Phẩm hai: Thắng
Nghĩa (19)
Vào lúc bấy giờ,
ở trước đức Thế tôn, đại bồ tát Như lý thỉnh vấn
hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, nói
các pháp bất nhị (20) thì các pháp là những gì? tại sao
lại bất nhị? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời
đại bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, các pháp đại
khái có hai, một là hữu vi, hai là vô vi. Trong đây, hữu vi
không phải hữu vi vô vi, vô vi không phải vô vi hữu vi, (nên
nói là bất nhị).
Đại bồ tát
Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa
ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là hữu vi không phải
hữu vi vô vi, vô vi không phải vô vi hữu vi? Đại bồ tát
Giải thâm nghĩa ý trả lời đại bồ tát Như lý thỉnh vấn:
Thiện nam tử, nói hữu vi thì đó là cái đức Bổn sư giả
thiết; nếu là cái đức Bổn sư giả thiết thì cái ấy biến
kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả (21) ; nếu là cái
biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả thì cuối cùng
chỉ là bao cách biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn
tả chứ không phải chân thật, vì vậy mà không phải là
hữu vi (22) . Nói vô vi thì cũng sa vào ngôn ngữ (23) ; ngoài
hữu vi vô vi mà nói gì chút ít đi nữa thì cũng là như thế
(24) . Thế nhưng không phải không sự thể mà có nói phô;
sự thể ấy là gì, là các thánh giả, bằng sự thấy biết
rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến
giác (đối với pháp tánh); rồi chính nơi pháp tánh tách rời
ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể
hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà nói là
hữu vi (25) .
Thiện nam tử,
nói vô vi thì đó cũng là cái đức Bổn sư giả thiết; nếu
là cái đức Bổn sư giả thiết thì cái ấy biến kế chấp
trước và ngôn ngữ diễn tả; nếu là cái biến kế chấp
trước và ngôn ngữ diễn tả thì cuối cùng chỉ là bao cách
biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả chứ không phải
chân thật, vì vậy mà không phải là vô vi (26) . Nói hữu
vi thì cũng sa vào ngôn ngữ (27) ; ngoài vô vi hữu vi mà nói
gì chút ít đi nữa thì cũng là như thế (28) . Thế nhưng không
phải không sự thể mà có nói phô; sự thể ấy là gì, là
các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời
ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp
tánh); rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các
ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác,
nên giả thiết ngôn từ mà nói là vô vi.
Lược Giải.-
Đoạn này nói
thắng nghĩa (Tâm hay Như) thì ly ngôn và bất nhị.
Chính Văn.-
Lúc ấy đại
bồ tát Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm
nghĩa ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là sự thể các
thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn
ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh),
rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài
muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác,
nên giả thiết ngôn từ mà hoặc nói là hữu vi, hoặc nói
là vô vi? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời đại
bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, như nhà ảo thuật,
hay đồ đệ của nhà ảo thuật, đứng giữa ngã tư, gom cỏ
lá ngói gạch, và những vật liệu cùng việc, làm ra những
ảo trạng tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, ma ni, chân
châu, lưu ly, loa bối (29) , bích ngọc, san hô, kho tàng tiền
của, kho tàng thóc gạo... Những kẻ thuộc loại ngu đần,
hiểu sai, không trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên
các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe thật
là tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo..., lại y như sự
thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự
thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả.
Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại. Còn những
người thuộc loại không ngu đần, hiểu đúng, có trí thức,
thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ
rằng những gì mình thấy nghe toàn không thật tượng binh
cho đến kho tàng thóc gạo..., thế nhưng có những ảo trạng
mê hoặc thị giác, nên tưởng đây là bản thân con voi và
đây là chi tiết trên bản thân ấy, cho đến tưởng đây
là bản thân kho tàng thóc gạo và đây là chi tiết trên bản
thân ấy (29B) ; họ không y như sự thấy nghe mà cố chấp
và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai
nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người
khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn
từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa.
