THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Luận
Giảng Giải Kinh

 
..
KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI 
BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
Tỳ Kheo Thích Hằng Quang Giảng Giải
 
Có người hỏi tôi tám phần giới đó đối với người tại gia thì từ giới thứ sáu đến thứ tám thì người tại gia không thọ thôi còn những Thầy xuất gia đã giữ trọn gồm tám phần gìới đó rồi cần chi phải thọ trì trong một năm hay ba tháng?

Phải, những phần giới đó, người xuất gia đã thọ rồi, tuy nhiên Tám Phần Trai Giới(Bát Quan Trai) ở đây khác với  tám giới của người xuất gia, giới thì vẫn giống nhau nhưng phần thọ thì lại khác. Tám phần trai giới này khi thọ cần phải tụ lại một chỗ, trong thời gian thọ giới không được rời khỏi Già Lam. Còn tám giới kia khi thọ quí vị chỉ cần giữ giới là được, không nhứt thiết là ở đâu.

Văn Thù Sư Lợi dịch từ Manjushri, 
Quán Thế Âm dịch từ Avalokitesvara,
Đại Thế Chí dịch từ Maha srhama prapta, 
Vô Tận Ý dịch từ Akohayamati, 
Bảo Đàn Hoa dịch từ Pouh thang tha, 
Dược Vương dịch từ Bhaishajyaraja, 
Dược Thượng dịch từ Bhaisajyasamudgata, 
Di Lặc dịch từ Maitreya. 
 

Hoặc nếu có kẻ, nhơn nguyện lực của đức Dược Sư mà được thát sanh lên cõi Trời nhưng nhờ cái căn lành sẵn có ấy chưa hết thì không còn sanh lại những đường ác nữa. Khi tuổi thọ ở cõi Trời đã mãn, sanh lại trong cõi người thì, hoặc làm đến bậc Luân vương, thống nhiếp cả bốn châu thiên hạ, oai đức tự tại, giáo hóa cho vô lượng trăm ngàn chúng hữu tình theo con đường thập thiện, hoặc sanh vào giòng Sát đế lỵ, Bà la môn hay cư sĩ đại cô, của tiền dư dật, kho đụn tràn đầy, tướng mạo đoan trang, quyến thuộc sum vầy, lại được thông minh trí huệ, dõng mãnh oai hùng như người đại lực sĩ. Còn nếu có người phụ nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà hết lòng thọ trì danh hiệu ấy thì đời sau sẽ không làm thân gái nữa.
 

Nhơn nguyện lực của Phật Dược Sư. Giống như có chúng sanh tạo nghiệp ác, họ không những không tin nhân quả mà còn làm những điều bất thìện nữa, nên phải chịu đọa lạc vào đường ác. Tuy nhiên, những hạng người nầy, gặp cơ duyên nghe được danh hiệu của đức Phật Dược Sư. Do bổn nguyện lực của Phật muốn cho chúng sanh hết khổ, nên nhờ nghe được danh hiệu Phật mà sanh vào cõi Trời. Nhờ căn lành đã có nên chúng sanh nầy không còn sanh vào ba đường ác.Khi Tuổi thọ ở cõi Trời đã hết, sanh vào loài người làm đến bậc Luân Vương, làm chủ cả bốn Châu Thiên Hạ.
 

Bốn Châu Thiên Hạ là bốn phía:
 

Phía Đông  là Thắng Thần Châu (Đông Thắng Thần Châu)
Phía Nam là Thiệm Bộ Châu (Nam Thiệm Bộ Châu)
Phía Tây là Ngưu Hóa Châu (Tây Ngưu Hóa Châu)
Phía Bắc là Cưu Lư Châu (Bắc Cưu Lô Châu)
 

Chuyển Luân Vương vị này có bảy thứ báu. Bảy thứ báu đã nói phần trên, vị này cai quản hết bốn phía. Luân  là bánh xe. Luân vương có bốn loại bánh xe khác nhau. Bốn loại đó là gì?  Đó là bánh xe sắt, bánh xe đồng, bánh xe bạc và bánh xe vàng.
 

Luân Vương có bánh xe sắt thời thống trị 1 đại châu về phía Nam.
Luân Vương bánh xe đồng thời thống trị 2 đại Châu về phía Nam và phía Tây.
Luân Vương bánh xe Bạc Thời thống trị 3 đại Châu, về phía Nam, phía Tây và phía Đông. 
Riêng chỉ Luân Vương xe Vàng thời vị này thống hết 4 đại Châu Thiên hạ
 

Mười việc thiện (thập thiện) lại chia ra thành ba phần. Thân có ba thiện, Khẩu có bốn thiện và ý có ba thiện.
 

Thân có ba thiện là:

Không sát sanh 
Không Trộm Cướp
Không Dâm Dục (tại gia cấm tà dâm)
'
Miệng có bốn thiện là:

Không nói dối
Không nói lời thêu dệt
Không nói hai lưỡi (đôi chiều)
Không nói lời ác
 

Ý có ba thiện là:
 

Không Tham lam
Không Sân hận
Không sanh tâm ngu si (không tà kiến).

Sát Đế Lợi là hàng vua chúa, Bà La Môn là hàng Đạo Sĩ, người Trung Hoa dịch là Tịnh Duệ vì họ cũng tu hành hạnh thanh tịnh, không hành dâm dục. Cư Sĩ là người tu hành tại gia. Đại Cô là sanh vào trong những gia đình thế tộc lớn. Trong đây viết là Cô(phụ nữ) nhưng theo tôi thì nó có nghĩa là vị này tuy sanh vào trong gia đình thế lớn,  mang theo lòng Từ Bi mà đến cứu độ chúng sanh. 

Nhờ thiện căn đó mà sanh lại trong cõi người sanh vào gia đình giàu sang, của tiền không lúc nào bị thiếu hụt. Sao gọi là tướng mạo đoan nghiêm, vì tướng mạo người này đẹp đẽ, ai ai nhìn thấy cũng vui mừng.và có công năng khiến loài hữu tình nhìn thấy thì phát tâm tu hành, lìa ba độc. Không những nó không làm cho loài hữu tình đấm nhiễm trước sắc trần, mà sanh ra tâm dâm dục.Trái lại nó giúp cho loài hữu tình phát tâm tu học giữ gìn phạm hạnh.

"Thân Quyến Cận Sở" là người trong thân quyến sinh sống gần nhau, không xa lìa như một trong tám thứ khổ đã nói "Ái Biệt Ly".

"Trí Huệ (Bát Nhã)" người có trí huệ thời không làm những việc hồ đồ. Chúng ta là những chúng sanh không có trí tuệ, nên làm những việc hồ độ kết quả bị trôi lăn trong vòng sinh tử. Trí tuệ có Thế Gian Trí và Xuất Thế Gian Trí, Cái gì gọi thế là gian trí? là chúng ta có thể biện luận và nói ra ý nghĩa của nó. Xuất Thế trí là người thông suốt nhân quả và hiểu biết các Pháp vốn là như vầy. Biết được cõi đời vốn là như vậy, nó chỉ tạo thành bởi nhân duyên và nghiệp rồi cũng theo đó mà biến mất  theo thời gian. Lúc nào cũng làm lợi ích cho loài hữu tình.

Đối với tôi hoàn toàn không có được một phần trí tuệ thế gian hay xuất thế gian. Tại sao tôi biết? Vì nếu như tôi có trí tuệ (thế gian) thì tôi không bị người khác khinh thường và tìm cách xa tôi. Những  việc của thế gian, tôi không thấu rõ thì làm sao có thể  biện luận được. Khi còn học ở trường Tiểu Học và Trung Học sự biểu hiện của tôi thật là ngu dốt, ngu đến nỗi tôi còn biết huống hồ là người bên cạnh tôi ư? Những người bạn tôi, họ đều tìm cách để xa tôi. Có người khinh thường tôi vì tôi quá ngu si. Nhưng tôi không cảm thấy buồn vì những hành động đó. Vì biết tôi đã trải qua bao kiếp làm những việc hồ đồ gieo nhân cho chúng sanh chịu khổ, không trồng được thiện căn thì làm sao có trí huệ được ư? Tâm tôi thật là hoan hỷ vì tôi còn biết được mình là người ngu để tránh gieo trồng ác nghiệp, tránh nhận quả ác mai sau.

