịnh và tuệ thanh tịnh, còn nữa, hết
thảy thiện pháp thuộc loại thế gian và thuộc loại xuất
thế của Thanh văn và của Như lai, nên biết toàn là thành
quả của chỉ quán như thế này tạo ra. Bạch đức Thế tôn,
chỉ quán như thế này làm được công việc gì? Thiện nam
tử, làm được công việc giải thoát tướng phược và giải
thoát trọng phược.
Nói Chướng Ngại
Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Bạch đức Thế
tôn, trong năm thứ ràng buộc mà đức Thế tôn nói, mấy thứ
là sự cản trở của chỉ? mấy thứ là sự cản trở của
quán? mấy thứ là sự cản trở của cả hai? Thiện nam tử,
luyến tiếc thân thể và luyến tiếc tài sản là những sự
cản trở của chỉ, không thích thánh giáo là sự cản trở
của quán, thích ở xen lẫn và được ít đã đủ (110) là
những sự cản trở của cả hai: vì sự thứ nhất mà việc
tu không làm được, vì sự thứ hai mà việc tu không trọn
được.
Bạch đức Thế
tôn, trong năm thứ ngăn che (111) , mấy thứ là sự cản trở
của chỉ? mấy thứ là sự cản trở của quán? mấy thứ
là sự cản trở của cả hai? Thiện nam tử, trạo cử ố
tác là sự cản trở của chỉ, hôn trầm thụy miên và nghi
pháp là những sự cản trở của quán, tham dục và sân nhuế
là những sự cản trở của cả hai. Bạch đức Thế tôn,
ngang đâu thì gọi là được trong sáng đầy đủ về chỉ?
Thiện nam tử, cho đến lúc bao nhiêu hôn trầm thụy miên được
chính xác và khéo léo loại trừ thì ngang đó gọi là được
trong sáng đầy đủ về chỉ. Bạch đức Thế tôn, ngang đâu
thì gọi là được trong sáng đầy đủ về quán? Thiện nam
tử, cho đến lúc bao nhiêu trạo cử ố tác được chính xác
và khéo léo loại trừ thì ngang đó gọi là được trong sáng
đầy đủ về quán.
Bạch đức Thế
tôn, Bồ tát khi chỉ quán đã hiện ra thì phải biết có mấy
thứ làm cho tâm xao động? Thiện nam tử, phải biết có năm
thứ: tác ý, ngoại tâm, nội tâm, cảnh tướng, thô trọng.
Một, nếu Bồ tát rời tác ý hợp với Đại thừa mà rơi
vào những tác ý hợp với Thanh văn Độc giác thì gọi là
tác ý xao động. Hai, nếu bao nhiêu tầm tư đều xuôi theo
phiền não khi đối trước đa dạng của năm thứ dục lạc
tuyệt hảo, nếu buông thả tâm trí ra chảy tràn vào ngoại
cảnh, thì gọi là ngoại tâm rối loạn. Ba, nếu vì hôn trầm
và thụy miên, vì trầm một (112) , vì đam mê về định (113)
, vì sự nhuốm bẩn của một tùy phiền não nào đó chướng
ngại cho định (114) , thì gọi là nội tâm xao động. Bốn,
nếu đối với cảnh tướng ngoài định mà nghĩ là cảnh
tướng của định (115) bên trong thì gọi là cảnh tướng
xao động. Năm, nếu những cảm giác do tác ý sinh ra mà cho
là do cái thân thô trọng nên chấp tự ngã, nổi kiêu mạn,
thì gọi là thô trọng xao động.