Tương tự như
vậy, những kẻ thuộc loại ngu phu, thuộc loại dị sinh (30)
, chưa được tuệ giác siêu việt thế gian của các vị thánh
giả, thì không thể thấu hiểu pháp tánh tách rời ngôn ngữ
của các pháp, nên thấy nghe các pháp hữu vi vô vi rồi, nghĩ
rằng cái mình thấy nghe được đó quyết định thật là
hữu vi vô vi, lại đúng như sự thấy nghe ấy mà cố chấp
và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai
nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó
rất cần quan sát lại. Còn những người không thuộc loại
ngu phu, đã thấy chân lý của thánh giả, đã được tuệ
giác siêu việt thế gian của thánh giả, thì thấu hiểu một
cách đúng như sự thật về pháp tánh tách rời ngôn ngữ
của các pháp, nên thấy nghe các pháp hữu vi vô vi rồi nghĩ
rằng cái mình thấy nghe được đó quyết định không thật
hữu vi vô vi, thế nhưng có hành tướng (31) của sự phân
biệt (32) như ảo trạng mê hoặc tuệ giác (33) , nên có ý
tưởng bản thân hữu vi vô vi, có ý tưởng chi tiết nơi bản
thân hữu vi vô vi; nghĩ như vậy nên không y như sự thấy
nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe
ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ
muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên
cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không
cần quan sát nữa.
Ấy vậy, Thiện
nam tử, trong sự thể này các vị thánh giả, bằng sự thấy
biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh
biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh
tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác
cũng thể hiện chánh biến giác nên giả thiết ngôn từ mà
nói là hữu vi, nói là vô vi.
Lược Giải.-
Đoạn này giải
thích tại sao thắng nghĩa ly ngôn mà thánh giả có ngôn thuyết.
Chính Văn.-
Đại bồ tát
Giải thâm nghĩa ý muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói
những lời chỉnh cú sau đây.
-
Pháp tánh bất nhị
-
tách rời ngôn ngữ
-
mà Thế tôn nói
-
thì rất sâu xa,
-
không phải ngu phu
-
có thể hiểu biết.
-
Với pháp tánh ấy,
-
những kẻ ngu phu
-
thì bị mê hoặc
-
vì sự ngu dốt,
-
nên thích nắm lấy
-
hai pháp y cứ (34)
,
-
vận dụng ngôn từ
-
hý luận đủ cách.
-
Họ thành những
kẻ
-
thuộc nhóm bất
định,
-
hay còn hơn nữa.
-
thuộc nhóm tà định,
-
nên đã trôi lăn
-
ở trong cái khổ
-
của sự sống chết
-
cực kỳ lâu dài;
-
nay lại trái nghịch
-
đối với tuệ giác
-
cùng với ngôn luận
-
rất là chính xác,
-
nên trong vị lai
-
họ phải sinh vào
-
loài bò loài dê
-
các loài tương tự.
-
Lược Giải.-
Đoạn này dùng văn
chỉnh cú mà trùng tuyên C1 trong B1 của A2.
Nói Tâm Siêu Việt
Tầm Tư
Chính Văn.-
Bấy giờ đại
bồ tát Pháp dũng thưa Phật: Kính bạch Thế tôn, phía đông
cõi này, qua bảy mươi hai hằng sa thế giới hệ, có thế
giới hệ tên Đủ tiếng khen lớn, đức Thế tôn giáo chủ
hiệu Tiếng khen rộng lớn. Trước đây con từ cõi Phật ấy
mà đến cõi này. Tại cõi Phật ấy, con từng thấy một nơi
có bảy mươi bảy ngàn ngoại đạo, gồm cả các bậc thầy
của họ, cùng ngồi với nhau. Để nghĩ về sắc thái của
thắng nghĩa các pháp, họ chung nhau bàn luận, cân nhắc, xem
xét. Suy tầm khắp cả mà rốt cuộc họ không biết được
thắng nghĩa của các pháp, chỉ có những cái biết phức tạp,
mâu thuẫn, bất định, nên họ chống nhau, cãi nhau, miệng
lưỡi xuất ra giáo với lao mà đâm thọc nhau, quấy phá nhau,
rồi họ giải tán. Lúc ấy con nghĩ riêng như vầy, sự xuất
thế của các đức Thế tôn thật rất hiếm có, bởi vì nhờ
sự xuất thế ấy mà đối với cái thắng nghĩa siêu việt
lĩnh vực tầm tư (35) vẫn có những người thấu suốt chứng
ngộ.