Đối với trí huệ xuất thế, tôi cũng không thông suốt, đọc kinh không làm sao hiểu được nghĩa lý trong kinh. Đọc qua thời không nhớ được một câu nào . Khi nói ra việc gì trong vài phút thì lại quên mất. Cho nên những gì tôi giảng trong pháp hội hôm nay quí vị hãy nhớ kỷ, vì nếu có ai hỏi lại thì tôi hoàn toàn không biết mình đã giảng cái gì? Quên cũng đúng thôi, vì trên cõi đời này có quá nhiều cái nhớ nên có quá nhiều thứ khổ mà chúng ta phải nhận lấy. Quên là xong, đừng tri cầu quá khứ cũng đừng trông mông ở tương lai. Quá khứ đã vùi trong lòng đất, tương lai như bọt nước chẳng có gì cần phải truy tìm. Sống hôm nay thì nên biết việc làm của mình hôm nay, qua sáng hôm sau thì phủi sạch tâm trí để sống cho trọn ngày ấy. Sống như vậy thời chúng ta mới thật hưởng một phần chơn lạc. 

"đại lực sĩ" là người có sức lực khoẻ mạnh. Không như chúng ta có đủ những thứ bịnh khổ, có bịnh tức là không có khỏe rồi.

Phụ nữ nhàm chán thân nữ nên chí thành mà niệm danh hiệu Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì về đời sau sẽ không làm nữ nhân nữa. 

Oai lực của đức Dược Sư Như Lai làm lợi ích cho chúng sanh không thể nghĩ bàn, nên chúng ta cần phải thường niệm danh hiệu của Ngài cũng là nói lên ngôn từ biết ơn đới với Đức Như Lai vì chúng sanh ngu muội mà phải mệt nhọc phương tiện giáo hóa chúng sanh.

Này Mạn Thù Thất Lợi! Ðức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi đã chứng được đạo Bồ đề, do sức bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như da vàng, gầy ốm, cảm nhiệt, thương hàn, hoặc trúng phải những thứ ếm đối, đồ độc, hoặc bị hoạnh tử, hoặc bị chết non. 

Đức Phật cho Ngài Mạn thù Thất Lợi biết rằng, khi đức Dược Sư Như Lai thành Phật rồi do sức đại nguyện xưa của Ngài, Đức Thế Tôn kia quán sát thấy chúng sanh chịu nhiều thứ bịnh khổ, bị những thứ bùa ếm, thuốc độc, chết non, hoặc là bị hoạnh tử. 
 

Bùa ếm là một thứ bùa nó trù người cho đến khi chết, dùng tên, ngày tháng năm sanh của người đó hoặc tạo một hình nộm làm bùa trong đó để ếm.Nói đến đây tôi nhớ lại câu chuyện của một Phật tử quy y của tôi.
 

Phật Tử này theo mẹ về thăm quê ngoại, có gia đình quen biết nhà đình anh ta.Họ muốn gá cô con gái của họ cho anh ta, nhưng anh ta chỉ xem cô như là em trong gia đình. Tuy nhiên, gia đình không bỏ ý mà tìm đủ mọi cách để cho anh ta cưới bằng được cô ấy. Họ mua chuộc bùa chú của người Miên ở Châu Đốc gì đó, rồi gá vào trong một tượng Phật bằng đồng rồi gọi anh ta đến nhà chơi, họ hỏi anh ta "Có biết tượng Phật này là ai không?" anh ta kể: "khi thấy tượng Phật thì con, hình như bị ai đó dùng gậy gõ vào đầu con và làm cho con  choáng dáng cả mặt mày". Phật tử này  nói hễ thấy tượng Phật thì tâm anh ta thật hoan hỷ và vui vẻ, sao nay thấy tượng Phật lại cảm thấy khó chịu và muốn quay về nhà. Anh ta không trả lời và mặt anh cúi xuống.  Vài ngày sau vị Phật Tử này hình mạo xanh xao biến ăn biến ngủ đi bác sĩ chuẩn đoán thì chẳng có bịnh gì, mẹ anh ta lo buồn và nghe lời người thân đi bói toán coi thầy gì đó. Vị đó cho hay là anh ta bị bùa, gãi. Phật tử này không tin, anh ta nói, lúc trở về anh vội vào chùa Phước Sơn gần gũi Tam Bảo trì chú đại bi trong tuần lễ thì anh ta cảm thấy khỏe hơn lúc trước. Tuy vẫn mất 2 ký lô trong thời gian đó. nhưng anh cảm thấy rất là khỏe, tâm trạng vui vẻ. Sau đó ở chơi một tuần nữa thì trở về nước.

Quí vị có tin là chuyện ấy có thật không? theo tôi anh ta không phải bị ếm với sự trù ẻo cho đến chết mà là làm cho anh nghe lời và thương cô con gái của họ. 

Đúng vậy! Nếu thật sự là bị bùa bỏ vào tượng phật kia, khi anh ta thấy tượng Phật cảm thấy choáng dáng chính là do phản chiếu mà ra, vì Phật tử thường trì tụng kinh điển, chú lăng Nghiêm, Đại Bi nên có sự gia bị của Phật, khiến anh cảm thấy buồn mà muốn quay về.

Hôm nay trong Pháp Hội này tôi xin khai thị cho quí vị biết, chú rất là linh nghiệm và có sức diệt hết mọi thứ khổ, công năng của nó không thể nghĩ bàn, nên quí vị cần phải phát tâm trì tụng chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm, thập chú..... Nếu có ai trì tụng một cách thành tâm và tin chắc, thời tôi bảo đảm cho quí vị sẽ không bị bùa ếm của ngoại đạo làm hại quí vị được. Nếu không như vậy, thời tôi là người nói láo để gạt người khác, không đáng ngồi đây để giảng kinh cho quí vị nghe. Tuy nhiên phải đem thân khẩu ý thanh tịnh mà tụng kinh trì chú và cần phải thành tâm với lòng tin tưởng. Nếu chỉ tụng trì kinh chú trong một giờ, còn những giờ khác đem thân tạo ác, miệng thì chửi mắng, ý sanh tham thời không thể cảm ứng đạo giao được.

 "Cô Độc"(thuốc độc)  là người chết vì thuốc độc.

Hoạnh tử là chết bất ngờ không hay biết. Hoặc bị xe tông mà chết, rớt núi mà chết, chìm tàu mà chết ,rớt máy bay mà chết  v.v..nghĩa là chết bất đắc kỳ tử (tuổi thọ chưa hết) vậy. Lại cũng có nghĩa, chết trong hoàn cảnh dữ giống như chết trên chiến trường và chết vì bom đạn. Tóm lại, đều là những thứ ác nghiệp mà chúng ta đã trồng trong đời quá khứ, nên nay phải thọ quả khổ ác.

" Yểu tử" là chết non, tại sao có người sống đến trăm năm, tám mươi năm , và có người sanh ra rồi chết, và có người chỉ sống được 10 năm, 20 năm. Người chết non đều là do đời  trước phạm tội sát sanh quá nhiều nên nay trả quả phải chết non. Ai muốn mình sống bằng tuổi của người thì trước tiên phải biết quí mạng sống của chúng sanh khác. 

Muốn những chứng bệnh đau khổ ấy được tiêu trừ và lòng mong cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện, Ngài liền nhập định, kêu là " định diệt trừ tất cả khổ não chúng sanh". Khi Ngài nhập định, từ trong nhục kế phóng ra luồn ánh sáng lớn, luồng ánh sáng ấy nói chú đại đà la ni:
 

Sau khi Đức Dược Sư Thế Tôn quan sát thấy rõ những thứ khổ của chúng sanh phải chịu như vậy, và muốn cho chúng sanh diệt được những thứ khổ đó và đáp ứng được sự mong đợi của loài hữu tình được mãn nguyện, Phật liền nhập Tam Muội và định này tên là "diệt trừ tất cả khổ não của chúng sanh".
 