Bạch đức Thế
tôn, từ Bồ tát địa đầu tiên cho đến Như lai địa, chỉ
quán như thế này đối trị được những sự chướng ngại
nào? Thiện nam tử, chỉ quán như thế này trong Bồ tát địa
đầu tiên thì đối trị được sự chướng ngại vì hoặc
nghiệp sinh tạp nhiễm của ác đạo, trong Bồ tát địa thứ
hai thì đối trị được sự chướng ngại vì hiện hành của
sự lầm lỡ vị phạm rất nhỏ, trong Bồ tát địa thứ ba
thì đối trị được sự chướng ngại vì tham lam của dục,
trong Bồ tát địa thứ tư thì đối trị được sự chướng
ngại vì định ái và pháp ái, trong Bồ tát địa thứ năm
thì đối trị được sự chướng ngại vì một chiều chống
sinh tử hướng niết bàn, trong Bồ tát địa thứ sáu thì
đối trị được sự chướng ngại vì hiện hành nhiều của
thô tướng, trong Bồ tát địa thứ bảy thì đối trị được
sự chướng ngại vì hiện hành của tế tướng, trong Bồ
tát địa thứ tám thì đối trị được sự chướng ngại
vì phải da công dụng đối với vô tướng và không tự tại
đối với hữu tướng, trong Bồ tát địa thứ chín thì đối
trị được sự chướng ngại vì không tự tại đối với
ngôn từ khéo léo về mọi chủng loại, trong Bồ tát địa
thứ mười thì đối trị được sự chướng ngại vì không
chứng đắc pháp thân viên mãn. Và chỉ quán như thế này,
trong Như lai địa thì đối trị được phiền não chướng
và sở tri chướng cực vi tế; và tối cực vi tế, vì vĩnh
viễn hại được hai chướng như vậy nên chứng được một
cách cứu cánh cái trí thấy biết hoàn toàn, không còn vướng
mắc không còn chướng ngại, lại do đối tượng sở tác
thành tựu (116) (của cái trí nói trên) nên lập ra pháp thân
tối cực thanh tịnh.
Nói Sự Chứng
Đắc Bồ Đề Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế Tôn, Bồ tát do nỗ lực
tu hành chỉ quán mà chứng đắc vô thượng bồ đề là thế
nào? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam
tử, nếu Bồ tát đã được chỉ quán bằng cách căn cứ
bảy chân như, đúng như cái pháp đã nghe và đã nghĩ, do tâm
trí của chánh định siêu việt mà bên trong tự chánh tư duy
về tánh chân như đã khéo thẩm định khéo tư lượng và
khéo thiết lập, thì vì chánh tư duy chân như nên đối với
sự hiện hành của tế tướng tâm trí còn bỏ được, huống
chi đối với sự hiện hành của thô tướng. Tế tướng là
ấn tượng chấp thọ, lãnh nạp, liễu biệt và nhiễm tịnh
(117) , là ấn tượng pháp trong, pháp ngoài và trong ngoài (118)
, là ấn tượng cho rằng mình làm mọi sự lợi ích chúng
sinh, là ấn tượng chánh trí, chân như, là ấn tượng khổ
tập diệt đạo, là ấn tượng hữu vi, vô vi, là ấn tượng
hữu thường, vô thường, là ấn tượng khổ có biến dị,
khổ không biến dị, là ấn tượng hữu vi đa dạng, hữu
vi đồng nhất, là ấn tượng tất cả được có bởi biết
tất cả là tất cả (119) , là ấn tượng nhân vô ngã, pháp
vô ngã, mọi ấn tượng như vậy tâm trí Bồ tát loại bỏ
được cả. Bồ tát ở nhiều trong sự tu hành như thế này
nên lúc nào cũng khéo sửa trị tâm trí của mình trong mọi
sự ràng buộc, ngăn che và xao động. Từ đó về sau, đối
với bảy chân như có bảy cái trí thông suốt, tự chứng
bên trong, được riêng biệt sinh ra (120) , và gọi là Kiến
đạo vị. Do được như vậy nên gọi là vị nhập vào chánh
tánh ly sanh (121) của Bồ tát, vị sinh vào nhà Như lai, vị
chứng đắc Bồ tát địa đầu tiên, vị hưởng dụng mọi
thành quả siêu việt của Bồ tát địa này. Bồ tát như vậy,
trước đây được chỉ quán bằng cách được đối tượng
có phân biệt và đối tượng không phân biệt, nay được
Kiến đạo vị là được thêm đối tượng biên tế các pháp
(121B). Rồi các giai đoạn liên tiếp về sau, trong tất cả
Bồ tát địa còn lại, thì tiến tu Tu đạo vị, bằng cách
tác ý tư duy cả ba đối tượng nói trên. Tựa như có kẻ
lấy chốt nhỏ đẩy chốt to ra, vị Bồ tát này, với cách
lấy chốt tháo chốt mà trừ khử mọi ấn tượng có từ
bên trong, nên bao nhiêu cái tướng thuộc loại tạp nhiễm
đều trừ khử cả, và tướng phược được trừ khử nên
trọng phược cũng trừ khử. Vì vĩnh viễn hại được tướng
phược và trọng phược nên tuần tự trong các Bồ tát địa
về sau, vị Bồ tát này y như cách luyện vàng mà luyện tâm
mình, cho đến chứng được vô thượng bồ đề, nghĩa là
chứng được đối tượng sở tác thành tựu (122) . Thiện
nam tử, như thế đó gọi là Bồ tát từ bên trong tu hành
chính xác về chỉ quán nên chứng được vô thượng bồ đề.