Đại bồ tát
Pháp dũng kính bạch như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài:
Thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói; đối với
thắng nghĩa siêu việt tầm tư, Như lai đã chánh biến giác,
chánh biến giác rồi Như lai nói rõ cho người.
Lược Giải.-
Đoạn này nói
mục đích và giá trị xuất thế của Phật: sự xuất thế
ấy là để nói về thắng nghĩa, làm cho có người cũng chứng
ngộ được thắng nghĩa ấy.
Chính Văn.-
Pháp dũng, Như
lai nói thắng nghĩa thì thánh giả tự chứng ngộ từ bên
trong, còn đối tượng tầm tư thì dị sinh chuyền cho nhau
mà hiểu biết; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên
biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng,
Như lai nói thắng nghĩa thì tuệ giác vô tướng lĩnh hội,
còn tầm tư thì chỉ biết đối tượng hữu tướng; thế
nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa
siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai nói thắng
nghĩa thì không thể nói phô, còn tầm tư thì chỉ biết bằng
nói phô; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết
thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai
nói thắng nghĩa thì tuyệt hết mọi sự biểu thị, còn tầm
tư thì chỉ biết bằng sự biểu thị; thế nên, Pháp dũng,
do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh
vực tầm tư. Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa thì tuyệt
hết mọi sự tránh luận (35B) , còn tầm tư thì chỉ biết
bằng sự tránh luận; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà
ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư.
Lược Giải.-
Đoạn này lấy
5 mặt mà nói thắng nghĩa siêu việt tầm tư.
Chính Văn.-
Pháp dũng, nên
nhận thức rằng, tựa như có kẻ suốt đời đã quen mùi
vị cay đắng, thì đối với mùi vị của mật và đường,
kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những
kẻ trong bao thì gian khẳng định dục vọng, lửa dục nung
đốt, thì đối với cái vui siêu thoát tinh tế do từ bên
trong đã loại bỏ ngũ dục (35C) , kẻ ấy không thể tầm
tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao thì gian
khẳng định ngôn từ, ưa thích ngôn từ hoa dạng của thế
gian, thì đối với cái vui lặng thinh thánh thiện do sự yên
tĩnh từ bên trong, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin
hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao thì gian khẳng định sự
biểu thị của thấy nghe hay biết (36) , ưa thích những sự
biểu thị có tính thế gian (36B) , thì đối với niết bàn
toàn hảo do hủy diệt mọi sự biểu thị và cái thân ngũ
uẩn, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như
những kẻ mà trong bao thì gian khẳng định về ngã sở, chiếm
hữu và tránh luận, ưa thích mọi sự tránh luận của thế
gian, thì đối với sự không ngã sở, chiếm hữu và tránh
luận của nhân loại ở đại lục Bắc câu lô, kẻ ấy không
thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Tương tự như vậy, Pháp dũng,
những kẻ tầm tư thì đối với thắng nghĩa siêu việt cái
biết của tầm tư, họ không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu.
Lược Giải.-
Đoạn này thí
dụ về 5 mặt đã nói ở trên. Thí dụ mà cũng chỉ việc.
Ngài Chân đế phối hợp 5 sự này với 5 cái vui: xuất gia,
tách rời, yên lặng, chánh giác và niết bàn (Vạn 34/339B dẫn).