Nhục kế là một trong ba mươi hai tướng hảo của Phật. Nhục là thịt, kế là búi tóc, chính là núm thịt nổi cao lên màu đỏ trên đỉnh đầu Phật trông giống như đùm tóc bới. Từ nhục phóng ra luồng ánh sáng lớn và trong ánh sáng Phật phóng ra, lại diễn thuyết Đà Ra Ni. 
 

Đà ra ni dịch là Tổng Trì nghĩa là nắm giữ hết tất cả. Đà ra ni là do dụng công tu tập thiền định mà có. Đà Ra Ni ở đây dịch là chú, là một trong bốn loại Đà Ra Ni.(Văn đà ra ni, Nghĩa đà ra ni, Chú đà ra ni, và Nhẫn đà ra ni) 
 

Nam mô bạt già phạt đế, bệ sát xã, lu lô tịch lưu ly, bác lặc bà, hát ra xà dã. Ðát tha yết đa ra, a ra hắc đế. Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tóa ha.
 

Chú là những mật ngôn của chư Phật chúng ta không thể nào hiểu được ý nghĩa đó, tuy nhiên chúng có thể hiểu đại khái như sau:
 

"Nam mô"  có sáu  nghĩa: Kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng. 

"Bạt Già Phạt Đế"bhagavate dịch là đấng phước trí  vẹn toàn (Thế Tôn).

"Bệ sát xã"  là Dược Sư.

" lu lô tịch lưu ly, bác lặc bà, hát ra xà dã"  Lưu Ly Quang.

'Ðát tha yết đa ra"  tức là Như Lai.

"a ra hắc đế"  (A la hán) tức là Ứng Cúng.

'Tam miệu tam bột đà da"  tức là Chánh Biến Tri.

"đát điệt tha"  là chú thuyết như vầy (tức thuyết chú viết).
 

Phần chú viết chúng ta không hiểu nên không thể giảng tuy nhiên tôi cố gắng dịch nghĩa cho quí vị, chắc chắn không đúng với diệu dụng của câu chú.

"Án"  là Thành tựu (chữ án này khi phát ra thì tất cả pháp giới đều phải định chỉ và tuân theo).

" bệ sát thệ" Nguyện rộng lớn 

"bệ sát xã" Diệt hết khổ

"tam một yết đế tóa ha" tam thế tán tức giai giải thoát (tam đời khen ngợi tức thành tựu)(pháp mầu nhiệm có công năng diệt trừ nhứt thiết khổ, tất cả chúng sinh hành theo nhứt định đến được bến bờ bên kia).
 

Kết nối lại thành như sau.
 

Quy y kính lễ Đấng Phước Trí vẹn toàn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến tri . Thành tựu đại nguyện rộng lớn, diệt trừ tất cả  khổ não của chúng sanh, ba đời khen ngợi, chúng sanh được giải thoát.
 

Lại nữa, trong thần chú Lăng Nghiêm có câu: Nam Mô bạt già phạt đế, bệ sa xà da cu lô phệ trụ rị da, bát ra bà ra xà da, đa tha tha già đa da. cũng chính là đức Dược Sư vậy.( Quy y Kính Lễ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai)
 

* Ứng Cúng (đáng thọ nhận sự cúng dường của trời, người ).
* Chánh Biến Tri (thông suốt khắp pháp giới, không có gì mà không thấu rõ, thế gian pháp và xuất thế gian pháp đều biết cả)

Lúc ấy trong luồng ánh sáng diễn chú này rồi, cả đại địa rúng động, phóng ra ánh đại quang minh làm cho tất cả chúng sanh dứt hết bịnh khổ, hưởng được an vui.

Ánh sáng Phật phóng ra nói chú này rồi, quốc độ rung động, lại phóng ra ánh sáng lớn, ánh sáng này làm cho tất cả chúng sanh hết bịnh khổ, hưởng điều an vui.
 

Này Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy những người nào đang mắc,  vì bịnh nhân ấy tắm gội sạch sẽ và vì họ nhứt tâm tụng chú này 108 biến, chú nguyện trong đồ ăn, trong thuốc uống hay trong nước không vi trùng mà cho họ uống thì những bịnh khổ ấy đều tiêu diệt.

Phật đã nói về hiện hữu của chú rồi, đến phần oai lực của chú. Đức Phật bảo Ngài Mạn Thất Lợi rằng; nếu thấy chúng sanh nào đang mắc bịnh khổ, Phát tâm từ bi cứu độ họ, mà tắm rửa cho sạch và thành tâm tụng trì chú này108 lần vào đồ ăn, thuốc uống, hay nước không có côn trùng (vô thuỷ côn trùng) rồi đem họ dùng thời những thứ bịnh khổ ấy đều được tiêu trừ.

Nếu có ai mong cầu việc gì mà chí tâm tụng niệm chú này thì đều được như ý muốn: Ðã không bịnh lại thêm sống lâu, sau khi mạng chung được sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly, không còn thối chuyển, rồi dần dần tu chứng đến đạo quả Bồ đề.

Nếu có người cần việc gì dùng tâm thành mà trì chú này thời đều được toại nguyện. Không những vậy mà người nầy còn không mắc những thứ bịnh khổ mà tuổi thọ của họ được tăng thêm. Người này sau khi chết được sanh về thế giới của Phật Dược Sư, tâm của họ không thối nơi Đạo Vô thượng Bồ Đề, do nơi không thối chuyển nên người  này sớm thành Phật.

Chúng sanh được sanh về đây thì không còn tâm thối chuyển nữa, không thối chuyển tức là không bị lùi sụt trở lại, chỉ quyết tâm bước tới quả vị Phật. Khác với phàm phu chúng ta, phát  tâm tu hành hôm qua hôm sau thì không còn muốn bước tới nữa. Nhưng nếu chúng sanh về thế giới của Phật Dược Sư thời không còn có tâm thới chuyển. Có 4 vị bất thối thối:

1. Vị Bất thối: Nếu sanh về nước kia, sẽ hóa sanh trong hoa sen; khi hoa sen ấy nở sẽ thấy Phật, nghe pháp, chứng nhập Vô sanh pháp nhẫn, không còn bị lưu chuyển. 

2. Hạnh bất thối: Có một số người đời này tu hành tinh tấn, nhưng đời sau lại biếng nhác, đó là tu hành không có vững chắc. Nhưng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly thì  chỉ có tinh tấn tiến tới  mà không dừng ở một chỗ. 

3. Niệm bất thối: Ví như người tu hành ở thế giới Ta Bà, hôm nay nghĩ đến việc tu hành đã qua, phát sanh niệm tinh tấn, tinh tấn được một thời gian cảm thấy khổ cực mệt nhọc, tự nghĩ, thôi! nghỉ ngơi cho được thoải mái một chút cần gì tinh tấn quá vậy, rồi không tinh tấn nữa sanh ra ý niệm lười biếng. Hạnh dầu không thối, nhưng niệm bị thối rồi. Nhưng khi sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly, ngày đêm sáu thời đều nghe thuyết pháp thì không thể nào có ý niệm thối thất tâm Bồ-đề được. 

4. Cứu cánh bất thối: Khi sanh về thế giới kia được hóa sanh trong hoa sen.Thì không lúc nào cũng không có tâm thối lùi sụt, nghĩa là lui sụt về địa vị của Phàm Phu chúng ta, hoặc quả vị Tam thừa. Tam thừa ở đây chính là: Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa và Duyên Giác Thừa; mà chỉ một lòng tu hành Bồ Tát đạo tiến đến quả vị Phật vậy. 
 

Vậy nên, Mạn Thù Thất Lợi, nếu có những người nào hết lòng ân cần tôn trọng, cung kính cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì phải thường trì tụng chú này đừng lãng quên.

Đây là câu phó chúc cho những ai muốn gần gũi hạnh nguyện của Đức Dược Sư Thế Tôn, nếu ai có lòng tin vững chắc vào hạnh nguyện của ngài và muốn cúng dường Ngài thời nên thường thì trì tụng chú này đừng lãng quên. 

Lại nữa, nếu có những kẽ tịnh tín nam nữ nào nghe rồi tụng trì danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, ứng chánh đẳng giác, mỗi sớm mai, súc miệng, đánh răng, tắm rửa sạch sẽ, xong lại thắp hương, rãi dầu thơm, các món kỹ nhạc để cúng dường hình tượng, còn đối với kinh điển này thì tự mình hay dạy người khác chép ra, rồi giữ một lòng thọ trì và suy nghĩ nghĩa lý.