Nói Sự Dẫn Ra
Uy Đức Quản Đại Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như thế nào là
Bồ tát tu hành (chỉ quán) dẫn ra uy đức cao rộng của Bồ
tát? Đức Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam
tử, Bồ tát khéo biết sáu sự sau đây thì có thể dẫn ra
uy đức cao rộng của Bồ tát: khéo biết tâm phát sinh, khéo
biết tâm trú ở, khéo biết tâm thoát ra, khéo biết tâm thêm
lên, khéo biết tâm bớt đi, khéo biết các phương tiện. Một,
khéo biết tâm phát sinh là chính xác biết mười sáu tâm phát
sinh khác nhau, đó là thứ nhất, sự phát sinh của cái thức
mà hành tướng năng duyên khó biết, liên tục chấp thọ sắc
căn và liên tục chấp trì thế giới, đó là a đà na thức;
thứ hai, sự phát sinh của cái thức mà hành tướng đa dạng
vin theo đối cảnh đa dạng, đó là phân biệt ý thức nhận
thức một lúc tất cả đối cảnh sắc thanh hương vị xúc
và cảm nhận một lúc tất cả ấn tượng của giác quan ở
trong và đối cảnh ở ngoài, đó là phân biệt ý thức trong
một thoáng mà nhập nhiều chánh định, thấy nhiều cõi Phật,
thấy nhiều đức Phật; thứ ba, sự phát sinh của cái thức
mà đối cảnh nhỏ hẹp, đó là thức hệ thuộc Dục giới;
thứ tư, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh rộng lớn,
đó thức hệ thuộc Sắc giới; thứ năm, sự phát sinh của
cái thức mà đối cảnh vô lượng, đó là thức hệ thuộc
Không vô biên xứ và Thức vô biên xứ; thứ sáu, sự phát
sinh của cái thức mà đối cảnh vi tế, đó là thức hệ
thuộc Vô sở hữu xứ; thứ bảy, sự phát sinh của cái thức
mà đối cảnh tận biên, đó là thức hệ thuộc Phi phi tưởng
xứ; thứ tám, sự phát sinh của cái thức mà đối cảnh vô
tướng, đó là thức siêu thoát thế gian và thức vin theo niết
bàn; thứ chín, sự phát sinh của cái thức đi đôi với khổ
thọ, đó là thức địa ngục; thứ mười, sự phát sinh của
cái thức đi đôi với tạp thọ, đó là thức Dục giới;
mười một, sự phát sinh của cái thức đi đôi với hỷ thọ,
đó là thức Sơ thiền và Nhị thiền; mười hai, sự phát
sinh của cái thức đi đôi với lạc thọ, đó là thức Tam
thiền; mười ba, sự phát sinh của cái thức đi đôi với
xả thọ, đó là thức Tứ thiền cho đến Phi phi tưởng xứ;
mười bốn, sự phát sinh của cái thức đi đôi với các pháp
nhiễm, đó là thức thích ứng với mọi phiền não và tùy
phiền não; mười lăm, sự phát sinh của cái thức đi đôi
với các pháp lành, đó là thức thích ứng với tâm sở thiện;
mười sáu, sự phát sinh của cái thức đi đôi với pháp vô
ký, đó là thức không thích ứng cả hai loại tâm sở nói
trên. Hai, khéo biết tâm trú ở là biết chính xác chân như
nơi sự liễu biệt (123) . Ba, khéo biết tâm thoát ra là biết
chính xác rằng phải thoát khỏi hai thứ tướng phược và
trọng phược, và đó là khéo biết rằng phải làm cho tâm