Chính Văn.-
Để lặp lại
ý nghĩa đã nói, lúc ấy đức Thế tôn nói những lời chỉnh
cú sau đây.
-
Chứng ngộ từ trong,
-
vô tướng lĩnh hội,
-
không thể nói phô,
-
tuyệt hết biểu
thị,
-
đình chỉ tránh
luận,
-
thắng nghĩa như
vậy
-
siêu việt hết thảy
-
sắc thái tầm tư.
Lược Giải.-
Đoạn này dùng
văn chỉnh cú mà trùng tuyên C2 trong B1 của A2.
Nói Tâm Phi Nhất
Dị
Chính Văn.-
Lúc bấy giờ
đại bồ tát Thiện thanh tịnh tuệ thưa Phật: Bạch đức
Thế tôn, Ngài thật kỳ diệu, cho đến Ngài thật khéo nói,
ấy là Ngài nói thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu, khó thấu,
vượt qua đặc tính đồng nhất hay dị biệt đối với các
hành. Bạch đức Thế tôn, chính tại cõi này, con từng chứng
kiến một nơi có các vị Bồ tát đồng đẳng tu hành chính
xác về địa vị Thắng giải hành (37) cùng ngồi với nhau,
chung nhau nghĩ bàn thắng nghĩa đối với các hành (38) là một
hay khác nhau. Trong đó, một số nói thắng nghĩa với các hành
hoàn toàn là một; một số nói không phải thắng nghĩa với
các hành hoàn toàn là một, mà là tuyệt đối khác nhau; một
số nghi hoặc, do dự, nói các vị ấy ai thật ai dối, ai đúng
ai sai, khi một số nói thắng nghĩa với các hành là một,
một số nói thắng nghĩa với các hành khác nhau. Bạch đức
Thế tôn, chứng kiến như vậy, con nghĩ riêng, rằng các thiện
nam tử này ngây thơ, không sáng, không khéo và không đúng;
đối với thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu và siêu việt nhất
dị đối với các hành, họ không thấu hiểu.
Đại bồ tát
Thiện thanh tịnh tuệ kính bạch như vậy rồi, đức Thế
tôn dạy ngài: Thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông
nói; các Thiện nam tử ấy ngây thơ, không sáng, không khéo
và không đúng; đối với thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu
và siêu việt nhất dị đối với các hành, họ không thấu
hiểu. Lý do là vì, đối với các hành, không phải khi nhận
thức như vậy mà gọi là thấu hiểu hay chứng ngộ thắng
nghĩa.
Lược Giải.-
Đoạn này mở
đầu nói về thực thể với hiện tượng; thực thể ấy
là thắng nghĩa (Như hay Tâm).
Chính Văn.-
(Trước hết),
Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một
thì đáng lẽ hiện nay tất cả dị sinh đã thấy đế lý,
đã được niết bàn yên ổn, đã chứng bồ đề tối thượng;
nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau thì đáng lẽ người
đã thấy đế lý không thể trừ khử các hành, không trừ
khử các hành thì không thể giải thoát tướng phược (39)
, không giải thoát tướng phược thì không thể giải thoát
trọng phược (40) , không giải thoát hai phược ấy thì không
thể được niết bàn yên ổn, cũng không thể chứng bồ đề
tối thượng. (Nhưng), vì hiện nay các loại dị sinh không
phải đã thấy đế lý, không phải đã được niết bàn yên
ổn, không phải đã chứng bồ đề tối thượng, nên cho thắng
nghĩa với các hành là một thì phi lý, nói thắng nghĩa với
các hành là một thì do đạo lý này mà ông nên biết họ
nói không đúng; (mặt khác), vì hiện nay không phải những
người thấy đế lý không thể trừ khử các hành mà là trừ
khử được, không phải không thể giải thoát tướng phược
mà là giải thoát được, không phải không thể giải thoát
trọng phược mà là giải thoát được, giải thoát được
hai phược nên cũng được niết bàn yên ổn và chứng bồ
đề tối thượng, nên cho thắng nghĩa với các hành khác nhau
thì phi lý, nói thắng nghĩa với các hành khác nhau thì do đạo
lý này mà ông nên biết họ nói không đúng.