Phần trước là đem ý nghiệp thanh tịnh mà cúng dường. Bây giờ phải nói đến sự cúng dường ở bên ngoài vậy.Phải đem thân nghiệp và khẩu nghiệp thanh Tịnh mà cúng dường. thân không sát sanh, miệng không nói dối mà cúng dường thì phước vô lượng. Ba nghiệp thanh tịnh mà cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì chắc chắn rằng người này được vô luợng vô biên công đức, và sau khi mạng chung được sanh vào thế giới của Ngài vậy. Đối Chúng sanh hướng ngoại tìm cầu thì Phật cũng dùng phượng tiện thiện xảo, để đáp ứng nhu cầu của họ; bằng cách là khi dậy súc miệng đánh răng cho sạch và dùng danh hương dầu thơm mà cúng dường tôn tượng Phật. 

Kinh nầy có công năng nhổ sạch cội nguồn đau khổ của chúng sanh, làm cho mọi người được an vui; nên Phật phó chúc cho chúng ta nên thay nhau lưu truyền cho mọi người cùng biết, và suy nghĩ nghĩa lý trong kinh.
 

Đối với vị pháp sư giảng nói kinh pháp thì phải nên cúng dường tất cả những vật cần dùng đừng để thiếu thốn. Hễ hết lòng như vậy thì nhờ chư Phật hộ niệm được mãn nguyện mọi sự mong cầu cho đến chứng đặng đạo quả bồ đề nữa.

Đã nói về sự cúng dường cho Phật, Pháp bây giờ phải nói đến sự cúng dường cho Tăng. Pháp Sư là người nương theo Pháp mà ở, lấy Phật sự làm đầu. Giảng Kinh thuyết pháp cho đại chúng nghe, nên Phật bảo hãy cúng dường những thứ vật dụng cần thiết đừng để thiếu thốn. Vì sao vậy? Vì Vị Pháp Sư này đang truyền hạnh nguyện Như Lai, vì không muốn cho chánh pháp không bị diệt vong, nên chúng ta cần phải hộ trì Pháp hội. Pháp được ba đời Chư Phật giữ gìn nên những chúng sanh nào phát tâm hộ trì như vậy, thì đều nằm trong hạnh nguyện của Như lai; được Chư Phật hộ niệm cầu những gì thì cũng được toại nguyện. Cho đến việc cầu thành tựu được nhứt thiết chủng trí (nghĩa là thành Phật) thì cũng được mãn nguyện. 

Lúc bấy giờ Mạn Thù Thất Lợi đồng tử bạch Phật rằng:” Bạch đức Thế Tôn, Con  thề qua thời kỳ tượng pháp tương con sẽ dùng đủ mọi phương tiện khiến cho những thiện nam tín nữ có lòng tin trong sạch được nghe danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cả đến trong giấc ngủ con cũng dùng danh hiệu của đức Phật này, thức tỉnh nơi tai cho họ rõ biết.
 

Qua thời kỳ Tượng Pháp chính là thời kỳ của chúng ta (Mạt Pháp), Sở dĩ chúng ta hôm nay nghe được danh hiệu Phật Dược Sư gặp được kinh điển đều là nhờ Ngài Mạn Thù Thất Lợi và 12 Đại tướng Dược Xoa gìn giữ và thủ hộ mới có được. Đối với nam lẫn nữ có lòng tin trong sạch thì ngài thệ sẽ dùng phương tiện mà cho người đó biết danh hiệu của Phật Dược Sư. Đối với những chúng sanh đang gieo nghiệp trần, Bồ Tát nguyện cũng dùng danh hiệu này mà làm cho họ thức tỉnh về với chơn tâm. Tuy công việc mọi người ở đây đều bận rộn, mà cuối tuần vẫn trở về đây để tham dự pháp hội nầy, là nhờ sự thu hút uy lực của kinh và sức thệ nguyện của Mạn thù Sư Lợi Bồ Tát và 12 tướng Dược Xoa. Mọi người ở đây đã bị sự phương tiện của ngài Man thù Sư Lợi thu hút, và quí vị cũng là những chúng sanh có lòng tin trong sạch,; vì nếu không quí vị sẽ không thể tham dự pháp hội này.
 

Tôi rất hoan hỷ khi thấy được những lá sen kia tuy phải chịu gian nan cực nhọc, nhưng vẫn một lòng phụ trợ cho hoa sen được pháp huy; xanh tươi và tỏa hương thơm, trong khi sống trong biển người mênh mông đầy cạm bẫy. Để nói lên lời ca tụng hành vi đó, tôi nguyện mình sẽ thuyết Kinh với tâm chân thành cho quí vị nghe. Nhưng tôi rất ngu si, khi giảng chắc có nhiều chỗ lỗi, tôi rất hoan hỷ thỉnh giáo với bậc chân nhân. Dù xuất gia hay là tại gia. Đừng nghĩ là tôi nói suông, vì chúng ta là những người học Phật; nên trau dồi với nhau những sự hiểu biết của mình, để cùng nhau tiến lên bờ giải thoát. Hãy dập tắt đi những thứ tăng thượng mạng tiềm ẩn trong tâm. 

Bạch đức Thế Tôn, nếu ai thọ trì đọc tụng kinh này, hoặc đem giảng nói, bày tỏ cho người khác, hoặc tự mình hay dạy người biên chép kinh này, hết lòng cung kính tôn trọng, dùng những dầu thơm, bông thơm, các thứ hương đốt, tràng hoa, anh lạc, phướng lọng cùng âm nhạc hát múa mà cúng dường hoặc dùng hàng ngũ sắc làm đãy đựng kinh này, rồi quét dọn một nơi sạch sẽ, thiết lập một cái tòa cao mà để lên, thì lúc ấy có bốn vị thiên vương quyến thuộc và cùng vô lượng trăm ngàn thiên chúng ở các cõi Trời khác đều đến đó mà cúng dường và thủ hộ.

"Tứ Đai Thiên Vương" là bốn vị Thiên Vương hộ trì bốn châu thiên hạ. Phía Đông là Trì Quốc Thiên Vương, Phía Tây là Quảng Mục Thiên Vương, Phía Nam là Tăng Trưởng Thiên Vương và Phía Bắc là Đa Văn Thiên Vương.

Những ai làm được như vậy thì sẽ có Bốn vị này  với vô lượng trăm ngàn quyến thuộc cùng vô lượng trăm ngàn thiên chúng từ các trời khác đến cúng dường và thủ hộ. Như hôm nay chúng ta đang ngồi đây nghe giảng kinh tức là xưng dương hạnh nguyện  của Phật thì có vô luợng vô biên chúng trời vây quanh và hộ niệm. nếu như người có Thiên Nhãn Thông sẽ thấy những cảnh giới nhiệm mầu như vậy. Tại sao tôi nói vậy? vì tôi một lòng tin tưởng với những gì mà những vị hộ pháp đã nguyện với Phật là sẽ gìn giữ và hộ niệm kinh này.Cho nên chúng ta hãy tinh tấn lên và dụng công với tấm chân thật, để có thể khai mở tuệ giác của mình và hiện khắp để hộ trì pháp hội." Lành Thay! Pháp Hội Duợc Sư!!!

Bạch Ðức Thế Tôn, nếu kinh này lưu hành đến chỗ nào có người thọ trì và nghe được danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì nhờ công đức bổn nguyện của Ngài mà chỗ ấy không bị nạn hoạnh tử, cũng không bị những ác quỉ, ác thần đoạt lấy tinh khí, và dẫu có bị đoạt lấy đi nữa, cũng được hoàn lại, thân tâm yên ổn khỏe mạnh như thường".

Sau khi đã nghe hạnh nguyện sâu xa của Phật Dược Sư, Ngài Mạn Thù Thất Lợi, dùng trí huệ chứng biết những lời giáo hoá của Đức Như Lai không phải là những lời nói hư vọng; nên Ngài Liền khả ấn cho đại chúng biết. Danh hiệu của Đức thế Tôn kia có công năng như vậy và không thể nào thông suốt cho hết được.Nói đến đây thật lạ kỳ diệu, có người thuyết Pháp và có người chứng Pháp nên mới thành diệu Pháp. Thật là kỳ diệu.
 

Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: Phải phải, thiệt đúng như lời ngươi nói. Nầy Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có những người tịnh tín thiện nam, tín nữ nào muốn cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì trước phải tạo lập hình tượng Ngài, đem để trên tòa cao chưng dọn sạch sẽ các thứ rồi rãi bông, đốt các thứ hương, dùng các thứ tràng phan trang nghiêm chỗ thờ ấy trong bảy ngày bảy đêm, phải thọ tám phần trai giới, ăn đồ thanh trai, tắm gội và y phục chỉnh tề, giữ lòng thanh tịnh, không giận dữ, không sát hại đối với tất cả loài hữu tình phải khởi tâm bình đẳng, đủ cả tâm từ, bi, hỉ, xả làm cho họ được lợi ích an vui đánh nhạc ca hát ngơi khen và do phía hữu đi nhiễu quanh tượng Phật, lại phải nghĩ nhớ công đức bổn nguyện và đọc tụng kinh này, suy nghiệm nghĩa lý mà diễn nói khai thị cho người khác biết.

Đến đây Phật lại ấn chứng  cho đại chúng biết rằng những gì mà Mạn Thù Thất Lợi diễn ra đó đều là sự thấy Chơn Chánh, đáng tin cậy. Tám phần trai giới đã nói ở trên. Tại sao gọi là ăn đồ thanh trai, nghĩa phải ăn đồ thanh tịnh không thức có thịt của chúng sanh.; và ăn đúng ngọ(bất thời phi thực) nên gọi là trai. 

 Làm như vậy thì mong cầu đều được toại ý, như cầu sống lâu, được sống lâu, cần giàu sang, được giàu sang, cầu quan vị, được quan vị, cầu sanh con trai con gái thì sanh được con trai, con gái.

Những ai làm vậy thì cầu chi cũng được thành tựu, cầu sống lâu, được sống lâu, cần giàu sang, được giàu sang, cầu quan vị, được quan vị, cầu sanh con trai con gái thì sanh được con trai, con gái. Xin nói rộng ra một chút,  cầu sống lâu được sống lâu cũng tức là trông cầu được quả vị  Đại Thừa thì cũng được thành tựu. Cần giàu sang, được giàu sang  ý nói muốn cầu được quả vị Tiểu Thừa thì chứng được quả vị Tiểu Thừa. Cầu quan vị, được quan vị chính là muốn cầu được sanh vào các cõi Trời thì được sanh vào cõi Trời vậy. Cầu sanh con trai con gái thì sanh được con trai, chính là muốn sanh lại cõi người hưởng phước thì cũng toại ý.

Lại nếu có người nào trong giấc ngủ thấy những điều chiêm bao dữ, còn khi thức thấy những ác tướng như chim đậu nơi vườn nhà, hoặc chỗ ở hiện ra trăm điều quái dị mà người ấy dùng những của báu cúng dường đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì những ác mộng, ác tướng và những điềm xấu ấy thảy đều ẩn hết, không còn phải lo sợ gì nữa.

Nếu như có những điềm ác như vậy thì nên dùng những của quí báu mà cúng dường tôn tượng Phật Dược Sư, thì những thứ điềm xấu ấy đều ẩn mất tất cả. Những thứ quí báu đó là những gì? Có phải là Vàng, Bạc không? "Chúng diệu tư cụ" có thể nói là những gì mà quí vị yêu thích mà không bỏ được. Thí vụ, đối với một người nào đó, họ cho vàng là quí báu; nhưng đối người khác thì vàng chẳng phải là đồ quí báu. Vậy cái gì là quí báu? Là những việc mà bạn yêu thích nó và không muốn buông bỏ nó thì là của quí báu của bạn. Như có người thích ăn thịt, ngày nào không ăn thì cảm thấy mình yếu đi, nên không thể không ăn thịt. Tuy nhiên, hôm nay phát tâm cúng dường  Đức Dược Sư Như Lai mà nguyện không ăn thịt trong một tuần lễ thì đây chình là những việc quí báu của quí vị  cũng tức là vật quí báu của quí vị vậy.

Nếu gặp tai nạn nguy hiểm như nạn nước lửa, gươm, đao, thuốc độc và các cầm thú dữ gây sự sợ hãi như: voi, sư tử, cọp, sói, gấu, rắn độc, bò cạp, rít, sên, lằn muỗi, mà hết lòng nhớ niệm và cung kính cúng dường đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì được thoát khỏi những sự sợ hãi ấy; hoặc nếu bị nước khác xâm lăng, nhiễu hại, trộm cướp rối loạn mà nhớ niệm và cung kính đức Phật Dược sư thì cũng được thoát khỏi những nạn ấy.

Nếu như có những sự việc trên không biết nương tựa vào ai. thì nên thành tâm mà niệm danh hiệu của Ngài và phát tâm thanh tịnh cúng dượng cho tôn tượng Phật Dược Sư thì đều được giải thoát.
 

Lại nữa Mạn Thù Thất Lợi, nếu có thiện tín nữ nào từ khi phát tâm thọ giới cho đến ngày chết, không thờ những vị Trời nào, chỉ một lòng nương theo Phật, Pháp, Tăng, thọ trì giới cấm, hoặc 5 giới, 10 giới, Bồ tát bốn trăm giới, Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 348 giới nếu có ai hủy phạm những giới pháp đã thọ sợ đọa vào ác thú, hễ chuyên niệm và cung kính cúng dường đức Phật Dược Sư thì quyết định không thọ sanh trong ba đường ác. Lại nếu có người phụ nữ nào đương lúc sanh sản phải chịu cực khổ đau đớn mà xưng danh hiệu, lễ bái và hết lòng cung kính cúng dường đức Phật Dược Sư thì khỏi những sự đau khổ ấy mà sanh con ra cũng được vuông tròn, tướng mạo đoan trang, lợi căn thông minh, an ổn ít bịnh hoạn, ai thấy cũng vui mừng và không bị quỉ cướp đoạt tinh khí.

Giới tiếng Phạn là Thi la(Sila) Tàu dịch là Thanh Lương. Thanh là Thanh Tịnh, Lương là mát mẻ, giới giúp chúng ta ngăn ngừa được việc ác cũng là dừng nghỉ tất cả việc ác, phân biệt được ác và thiện nên không làm việc ác nữa. Tâm không có phiền não mà lại vui vẻ thanh thản nên gọi là thanh lương.

Giới có năm giới của hàng tại gia. Sa di có mười giới Sa Di. Tỳ Kheo có 250 giới , Tỳ Kheo ni có 348 giới. Bồ Tát thì có 58 giới > 10 giới trọng 48 giới khinh . Nhưng nguyên kinh văn chữ hán thì nói là có tới 400 trăm giới (Tứ Bá Giới), tôi cũng không hiểu tại sao. Tuy nhiên chúng ta hiểu là Bồ Tát thì có 10 giới trọng và  48 giới khinh. Ở đây tôi xin không  nêu những giới đó ra vì nói ra thì cần phải có thời gian. 

Lúc ấy đức Thích Ca cũng bảo ông A Nan rằng: “ Theo như Như lai đã xưng dương những công đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đó là công hạnh rất sâu xa của chư Phật, khó hiểu thấu được, vậy ngươi có tin chăng?”  A Nan bạch Phật:”Bạch đức Thế Tôn, đối với khế kinh của Như Lai nói không bao giờ tôi sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì những nghiệp thân, khẩu, ý của các đức Như Lai đều thanh tịnh. Bạch đức Thế Tôn, mặt trời mặt trăng có thể rơi xuống, núi Tu Di có thể lay động, nhưng những lời nói của chư Phật nói ra không bao giờ sai được. Bạch Ðức Thế Tôn, nếu có những chúng sanh nào tín căn không đầy đủ, nghe nói đến những công hạnh sâu xa của chư Phật thì nghĩ rằng: " Làm sao chỉ niệm danh hiệu của một đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà được nhiều công đức thắng lợi ngần ấy”, vì sự không tin đó, trở sanh lòng hủy báng nên họ phải mất nhiều điều lợi ích, mãi ở trong cảnh đêm dài tăm tối và lại còn bị đọa lạc trong các đường ác thú, lưu chuyển không cùng".

