Phẩm bốn: Tự Tánh
(60)
Lúc bấy giờ đại
bồ tát Đức bản thưa Phật: bạch đức Thế tôn, như Ngài
nói Bồ tát khéo biết tánh của các pháp, vậy Bồ tát khéo
biết tánh của các pháp là ngang đâu mới được gọi là
Bồ tát khéo biết tánh của các pháp? và ngang đâu mới được
Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tánh
của các pháp? Đại bồ tát Đức bản bạch hỏi như vậy
rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt lắm, Đức bản, ông có
thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như vậy. Vậy là ông muốn
lợi ích yên vui cho vô lượng chúng sinh. Ông thương tưởng
cả thế giới loài người, và tám bộ loại khác, muốn làm
cho họ được lợi thật, được yên vui, nên phát ra câu hỏi
vừa rồi. Ông hãy nghe kyծ Như lai sẽ nói cho ông về tánh
của các pháp.
Lược Giải.-
Phẩm này nói
về 3 tánh, cho thấy Phật nói có thì cái có ấy là thế nào.
Chính Văn.-
Đức bản, tánh
của các pháp đại lược có ba mặt: một là biến kế chấp
tánh, hai là y tha khởi tánh, ba là viên thành thật tánh. Biến
kế chấp tánh là thế nào, là tự tánh và sai biệt (60B) của
các pháp, được giả thiết bởi danh từ, cho đến làm cho
theo đó mà phát sinh ngôn ngữ. Y tha khởi tánh là thế nào,
là đặc tính duyên sinh của các pháp, cái này có thì cái
kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, vô minh duyên sinh hành,
cho đến tập hợp cả đống đau khổ thuần nhất và lớn
lao. Viên thành thật tánh là thế nào, là chân như nhất quán
của các pháp, chân như mà Bồ tát phải do các duyên tố tinh
tiến dũng mãnh, tác ý đúng lý và tư duy không ngược mới
thông đạt, bằng vào sự thông đạt này mà tuần tự tu tập,
cho đến vô thượng chánh biến giác mới chứng ngộ viên
mãn.
Lược Giải.-
Đoạn này lược
giải 3 tự tánh.
Chính Văn.-
Đức bản, như
người bị bịnh màng mắt, cái màng mắt ấy biến kế chấp
tánh cũng vậy. Như người bị bịnh màng mắt thấy những
ảo ảnh tóc lông ong ruồi lá diếp giây sắn hay xanh vàng
đỏ trắng, những ảo tượng ấy y tha khởi tánh cũng vậy.
Như người mắt đã trong sáng, hết hẳn màng mắt, bản tính
con mắt trong sáng nhìn thấy cảnh vật không thác loạn, cảnh
vật không thác loạn ấy viên thành thật tánh cũng vậy.
Lại tựa như
ngọc bạch châu trong suốt, nếu nhuộm màu xanh (61) thì thấy
như ngọc đế thanh, do ngộ nhận là ngọc đế thanh mà làm
cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu đỏ thì thấy
như ngọc hổ phách, do ngộ nhận là ngọc hổ phách mà làm
cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu lục thì thấy
như ngọc sát sắc, do ngộ nhận là ngọc sát sắc mà làm
cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu vàng thì thấy
như hoàng kim, do ngộ nhận là hoàng kim mà làm cho người lầm
lẫn thác loạn. Tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt
mà có màu sắc, nơi y tha khởi tánh mà có tập khí ngôn từ
của biến kế chấp tánh thì cũng như vậy; tương tự nơi
ngọc bạch châu trong suốt mà có những ngộ nhận đế thanh
hổ phách sát sắc hoàng kim, nơi y tha khởi tánh mà có biến
kế chấp tánh thì cũng như vậy; tương tự ngọc bạch châu
trong suốt, y tha khởi tánh thì cũng như vậy; tương tự nơi
ngọc bạch châu trong suốt, đế thanh hổ phách sát sắc hoàng
kim luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không đặc tính,
nơi y tha khởi tánh, cái viên thành thật tánh mà biến kế
chấp tánh luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không
đặc tính thì cũng như vậy (61B) .
