Phẩm
ba: Tâm Thức (50)
Lúc bấy giờ đại
bồ tát Quảng tuệ thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, như Ngài
nói Bồ tát khéo biết mật nghĩa (51) tâm ý thức, vậy Bồ
tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức là ngang đâu mới được
gọi là Bồ tát khéo biết mật nghĩa tâm ý thức? và ngang
đâu mới được Ngài qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát
khéo biết mật nghĩa tâm ý thức (52) ? Đại bồ tát Quảng
tuệ bạch hỏi như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Tốt
lắm, Quảng tuệ, ông có thể hỏi Như lai cái thâm nghĩa như
vậy. Vậy là ông muốn lợi ích yên vui cho vô lượng chúng
sinh. Ông thương tưởng cả thế giới loài người, và tám
bộ loại khác, muốn làm cho họ được lợi thật, được
yên vui, nên phát ra câu hỏi vừa rồi. Ông hãy nghe kyծ Như
lai sẽ nói cho ông về mật nghĩa tâm ý thức.
Lược Giải.-
Phẩm này tiêu
đề nói về tâm ý thức, nhưng thực ra nói nhiều hơn về
bản thức, cho thấy Nó là cái Tâm siêu việt (đã nói và
còn nói đến hết kinh), là cái căn bản của các pháp (sẽ
nói trong các phẩm 4 và 5).
Chính Văn.-
(Trước hết),
Quảng tuệ, ông nên nhận thức rằng sự sinh tử trong sáu
đường, chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế
giới nào (53) , thì thân thể hoặc sinh trong loài sinh bằng
trứng, hoặc sinh trong loài sinh bằng thai, hoặc sinh trong loài
sinh bằng ẩm thấp, hoặc sinh trong loài sinh bằng biến hóa.
Sự sinh ấy đầu tiên do chủng tử thức vốn đã thành thục
nay triển chuyển hóa hợp, tuần tự lớn lên (53B) , với hai
sự chấp thọ của thức ấy: một là chấp thọ các sắc
căn và sở y của các sắc căn, hai là chấp thọ chủng tử
của tướng, danh và phân biệt, loại chủng tử do ngôn từ
hý luận mà có (54) . Sinh trong thế giới có hình sắc thì
có đủ hai sự chấp thọ vừa nói, còn sinh trong thế giới
không hình sắc thì không đủ hai sự chấp thọ ấy (55) .
Thứ nữa, Quảng
tuệ, thức ấy cũng tên là a đà na, vì nó theo mà nắm giữ
thân thể; cũng tên là a lại da, vì nó chấp thọ mà cùng
yên cùng nguy với thân thể; cũng tên là tâm, vì nó do sắc
thanh hương vị xúc pháp tích tụ tăng trưởng (56) .
Sau nữa, Quảng
tuệ, chính a đà na thức làm nền tảng và xây dựng mà phát
sinh sáu thức nhãn nhĩ tyՠthiệt thân ý: do nhãn căn và sắc
cảnh làm duyên tố mà phát sinh nhãn thức, đồng thời đồng
cảnh có ý thức cùng phát sinh với nhãn thức ấy; do các
căn nhĩ tyՠthiệt thân và các cảnh thanh hương vị xúc làm
duyên tố mà phát sinh các thức nhĩ tyՠthiệt thân, đồng
thời đồng cảnh có ý thức cùng phát sinh với các thức
nhĩ tyՠthiệt thân ấy. Như vậy nếu một lúc nào đó chỉ
có một thức phát sinh thì lúc đó chỉ có một ý thức cùng
phát sinh với một thức ấy, nếu một lúc nào đó có hai
đến năm thức phát sinh thì lúc đó cũng chỉ có một ý thức
cùng phát sinh với hai đến năm thức ấy. Ví như dòng nước
chảy vừa mạnh vừa lớn, nếu có duyên tố nổi một cơn
sóng thì một cơn sóng nổi lên, nếu có duyên tố nổi hai
đến nhiều cơn sóng thì hai đến nhiều cơn sóng nổi lên,
nhưng bản thân dòng nước vẫn chảy mãi, không đứt không
hết. Lại như mặt gương tốt và sáng, nếu có duyên tố
hiện một hình ảnh thì chỉ một hình ảnh hiện ra, nếu
có hai đến nhiều duyên tố hiện hai đến nhiều hình ảnh
thì hai đến nhiều hình ảnh hiện ra, nhưng không phải mặt
gương biến thành hình ảnh, cũng không có sự hết hiện hình
ảnh. Tương tự như vậy, do dòng nước a đà na thức làm
nền tảng và xây dựng, nên một lúc nào đó có duyên tố
phát sinh của một thức thì lúc đó một thức phát sinh, nếu
một lúc nào đó có duyên tố phát sinh của hai đến năm thức
thì lúc đó có hai đến năm thức phát sinh (57) .
Lược Giải.-
Đoạn này có
3 đoạn nhỏ, nói bản thức là căn bản của thân thể (và
thế giới của thân thể) của sự sống (và đời sống) của
các thức (và đối tượng của các thức). Một cách nhìn
khác, năng tính (chủng tử) và biểu hiện (hiện hành) của
các pháp toàn là bản thức. Cái gọi là thế giới chỉ là
sự biểu hiện tương tự (cọng biến) của các nghiệp thức
tương tự (cọng nghiệp).
Chính Văn.-
Quảng tuệ, như
trên là Bồ tát do cái trí pháp trú (58) làm nền tảng và
xây dựng mà khéo biết mật nghĩa tâm ý thức. Thế nhưng
Như lai không ngang đây qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát
khéo biết tất cả mật nghĩa của tâm ý thức. Quảng tuệ
nếu Bồ tát từ bên trong và rành rẽ, đúng như sự thật
mà không thấy (59) a đà na và a đà na thức, không thấy a
lại da và a lại da thức, không thấy tích tập và tích tập
tâm, không thấy nhãn căn sắc cảnh và nhãn thức, cho đến
không thấy ý căn pháp cảnh và ý thức, như thế mới gọi
là vị Bồ tát khéo biết thắng nghĩa, và ngang đây Như lai
qui định vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết thắng nghĩa;
cũng ngang đây gọi là vị Bồ tát khéo biết tất cả mật
nghĩa của tâm ý thức, và cũng ngang đây Như lai qui định
vị Bồ tát ấy là Bồ tát khéo biết tất cả mật nghĩa
của tâm ý thức.
Lược Giải.-
Đoạn này đáp
2 câu hỏi mà, nói chung, biết tâm thức chưa phải khéo biết,
biết tâm thức tự siêu việt (biết chân như thắng nghĩa
của tâm thức) mới khéo biết. Để dẫn ra cái biết này,
mạt na đã được ẩn lược.
Chính Văn.-
Muốn lặp lại
ý nghĩa đã nói, nên lúc bấy giờ đức Thế tôn nói những
lời chỉnh cú sau đây.
-
Thức a đà na
-
cùng cực vi tế,
-
tất cả chủng tử
-
như dòng nước mạnh
(59B) .
-
Như lai không nói
-
cho kẻ phàm ngu,
-
sợ họ phân biệt
-
chấp làm bản ngã.
Lược Giải.-
Chỉnh cú này
cho thấy càng rõ cái lý do ẩn lược mạt na, cái ý thức
về ngã. Do vậy, nói a lại da là cốt phủ nhận Phạn thể
(bản ngã) và thần ngã (tự ngã), nhưng không biết đúng như
sự thật thì có thể a lại da cũng sẽ bị coi như bản ngã
và tự ngã.
Nói Tính Cách
Có Của Các Pháp
Chính Văn.-