mình thoát ra hai thứ như vậy (124) . Bốn, khéo biết tâm thêm
lên là biết chính xác về cái tâm trí đối trị được tướng
phược và trọng phược khi nó lớn thêm khi nó dồn lại,
(những gì tùy thuộc nó) cũng được lớn thêm cũng được
dồn lại. Năm, khéo biết tâm bớt đi là biết chính xác về
cái bị đối trị, tức cái tâm trí bị bẩn vì tướng phược
và trọng phược khi nó lui lại khi nó bớt đi, (những gì
tùy thuộc nó) cũng bị lui lại cũng bị bớt đi. Sáu, khéo
biết các phương tiện là biết chính xác về tám giải thoát
tám thắng xứ và mười biến xứ, về cách tu tập và về
sự trừ khử (của các pháp này). Thiện nam tử, Bồ tát nào
khéo biết như vậy thì uy đức cao rộng của Bồ tát hoặc
đã được dẫn ra, hoặc sẽ được dẫn ra, hoặc đang được
dẫn ra.
Lược Giải.-
Ở đây cho thấy
uy đức của Tâm cao rộng biết bao. Biết uy đức ấy mà tu
tập để phục hồi và vận dụng thì thế chính là uy đức
Bồ tát được dẫn ra đó.
Nói Nhập Vô Dư
Y Diệt Các Thọ Của Chỉ Quán
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Từ thị thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như đức Thế tôn
nói trong niết bàn hoàn toàn (125) thì hết thảy cảm giác
(126) vĩnh viễn diệt hết, không còn thừa sót, vậy những
cảm giác nào bị vĩnh viễn diệt hết ở đây? Đức Thế
tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, lấy cốt yếu
mà nói thì ở đây có hai loại cảm giác vĩnh viễn diệt
hết, không còn thừa sót, đó là một, cảm giác xuất từ
giác quan, và hai, cảm giác xuất từ đối cảnh (127) . Cảm
giác xuất từ giác quan lại có bốn loại: thứ nhất là cảm
giác dựa vào giác quan có sắc chất, thứ hai là cảm giác
dựa vào giác quan không sắc chất, thứ ba là cảm giác của
kết quả đã hoàn thành, thứ tư là cảm giác của kết quả
chưa hoàn thành ẫ kết quả đã hoàn thành là cảm giác hưởng
chịu trong hiện tại, kết quả chưa hoàn thành là cảm giác
làm nhân cho vị lai (128) . Cảm giác xuất từ đối cảnh cũng
có bốn loại: thứ nhất là cảm giác do thế giới đang sống
(129) , thứ hai là cảm giác do đồ dùng để sống, thứ ba
là cảm giác do hưởng dụng hai loại trên, thứ tư là các
giác do luyến tiếc hai loại trên. Trong niết bàn chưa toàn
thì đã diệt hết tất cả cảm giác của kết quả chưa hoàn
thành, còn lại là cảm giác phát sinh từ tuệ giác đối trị,
là cảm giác mà thánh giả và phàm phu đều có, là cảm giác
của kết quả đã hoàn thành; lại nữa, (trong niết bàn chưa
toàn) cũng diệt hết cả hai loại cảm giác (của kết quả
là đã hoàn thành và chưa hoàn thành), còn lại chỉ có cảm
giác phát sinh từ tuệ giác đối trị. Còn niết bàn hoàn
toàn mà nhập vào thì lúc đó cái cảm giác phát sinh từ tuệ
giác đối trị cũng không còn. Do vậy nên Như lai nói rằng
trong niết bàn hoàn toàn, hết thảy cảm giác đều vĩnh viễn
diệt cả, không còn thừa sót.