Thích Ca là họ của Phật, Mâu Ni là tên của Phật, đều là tiếng Phạn, Thích Ca Tàu dịch là Năng Nhân, Mâu Ni là Tịch Mặc.

A Nan nói cho đủ là A Nan đà. Tôn giả A Nan là em chú Bác của Phật. A Nan-đà là tiếng Phạn, dịch là Khánh Hỷ, vì ngài ra đời đúng vào ngày Phật thành đạo. Khi Phật chứng quả, mọi người đều vui mừng, cho nên cha ngài lấy điều khánh hỷ đặt tên cho ngài. Tôn giả A Nan  là người đa văn bậc nhứt, nên gần gũi Phật nghe Pháp rất nhiều, khi nghe qua ngài có thể nhớ tất cả không quên xót một câu. 

Tu Di dịch là Diệu Cao, núi này rất cao và vững chắc. Trong kinh Phật thường dùng núi Tu Di để nói lên cái to lớn, cao cả và vững chắc như núi mà không thể dùng ngôn từ diễn tả được. Núi này vững chắc như vậy mà nó có thể lay động, nhưng lời Phật nói ra chắc thật còn hơn như vậy.

Chúng sanh không căn duyên, cho rằng làm sao chỉ niệm một danh hiệu của Phật Dược Sư, mà được công đức thù thắng như vậy. Do không tin nên sanh ra phỉ báng nên người này phải mất lợi ích và chịu đọa lạc trong đường súc sanh. Cho nên chúng ta cần phải phát lòng tin với Phật vĩnh viễn. Đây cũng là lý do mà tại sao chúng ta không thể ép buộc người khác nghe kinh hay giảng nói những pháp mầu nhiệm cho họ, khi mà họ chưa có chánh tín đối với Tam bảo. vì nếu nói cho họ nghe, họ không có nhân duyên nên sanh tâm phỉ báng thì rất là nguy nên chờ có duyên mới độ được họ.
 

Phật lại bảo ông A Nan:" Những chúng hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thọ trì, không sanh lòng nghi hoặc mà đọa vào ác thú thì thật vô lý vậy.

Phật bảo nếu có người nghe danh hiệiu của Phật Dược Sư chí tâm thọ trì, không có lòng nghi  mà người này bị đọa vào đường ác thú thì việc này không bao giờ có được.

Này A Nan, đó là công hạnh rất sâu nhiệm của chư Phật, khó tin, khó hiểu mà nay ngươi lãnh thọ được thì biết rằng đó là nhờ oai lực của Như Lai vậy.

Đây là lời ca tụng công hạnh của chư Phật sâu rộng vô cùng, khó tin, khó hiểu, mà  A Nan nhận lãnh nên biết là nhờ oai lực của Như Lai. Như chúng ta hôm nay ở Pháp hội này nghe nghe được hạnh nguyện của Như Lai, mà không sanh lòng hủy báng chính là  nhờ oai lực của Đức Thế Tôn vậy; nên chúng ta cần phải quí trọng thời gian này.

Này A Nan, tất cả các hàng Thinh văn, Ðộc giác và các bậc Bồ Tát chưa lên đến bậc sơ địa đều không thể tin hiểu đúng như sự thật, chỉ trừ những bậc” nhứt sanh sở hệ Bồ Tát” mới tin hiểu được mà thôi.

Sơ Địa là một trong mười thập địa của hàng Bồ Tát Đại Thừa, nghĩa là mới bước vào cảnh giới của Thập Địa. Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát đã nói ở trên.
 

Này A Nan, thân người khó đặng, nhưng hết lòng tin kính tôn trọng ngôi Tam bảo còn khó hơn, huống chi nghe được danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại còn khó hơn nữa.

Đây là sự so sánh chuyện khó có thể có được mà lại có được, thì biết không phải là chuyện dễ mà nghe được danh hiệu của Đức Phật kia; ý nói chúng ta nên phát  lòng tin vững chắc nơi danh hiệu của Phật Dược Sư, chớ coi thường mà mất sự lợi ích không thể nghĩ bàn nầy.

Này A Nan, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tu không biết bao nhiêu hạnh Bồ Tát, dùng không biết bao nhiêu phương tiện khéo léo, phát không biết bao nhiêu nguyện rộng lớn, nếu ta nói ra trong một kiếp hay hơn một kiếp thì kiếp số có thể mau hết, chớ những hạnh nguyện và những phương tiện khéo léo của đức Phật kia không khi nào nói cho hết được.

Phật cho chúng ta biết những công hạnh, phương tiện khéo léo,  những nguyện rộng lớn của Đức Phật kia không thể nào nói cho hết được; cho dù Như Lai nói cho hết kiếp này rồi sang đại kiếp khác cũng không sao nói cho hết, kiếp số có thể hết nhưng hạnh nguyện của Phật Dược Sư không thể nói hết.( nhi quảng thuyết giả, kiếp khả tốc tận).

Lúc bấy giờ trong chúng hội có một vị đại Bồ tát tên là Cứu thoát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày vai bên hữu, gối bên mặt quì sát đất cúi mình chắp tay bạch Phật rằng:" Bạch Ðại đức Thế Tôn, đến thời kỳ tượng pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn nạn, khốn khổ, tật bịnh luôn luôn, thân hình gầy ốm, ăn uống không được, môi cổ khô rang, mắt thấy đen tối, tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con, bè bạn quen biết vây quanh khóc lóc. Thân người bịnh vẫn còn nằm đó mà đã thấy sứ giả đến dẫn thần thức đem lại trước mặt vua Diêm Ma pháp vương, rồi liền khi ấy vị thần Câu sanh đem sổ ghi tội phước của người đó dưng lên vua Diêm Ma.

Lúc ấy vua phán hỏi rồi kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. Nếu trong lúc đó, những bà con quen biết, vì người bịnh ấy, qui y với đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thỉnh chúng tăng đọc tụng kinh nầy đốt đèn bảy từng, treo thần phang tục mạng năm sắc thì hoặc liền trong lúc ấy, hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba mươi lăm ngày, bốn mươi chín ngày, thần thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc chiêm bao, tự mình nhớ biết những nghiệp lành, nghiệp dữ và sự quả báo đã thọ. Bởi chính đã rõ thấy nghiệp báo như vậy, nên dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh mạng cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. Vậy nên những tịnh tính thiện nam tín nữ đều phải một lòng thọ trì danh hiệu và tùy sức mình cung kính cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai".

"Tượng Pháp Chuyển Thời" cũng có thể nói là thời kỳ Mạt Pháp chứ không nhứt thiết là thời tượng pháp.

Diêm Vương (Diêm Ma Pháp Vương)  Diêm Ma Pháp Vương là phiên âm từ Tiếng Phạn Yama-raja dịch là Phược(hình phạt tội nhân) . Diêm Ma Pháp Vương  là người có quyền nhứt ở địa ngục( nhà tù dưới đất). Diêm Ma giống như chúng ta vậy chẳng có gì khác cả, cũng là một trong những chúng sanh trôi lăn trong lục đạo luân hồi. Sở dĩ có hiện hữu là cũng do bao nhiêu biệt nghiệp và cọng nghiệp chúng sanh khác mà hiện thành. Giống như vị vua, cũng giống như mọi người, có khác chăng nữa là khác địa vị, vua thay thế cho một quốc gia làm thủ lãnh của một quốc gia; tuy nhiên họ cũng vẫn bị luật nhân quả chi phối. Nếu là do phước mà thành Diêm la thì một ngày cũng chịu mọi thứ khổ sở, nước sôi đổ vào miệng ba lần, còn nếu như do cọng nghiệp của chúng sanh mà tạo ra, tuy có địa vị trong nhà tù, phân xử tội nhân nhưng vẫn không thể nào thoát khỏi hình phạt do ác nghiệp tự cảm vời ra.

Là người chấp hành như pháp bình đẳng không phân biệt nên gọi là Diêm Ma Pháp Vương.