Thứ nữa, Thiện
thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một thì
đáng lẽ các hành là tạp nhiễm thắng nghĩa cũng tạp nhiễm;
nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau thì đáng lẽ không
phải cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa (41) .
(Nhưng), vì hiện nay thắng nghĩa không phải là tạp nhiễm,
(mặt khác), vì cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa,
nên cho thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau thì
đều phi lý, nói thắng nghĩa với các hành là một hay khác
nhau thì do đạo lý này mà ông nên biết họ nói không đúng.
Sau nữa, Thiện
thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một thì
đáng lẽ thắng nghĩa là phi sai biệt các hành cũng phi sai
biệt, đáng lẽ hành giả tu quán, thấy nghe hay biết các hành
rồi sau đó không còn tìm biết thắng nghĩa; nếu thắng nghĩa
với các hành khác nhau thì đáng lẽ không phải cái được
hiển lộ bởi các hành vô ngã vô tánh chính là thắng nghĩa,
đáng lẽ tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song
lập (42) . (Nhưng), vì hiện nay các hành là sai biệt chứ không
phải phi sai biệt, vì hành giả tu quán, thấy nghe hay biết
các hành rồi sau đó còn tìm biết thắng nghĩa, (mặt khác),
vì chính cái được hiển lộ bởi các hành vô ngã vô tánh
gọi là thắng nghĩa, vì không phải tạp nhiễm và thanh tịnh
cùng lúc dị biệt mà song lập, nên cho thắng nghĩa với các
hành là một hay khác nhau thì đều phi lý, nói thắng nghĩa
với các hành là một hay khác nhau thì do đạo lý này mà ông
nên biết họ nói không đúng.
Lược Giải.-
Đoạn này có
3 đoạn nhỏ nói thắng nghĩa siêu việt nhất dị. Tựu trung
đáng chú ý nhất là 2 điểm: cọng tướng của các hành là
thắng nghĩa (ghi chú 41) và nhiễm tịnh không song lập (ghi
chú 42). Điểm trước là bản thể với hiện tượng, điểm
sau chính là nghĩa bản tịnh (chứ không có bản nhiễm).
Chính Văn.-
Thiện thanh tịnh
tuệ, như sắc trắng nơi loa bối, không dễ gì nói là một
hay khác nhau với loa bối. Như sắc trắng nơi loa bối, sắc
vàng nơi vàng cũng vậy. Như khúc nhạc nơi âm thanh đàn hầu,
không dễ gì nói là một hay khác nhau với âm thanh đàn hầu.
Như hơi thơm nơi trầm đen, không dễ gì nói là một hay khác
nhau với trầm đen. Như vị cay nơi hạt tiêu, không dễ gì
nói là một hay khác nhau với hạt tiêu. Như vị cay nơi hạt
tiêu, vị bùi nơi trái ha lê cũng vậy. Như sự láng mịn nơi
lụa tơ tằm, không dễ gì nói là một hay khác nhau với lụa
tơ tằm. Như váng sữa nơi sữa chín, không dễ gì nói là
một hay khác nhau với sữa chín. Như sự vô thường nơi các
hành, sự khổ não nơi hữu lậu, sự vô ngã nơi các pháp,
không dễ gì nói là một hay khác nhau với các hành, hữu lậu
và các pháp. Sự thác loạn và tạp nhiễm nơi tham, không dễ
gì nói là một hay khác nhau với tham; như nơi tham, nơi sân
và nơi si cũng vậy. Tương tự như vậy, Thiện thanh tịnh
tuệ, không thể qui định thắng nghĩa với các hành là một
hay khác nhau.