Lược Giải.-
Rõ ràng đoạn
này nói về niết bàn một cách cho giống niết bàn của La
hán, chứ chưa phải nói về đại niết bàn của Phật. Còn
cảm giác thì coi lại phẩm một và coi tới phẩm tám sẽ
thấy cảm giác của Phật là thế nào, ấy là chưa kể cảm
giác vì chúng sinh mà có.
Kết Thúc Pháp
Thoại Chỉ Quán
Chính Văn.-
Lúc ấy đức
Thế tôn dạy như vậy rồi lại nói với đại bồ tát Từ
thị: Tốt lắm, Thiện nam tử, hôm nay ông khéo căn cứ pháp
du dà tinh tế, cùng cực trong sáng và hoàn toàn đầy đủ
mà xin hỏi Như lai. Đối với pháp du dà, vốn ông đã được
sự khéo léo hiểu biết một cách quyết định và tột bậc.
Như lai cũng đã nói cho ông về pháp du dà tinh tế, cùng cực
trong sáng và hoàn toàn đầy đủ. Trong quá khứ và trong vị
lai, bao nhiêu bậc Chánh biến giác đã nói và sẽ nói thì
cũng toàn là nói như vậy. Các thiện nam và thiện nữ nên
dựa vào pháp thoại này, dũng mãnh tinh tiến mà chính xác
tu học.
Đức Thế tôn
muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những lời chỉnh
cú sau đây.
-
Đối với du dà
-
giáo pháp lập ra
(130) ,
-
ai sống buông thả
-
mất đại niết
bàn;
-
dựa vào du dà
-
giáo pháp lập ra,
-
chính xác tu tập
-
được đại bồ
đề.
-
Thấy mà thủ đắc,
-
khó mong giải thoát!
-
cho cái thấy ấy
-
là đã được Pháp,
-
kẻ ấy rời xa
-
khỏi pháp du dà
-
như là mặt đất
-
cách xa không gian.
-
Lợi ích chúng sinh
-
một cách bền bỉ
-
mà không nghĩ rằng
-
mình làm như vậy:
-
lĩnh hội như vậy
-
càng làm lợi người.
-
Ai người có trí
-
làm hết kiếp lượng
(131)
-
thì được cái mừng
-
cao cả trong sáng.
-
Ai vì dục vọng
-
mà thuyết chánh
pháp,
-
thì người như vậy
-
phải được gọi
là
-
đã bỏ dục vọng
-
lại theo dục vọng!
-
Ngu si như vậy
-
mà được Pháp này
-
thì như một kẻ
-
được ngọc vô
giá
-
mà đi lang thang
-
làm kẻ ăn mày!
-
Cái lối luận bàn
-
vô ích ồn náo
-
thì phải bỏ đi
-
để mà nổi dậy
-
hạnh nguyện tinh
tiến
-
vào bậc thượng
thừa:
-
vì để hóa độ
-
cả trời và người,
-
hãy siêng tu học
-
pháp du dà này!
Bấy giờ đại bồ
tát Từ thị lại thưa Phật: bạch đức Thế tôn, trong toàn
bộ pháp thoại Giải thâm mật, pháp thoại này nên mệnh danh
là gì? chúng con phải kính cẩn ghi nhớ như thế nào? Đức
Thế tôn dạy đại bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, pháp thoại
này tên là Nghĩa lý hoàn hảo về du dà. Ông hãy kính cẩn
ghi nhớ theo cái tên như vậy.
Khi đức Thế
tôn nói pháp thoại Nghĩa lý hoàn hảo về du dà thì trong đại
hội có sáu trăm ngàn chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề;
ba trăm ngàn Thanh văn lánh xa bụi bặm, tách rời dơ bẩn,
đối với các pháp thì được mắt pháp trong sáng; một trăm
năm mươi ngàn Thanh văn hết hẳn mọi sự sơ hở, tâm được
giải thoát; bảy mươi lăm ngàn Bồ tát được tác ý về
du dà rộng lớn.