Mỗi người chúng ta khi sanh ra, năm, tháng, ngày, giờ đều khác biệt đều có vị thần sanh theo thì gọi là Thần câu sanh, câu tức là sanh cùng mình. Còn một cách hiểu khác nữa là vốn không có thần câu sanh, có chăng đi nữa cũng là do ngũ uẩn nhân duyên hòa hợp mà thành; mà ngũ uẩn thì không có thật tánh đều  là do duy thức biến hiện mà có. Vị thần câu sanh tức là A Lại Gia Thức vậy. Vì thức này cất chứa hết tất cả chủng tử thiện ác mà chúng ta đã huân tập và bị trôi lăn trong vòng sanh tử.
Lại nữa, bổn thức lại tiếp nhận huân tập và chấp trì chủng tử của nghiệp, nên gọi là thần câu sanh. Do nghiệp lực mà ý thức bịnh nhân hiện ra tướng chết (sứ giả Diêm vương, thần thức của mình) cũng chính là Diêm vương và thần cu sanh. 
 

Lúc đó là lúc người thân quyến vì người bịnh sắp chết mà phát tâm làm phước. Thần thức về được, mạng là bổn thức nối tiếp sự sống thức, chết là ý thức vắng lặng không phân biệt được, còn sống là ý thức phân biệt được. Bổn thức có thể đi khắp nơi (biến nhất thiết xứ). Khi mạng chung nơi này rối liền sanh vào chỗ khác. thì làm sao có sự đi qua lại chứ? Lúc có thể thấy những sự việc rõ ràng như thấy trong chiêm bao vậy.Tự thấy rõ ràng là tự mình thấy rõ những hình phạt mà mình phải chịu ở địa ngục. Lại cảm nhận được những phước thiện mà người thân đã vì mình mà làm ở chốn nhân gian. Sự thấy rõ như vậy giống như người mới chết trong vòng 49 này cảm nhận được những sự thống khổ như thế nên dù mình có mất đi tánh mạng cũng không dám làm việc ác. Sở dĩ được như vậy đều là do sức oai thần của đức Như Lai vậy. 

Lúc bấy giờ ông A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng:" Nầy thiện nam tử, nên cung kính cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai như thế nào? Còn đèn và phang tục mạng phải làm cách sao".

Tại sao gọi là Cứu Thoát. Ví như có người  nghèo đói quí vị phát tâm tốt mua cơm cho họ, đây gọi là Cứu; Sau khi mua cơm cho họ ăn xong quí vị tự nghĩ người này không có nghề nghiệp gì cả, giúp họ hôm nay, nhưng ngày mai thì phải làm sao? Quí vị liền dùng phương tiện, nói với họ, nhà tôi cần người giúp việc, bạn có muốn đến giúp việc cho tôi không ? Ngoài việc bao bạn ăn ở ra tôi còn trả tiền mỗi tháng cho bạn nữa, bạn làm vài năm dành dụm được số tiền rồi tìm việc khác để làm. Lúc đó bạn có thể mở một quán ăn để tự mình làm chủ, đây chính là Thoát. 

Cũng vậy, vị Bồ Tát này có thể cho bạn những thứ vui của thế gian, và làm cho bạn thoát khỏi sự sanh tử luân hồi nên vị Bồ Tát này tên là Cứu Thoát Bồ Tát.

Cứu Thoát Bồ Tát nói:" Thưa Ðại Ðức, nếu có người bịnh nào, muốn khỏi bịnh khổ thì quyến thuộc họ phải thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày, bảy đêm tùy theo sức mình sắm sửa đồ ăn uống và các thứ cần dùng khác cúng dường chư tăng ngày đêm sáu thời, lễ bái cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng kinh nầy bốn mươi chín ngọn đèn, lại tạo bảy hình tượng đức Dược Sư trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn, mỗi ngọn lớn như bánh xe, đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho tắt; còn cái thần phang thì làm bằng hàng ngũ sắc bề dài bốn mươi chín gang tay và phải phóng sanh bốn mươi chín thứ loài vật thì người bịnh ấy qua khỏi ách nạn, không còn bị hoạnh tử và bị các loài quỉ nhiễu hại.

Lại nữa, A Nan nếu trong giòng sát đế lỵ có những vị quốc vương đã làm lễ quán đảnh mà gặp mà gặp lúc có nạn, nhân dân bị bịnh dịch, bị nước khác xâm lăng, bị nội loạn, hay bị nạn tinh tú biến ra nhiều điềm quái dị nạn nhựt thực, nguyệt thực, mưa gió trái mùa, hay bị nạn quá thời tiết không mưa, thì lúc ấy các vị quốc vương kia phải đem lòng từ bi thương xót tất cả chúng hữu tình, ân xá cho tội nhơn bị giam cầm, rồi y theo cúng dường đã nói trước mà cúng dường đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì do căn lành này và nhờ sức bổn nguyện của đức Dược Sư khiến trong nước liền được an ổn, mưa hòa gió thuận, lúa thóc được mùa, tất cả chúng hữu tình đều vui vẻ, không bịnh hoạn, không có thần Dược Xoa bạo ác, não hại lê dân. Tất cả ác tướng ấy đều ẩn mất và các vị quốc vương kia được sống lâu sức mạnh, không bịnh hoạn, mọi việc đều thêm lợi ích.

Nầy A Nan, nếu các hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, thái tử, vương tử, đại thần phụ tướng, thể nữ trong cung, bá quan và thứ dân mà bị bịnh khổ cùng những ách nạn khác thì cũng nên tạo lập thần phang năm sắc, chong đèn sáng luôn, phóng sanh các loài vật, rãi hoa đủ sắc, đốt các thứ danh hương để cúng dường đức Phật Dược Sư, sẽ được lành bệnh và thoát khỏi các tai nạn.

"hoàng hậu" chắc quí vị ở đây ai ai cũng hiểu rồi, tôi không cần phải nói rõ. Nhưng tôi vẫn phải nói, vì những em sanh ở quốc gia này có lẽ không hiểu được nên tôi phải nói. Hoàng hậu chính là vợ chánh của vua. "hoàng phi" là vợ thứ của vua. "Công chúa" là con gái của vua. "thái tử" là con trai của vua nhưng người khá đặc biệt, tại sao? vì vị này sẽ kế ngôi của vua nên gọi là thái tử. Vương tử là con của vua, nhưng không được nối ngôi của vua. 

"Đại thần phụ tướng" Đại thần là vị quan lớn trong triều. Chính Quan Văn, quan văn là do học vấn thi đỗ đạt; còn Phụ Tướng là những vị tướng chuyên về gươm đao. võ tướng.

"Thể nữ trong cung" là những phụ nữ làm việc trong cung đình(Nô tỳ).
Phang bằng vải năm màu, dài 49 gang tay. Đèn thì có bảy tầng, mỗi một tầng để một hình tượng Đức Dược Sư,

"Bát Quan trai" đã nói ở trên..

Lúc ấy ông A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng:" Thiện nam tử, tại sao cái mạng đã hết mà còn sống thêm được". Cứu Thoát Bồ tát nói: " Nầy Ðại đức, Ðại đức há không nghe Như Lai nói có chín thứ hoạnh tử hay sao? Vậy nên ta khuyên người làm phang và đèn tục mạng, tu các phước đức và nhờ có tu các phước đức ấy nên suốt đời không bị khổ sở hoạn nạn".
 

Ông A Nan hỏi: " Chín thứ hoạnh tử là những thứ chi:" Cứu Thoát Bồ tát trả lời:" Một là nếu có chúng hữu tình nào bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc,không người săn sóc, hay giá có gặp thầy lại cho uống lầm thuốc, nên bịnh không đáng chết mà lại chết ngang. Lại đang lúc bịnh mà tin theo những thuyết họa phước vu vơ của bọn tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt trong đời, sanh lòng rúng sợ không còn tự chủ đối với sự chân chánh, đi bói khoa để tìm hỏi mối họa rồi giết hại loài vật để tấu với thần minh, vái van cùng vọng lượng để cầu xin ban phước, mong được sống lâu, nhưng rốt cuộc không thể nào được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến điên đảo nên bị hoạnh tử, đọa vào địa ngục đời đời không ra khỏi. Hai là bị phép vua tru lục, ba là sa đắm sự chơi bời, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỉ đoạt mất tinh khí, bốn là bị chết thiêu, năm là bị chết đắm, sáu là bị các thú dữ ăn thịt; bảy là bị sa từ trên núi cao xuống; tám là bị đè chết vì thuốc độc, êm đối, rủa nộp, trù ẻo và bị quỉ tủ thi làm hại; chín là bị đói khát khốn khổ mà chết.