Thiện thanh tịnh
tuệ, đối với thắng nghĩa siêu việt một khác các hành
như vậy, rất nhỏ và cực kỳ rất nhỏ, rất sâu và cực
kỳ rất sâu, khó biết và cực kỳ khó biết, Như lai đã
thể hiện chánh biến giác. Chánh biến giác rồi, Như lai nói
rõ cho người.
Lược Giải.-
Hai đoạn này,
một, dùng 10 ví dụ để nói sự phi nhất dị của thắng
nghĩa, một, nói với thắng nghĩa ấy Phật đã tự giác lại
giác tha.
Chính Văn.-
Vào lúc bấy giờ,
đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những
lời chỉnh cú sau đây.
-
Thắng nghĩa các
hành (43)
-
siêu việt một khác,
-
phân biệt một khác
-
là biết không đúng.
-
Chúng sinh thì bị
-
tướng phược trọng
phược (44) ;
-
siêng tu chỉ quán
-
mới giải thoát
được.
Lược Giải.-
Đoạn này dùng
chỉnh cú mà trùng tuyên C3 trong B1 của A2.
Nói Tâm Phổ Biến
Nhất Vị
Chính Văn.-
Lúc ấy đức
Thế tôn hỏi trưởng lão Thiện hiện: Thiện hiện, trong chúng
sinh giới, trưởng lão biết bao nhiêu người có tăng thượng
mạn, do tăng thượng mạn chi phối mà xác định sự hiểu
biết của mình (45) ? bao nhiêu người không tăng thượng mạn
mà xác định sự hiểu biết của mình? Trưởng lão Thiện
hiện thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong chúng sinh giới,
con biết chỉ có một số người không tăng thượng mạn mà
xác định sự hiểu biết của mình, nhưng có vô số người
có tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn chi phối mà xác
định sự hiểu biết của mình. Bạch đức Thế tôn, có một
lần con ở chỗ thanh vắng trong rừng cây lớn. Bấy giờ có
nhiều vị Bí sô cũng ở trong rừng ấy, gần con. Các vị
Bí sô này, trong phần sau của ban ngày, lần lượt hội lại,
căn cứ sự hiện quán có thủ đắc mà nói các pháp, xác
định sự hiểu biết của mình. Tựu trung, một số do thủ
đắc về uẩn: thủ đắc đặc tính của uẩn, thủ đắc
sự phát sinh của uẩn, thủ đắc sự tận diệt của uẩn,
thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của uẩn, nên
xác định sự hiểu biết của mình. Như một số do thủ đắc
về uẩn, một số do thủ đắc về xứ và một số do thủ
đắc về duyên khởi thì cũng như vậy. Một số do thủ đắc
về thực: thủ đắc đặc tính của thực, thủ đắc sự
phát sinh của thực, thủ đắc sự tận diệt của thực, thủ
đắc sự tác chứng về sự tận diệt của thực, nên xác
định sự hiểu biết của mình. Một số do thủ đắc về
đế: thủ đắc đặc tính của đế, thủ đắc sự biến
tri về đế, thủ đắc sự vĩnh đoạn về đế, thủ đắc
sự tác chứng về đế, thủ đắc sự tu tập về đế, nên
xác định sự hiểu biết của mình. Một số do thủ đắc
về giới: thủ đắc đặc tính của giới, thủ đắc chủng
loại của giới, thủ đắc đa dạng của giới, thủ đắc
sự tận diệt của giới, thủ đắc sự tác chứng về sự
tận diệt của giới, nên xác định sự hiểu biết của mình.