Lược Giải.-
Đoạn này nói
về 3 tánh bằng 2 ví dụ. Tổng quan nghĩa lý ở kinh này cũng
như ở các kinh luận khác, có thể nói 3 tánh như sau. A lại
da mặt ẩn là chủng tử của các pháp, mặt hiện là hiện
hành của các pháp, các pháp ấy là y tha khởi tánh. Ngộ nhận
các pháp như vậy là ngã pháp, ngã pháp ấy là biến kế chấp
tánh. Giác ngộ a lại da như vậy vẫn chân như, chân như ấy
là viên thành thật tánh. Như ngọc trong hiện ra đủ màu là
y tha, lầm màu ấy là thật là biến kế, biết ngọc vẫn
trong là viên thành (nói cách khác theo chính văn, biết màu
ấy không thật là viên thành).
Chính Văn.-
Đức bản, biết
do tướng và danh tương ứng làm duyên tố thì biết được
biến kế chấp tánh; nơi y tha khởi tánh, biết cái chấp của
biến kế chấp tánh làm duyên tố thì biết y tha khởi tánh;
nơi y tha khởi tánh, biết không có cái chấp của biến kế
chấp tánh làm duyên tố thì biết viên thành thật tánh.
Lại nữa, nếu
Bồ tát có thể nơi y tha khởi tánh của các pháp mà đúng
như sự thật biết biến kế chấp tánh, thì thế là đúng
như sự thật biết sự vô tướng của các pháp; nếu Bồ
tát đúng như sự thật biết y tha khởi tánh, thì thế là
đúng như sự thật biết sự tạp nhiễm của các pháp; nếu
Bồ tát đúng như sự thật biết viên thành thật tánh, thì
thế là đúng như sự thật biết sự thanh tịnh của các pháp.
Bồ tát nếu nơi y tha khởi tánh mà đúng như sự thật nhận
biết sự vô tướng thì có thể hủy diệt sự tạp nhiễm,
nếu có thể hủy diệt sự tạp nhiễm thì có thể chứng
đắc sự thanh tịnh.
Lược Giải.-
Đoạn này nói
sự tu quán về 3 tự tánh.
Chính Văn.-
Đức bản, Bồ
tát do đúng như sự thật mà biết biến kế chấp tánh, y
tha khởi tánh và viên thành thật tánh, nên cũng đúng như
sự thật mà nhận biết sự vô tướng, sự tạp nhiễm và
sự thanh tịnh. Đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng
nên hủy diệt sự tạp nhiễm, hủy diệt sự tạp nhiễm nên
chứng đắc sự thanh tịnh: ngang đây gọi là vị Bồ tát
khéo biết tánh của các pháp, và cũng ngang đây Như lai qui
định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tánh của các
pháp.
Lược Giải.-
Đoạn này kết
thúc bằng cách đáp 2 câu hỏi.
Chính Văn.-
Lúc bấy giờ
đức Thế tôn muốn nói lại ý nghĩa đã nói nên nói những
lời chỉnh cú sau đây.
-
Nếu không biết
rõ
-
về sự vô tướng
-
thì sự tạp nhiễm
-
không thể hủy diệt,
-
nếu sự tạp nhiễm
-
không thể hủy diệt
-
thì sự thanh tịnh
-
không thể chứng
đắc (62) .
-
Không hề quán sát
-
lỗi lầm các hành,
-
sự phóng dật này
-
làm hại chúng sinh.
-
Nên trong hai mặt
-
trú pháp động pháp
(62B)
-
sự nhác làm cho
-
đã không lại có
(63) :
-
mất hỏng đến
thế
-
thật đáng xót thương.
Lược Giải.-
Kết thúc Đ1 nói
tính cách có của các pháp.
Mở Đầu Nói
3 Vô Tánh
Chính Văn.-