Một số do thủ đắc về niệm trú : thủ đắc đặc tính
của niệm trú, thủ đắc sự năng trị và sự sở trị của
niệm trú, thủ đắc sự tu tập về niệm trú, thủ đắc
sự chưa phát sinh thì làm cho phát sinh của niệm trú, thủ
đắc sự đã phát sinh thì làm cho kiên cố, bội phần tu tập
cao lên và rộng ra của niệm trú, nên xác định sự hiểu
biết của mình. Như một số do thủ đắc về niệm trú, những
số do thủ đắc về chính đoạn, do thủ đắc về thần túc,
do thủ đắc về căn, do thủ đắc về lực, do thủ đắc
về giác chi, thì cũng như vậy. Một số do thủ đắc về
tám chi thánh đạo: thủ đắc đặc tính của tám chi thánh
đạo, thủ đắc sự năng trị và sự sở trị của tám chi
thánh đạo, thủ đắc sự tu tập về tám chi thánh đạo,
thủ đắc sự chưa phát sinh thì làm cho phát sinh của tám
chi thánh đạo, thủ đắc sự đã phát sinh thì làm cho kiên
cố, bội phần tu tập cao lên và rôểng ra của tám chi thánh
đạo, nên xác định sự hiểu biết của mình (46) . Bạch
đức Thế tôn, con chứng kiến như vậy thì nghĩ riêng như
vầy, các vị trưởng lão này căn cứ sự hiện quán có thủ
đắc mà nói các pháp, xác định sự hiểu biết của mình
như thế, thì biết các vị toàn là tăng thượng mạn, bị
tăng thượng mạn chi phối, nên không thể thấu hiểu đặc
tính phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị của thắng
nghĩa. Vì thế nên đức Thế tôn thật kỳ diệu, cho đến
đức Thế tôn thật khéo nói, ấy là Ngài nói thắng nghĩa
rất nhỏ và cùng cực rất nhỏ, rất sâu và cùng cực rất
sâu, khó biết và cùng cực khó biết, phổ biến toàn thể
và đồng nhất tính vị. Bạch đức Thế tôn, các vị Bí
sô tu học trong chánh pháp mà còn khó thấu hiểu đặc tính
phổ biến nhất vị của thắng nghĩa, huống chi những người
ngoại đạo.
Lược Giải.-
Đoạn này cho
thấy C4 này cốt nói tiểu thừa nhiều hơn, cũng như C3 trước
đây nhắm nhiều hơn vào ngoại đạo (nhất là các thuyết
bản thể luận).
Chính Văn.-
Bấy giờ đức
Thế tôn bảo trưởng lão Thiện hiện: đúng như vậy, trưởng
lão Thiện hiện; đối với thắng nghĩa rất nhỏ và cùng
cực rất nhỏ, rất sâu và cùng cực rất sâu, khó biết và
cùng cực khó biết, phổ biến toàn thể và đồng nhất tính
vị, Như lai đã thể hiện chánh biến giác. Chánh biến giác
rồi, Như lai nói rõ cho người.
(Trước hết),
Thiện hiện, Như lai đã nói cái thanh tịnh sở duyên (47) nơi
toàn thể năm uẩn chính là thắng nghĩa; Như lai đã nói cái
thanh tịnh sở duyên nơi toàn thể mười hai xứ, mười hai
duyên khởi, bốn thực, bốn đế, mười tám giới, bốn niệm
trú, bốn chính đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy
giác chi và tám thánh đạo, chính là thắng nghĩa. Cái thanh
tịnh sở duyên ấy, nơi toàn thể năm uẩn, Nó là đồng nhất
tính vị, không có dị biệt; như nơi toàn thể năm uẩn, thì
nơi toàn thể mười hai xứ, cho đến nơi toàn thể tám thánh
đạo, Nó cũng là như vậy, đồng nhất tính vị, không có
dị biệt. Thế nên, Thiện hiện, do đạo lý này mà trưởng
lão hãy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể, đồng
nhất tính vị.
Thứ nữa, Thiện
hiện, các vị Bí sô tu quán, thấu hiểu chân như thắng nghĩa
vô ngã nơi một uẩn, thì không cần tìm cầu chân như thắng
nghĩa ấy riêng biệt nơi các uẩn khác, nơi mười hai xứ
cho đến nơi tám thánh đạo. Và chính cái trí thích ứng với
chân như thắng nghĩa bất nhị này làm căn cứ mà thẩm cứu
tiến chứng chân như thắng nghĩa phổ biến toàn thể và đồng
nhất tính vị (48) . Thế nên, Thiện hiện, do đạo lý này
mà trưởng lão hãy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn
thể và đồng nhất tính vị.
Sau nữa, Thiện
hiện, như năm uẩn thì triển chuyển khác nhau, như mười
hai xứ cho đến tám thánh đạo thì cũng triển chuyển khác
nhau, nếu chân như thắng nghĩa vô ngã của toàn thể các pháp
ấy mà cũng khác nhau, thì chân như thắng nghĩa này đáng lẽ
cũng có nhân tố, do nhân tố xuất sinh; nếu do nhân tố xuất
sinh thì đáng lẽ là hữu vi, nếu là hữu vi thì đáng lẽ
không phải thắng nghĩa, nếu không phải thắng nghĩa thì đáng
lẽ phải tìm cầu thắng nghĩa nào khác nữa. (Nhưng), Thiện
hiện, do chân như thắng nghĩa vô ngã không có nhân tố, không
phải nhân tố xuất sinh, cũng không phải hữu vi, mà đích
là thắng nghĩa, (nên) chứng ngộ thắng nghĩa ấy rồi thì
không còn tìm cầu thắng nghĩa nào khác nữa, mà (thấy) chỉ
có thường xuyên, vĩnh viễn, Như lai xuất thế hay không xuất
thế, pháp tánh các pháp vẫn an lập, pháp giới các pháp vẫn
an trú (49) . Thế nên, Thiện hiện, do đạo lý này mà trưởng
lão hãy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể và
đồng nhất tính vị.
Lược Giải.-
Đoạn này có
3 đoạn nhỏ nói thắng nghĩa là phổ biến và nhất vị.
Chính Văn.-
Thiện hiện, tựa
như trong toàn thể hình sắc khác nhau, đa dạng và đa số,
hư không vẫn không hình sắc, không phân biệt, không biến
đổi, mà là phổ biến và nhất vị. Tương tự như vậy,
nơi toàn thể các pháp khác đặc tính và khác sắc thái, thắng
nghĩa vẫn là phổ biến và nhất vị.
Lược Giải.-
Đoạn này nói
thắng nghĩa phổ biến và nhất vị bằng ví dụ hư không.
Chính Văn.-
Vào lúc bấy giờ,
đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói nên nói những
lời chỉnh cú sau đây.
-
Chính cái thắng
nghĩa
-
phổ biến nhất
vị
-
Như lai nói là
-
không có khác nhau.
-
Nếu có kẻ nào
-
phân biệt khác nhau,
-
kẻ ấy u mê
-
thượng mạn chi
phối.
Lược Giải.-
Đoạn này trùng
tuyên C4 trong B1 của A2. Phẩm hai của Giải thâm mật chấm
hết ở đây, cho thấy cái Tâm của Phật nói siêu việt như
thế nào. Từ sau đây cho đến hết Giải thâm mật, sẽ cho
thấy cái Tâm siêu việt ấy là thế nào.
Nói Tâm Ấy Là
Cảnh Sở Quán
-
D1. Nói Tâm Ấy Là
Căn Bản Của Các Pháp (Phẩm 3)
-
D2. Nói Các Pháp
Của Tâm Ấy Biểu Hiện
-
Đ1. Nói Tính Cách
Có Của Các Pháp (Phẩm 4)
-
Đ2. Nói Tính Cách
Không Của Các Pháp (Phẩm 5)
-
E1. Mở Đầu Nói
3 Vô Tánh
-
E2. Giải Thích 3
Vô Tánh
-
E3. Tiếp Nhận Lý
Giải
-
E4. Đối Chiếu Đề
Cao
-
E5. Danh Hiệu Và
Lợi Ích Của Pháp Thoại
Nói Tâm Ấy Là Căn
Bản Của Các Pháp
Chính Văn.-