"Hoạnh Tử" là chết bất đắc kỳ tử không phải chết do số chết của người nghĩa là không phải mạng đã hết. Chết ngoài ý không phải già mà chết,Mà do nhân duyên hợp phải trả bằng cách chết xấu đó. Nếu như theo pháp làm theo những việc trên nên nhờ phước đức đó mà thoát khỏi.

Ðó là chín thứ hoạnh tử của Như Lai nói. Còn những thứ hoạnh tử khác nhiều vô lượng không thể nói hết được.

Phần trên nói có chín thứ hoạnh tử như vậy, nhưng lại còn có vô lượng những thứ hoạnh tử khác nữa, nên quí vị phải phát tâm trì tụng kinh này, niệm danh hiệu Phật Dược Sư, và hành theo những lời chỉ dạy trên mà cúng dường Dược Sư Như Lai hầu tránh khỏi những thứ hoạnh tử như thế. Chúng ta sống trong thời đại này thật là rất nguy hiểm không biết đi về đâu, cũng không biết trong quá khứ mình có tạo những thứ duyên ác đó không.; nên phải thành tâm hướng về nương tựa Phật, hầu mông nhờ công đức đó mà chúng ta thoát khỏi được một kiếp khổ. Như trong đời quá khứ, chúng ta không có tạo những thứ nhân ác đó, thì cũng nhờ đó mà tăng phước huệ và được an vui thêm.
 

Lại nữa, A Nan,Vua Diêm Ma kia là chủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi tội phước trong thế gian. Nếu có chúng hữu tình nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục ngôi Tam Bảo, phá hoại phép vua tôi, hũy phạm điều cấm giới thì vua Diêm Ma pháp vương tùy tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế ta khuyên chúng hữu tình nên thắp đèn làm phang, phóng sanh, tu phước khiến khỏi được các khổ ách, khỏi gặp những tai nạn.

Làm con người chúng ta cần biết hiếu thuận với Cha Mẹ, vì có Cha Mẹ nên quí vị mới có được thân thể này. Vì được thân thể này nên quí có thể tu hành và sẽ được giải thoát. Chữ hiếu này rất quan trọng, vì  có hiếu thuận nên mọi người trong gia đình đều được an vui và êm ấm. Lại nữa, nếu như bạn biết hiếu thuận với cha mẹ của bạn thời con cái của bạn cũng sẽ biết hiếu thuận với bạn. 

Vậy có người dâng Thức quý vật ngon cho cha mẹ, như vậy có phải gọi là tròn đạo hiếu không? Đúng vậy, đối với người đời thì đây gọi là hiếu; nhưng trong Phật giáo thì đây chỉ là sự hiếu của bề ngoài mà thôi. Hiếu chính là hiếu thuận Cha Mẹ, chúng ta không làm cho cha mẹ buồn rầu, mà phải thuận ý của họ. Không làm việc hồ đồ, mà học hành đến nơi đến chốn. Người trong thiên hạ do không thấu rõ, vòng dây sanh tử luân hồi xây chuyển,  nên sát hại chúng sanh mà dâng cho cha mẹ đời này, nhưng biết đâu những chúng sanh đó, cũng là do người thân quyến thuộc của chúng ta trong đời quá khứ, nay không biết do sự luân hồi mà thọ quả ác trả nghiệp mang thân cầm thú rồi sát hại cho Cha Mẹ đời nay. Nếu thật như vậy, vậy chúng ta thử nghĩ xem có phải chúng ta đang thực hành đạo hiếu không? 

Chúng ta nay ở đây nghe giảng kinh Dược Sư chính là chúng ta đang học làm đạo hiếu đấy. 

"Ngũ Nghịch" là năm thứ nghịch. Năm thứ nghịch đó là:

1. Giết Cha
2. Giết Mẹ
3. Giết A La Hán
4. Phá hòa hiệp Tăng:  là làm ra sự bất hòa giữa với
5. Làm cho Thân Phật ra máu là làm cho thân Phật chảy máu,

Tại sao không gọi  là giết mà chỉ gọi là làm thân Phật chảy máu thôi. Vì Phật vì chúng sanh mà đến quan sát nhân duyên đã đến nên thị hiện để cứu độ chúng sinh. Trong tam giới này không ai có thể hại được ngài, nếu có chăng đi nữa chỉ làm cho thân Ngài chảy máu mà thôi. Chắc Phật tử ai ai cũng biết khi Phật còn tại thế, có Đề Bà Đạt Đa tìm mọi cách để hảm hại Ngài, tuy nhiên đều không thành tựu, một hôm ông ta chờ Phật và tăng đoàn đi qua một cái núi cao và định xô một tảng đá to lớn để đè Phật, khi Đề Bà Đạt Đa xô tảng đá xuống thì lúc đó Lực Sĩ Kim Cang tức Thần giữ núi dùng chày Kim Cang của mình đánh tảng đá về phía khác, làm cho những mãnh đá bị bể dăn ra khắp nơi, có một mãnh đá dăn trúng chân của Phật làm chân Ngài bị chảy máu. Đây chính là làm cho thân Phật bị chảy máu. 

Nhưng bây giờ Phật đã nhập Niết Bàn rồi, thì có ai có thể làm thân Ngài chảy máu được? Nếu có người vì tâm ác mà thiêu hình ảnh có hình Phật, hoặc đập phá tượng Phật đều đồng tội như Đề Bà Đạt Đa làm cho thân Phật bị chảy máu vậy.

Chúng ta nên nhớ là đừng bao giờ phạm tội ngũ nghịch, vì nếu như phạm tội này sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián, không biết bao giờ mới có thể trở ra được.

"huỷ nhục ngôi Tam Bảo" là sanh lòng ngu si mà huỷ báng Phật Pháp Tăng, Phật là đấng giác ngộ, Pháp là cánh cửa giúp cho chúng sanh thoát ra ngoài Tam Giới, Tăng người có tấm lòng vĩ đại bỏ những thứ hư vô để nối truyền Chánh Pháp lợi ích cho chúng sanh. Nên gọi là ba thứ quí báu. Nhưng có số người ngu si vô trí sanh tâm đố kỵ huỷ báng Phật, đốt kinh điển, giết Tăng Ni, đây là những hành vi của loài ngạ quỷ và cầm thú, vì có tâm đố kỵ hơn thua nên sanh vào Đường Ngạ Quỷ, do hành vi không ngu si như vậy nên sanh vào súc sanh đạo. Vì chúng sanh hướng ngoại tìm cầu nên không thấu hiểu được những chơn lý của kinh văn. Người không hiểu được là do bạn không có tri kiến phật học.  Giáo lý của Phật đà không thể nào kiến giải bằng những tâm tham, sân, si của quí vị. Tuy nhiên, không tin chớ nên sanh tâm huỷ báng, bằng không sẽ thọ quả khổ sau này. Quí vị không tin chánh pháp cũng không có tội gì, chỉ làm cho bạn mất đi sự lợi ích đó. Còn nếu như sanh tâm huỷ báng, thì có tội sẽ đọa vào ba đường. cho nên không tin cũng đừng sanh tâm huỷ báng vì nhân quả tự nhiên hiện hành, bao trùm pháp giới và bình đẵng. 

"phá hoại phép vua tôi" chính là không theo lề lối tôn tuy trật tự. Nếu như ai ai cũng không theo đường rẽ đó thì quí vị nghĩ xem sẽ ra sao đây. Cho nên người Phật tử phải luôn luôn nhớ kỷ điểm này. Giống như trong xã hội này không có luật lệ gì cả thì thiên hạ sẽ bị đại loạn, cho nên phải biết tuân theo quy cũ, làm được như vậy bạn mới thật là công nhân tốt của xã hội. Cũng là người Phật Tử đáng kính nhất.

"Huỷ phạm điều cấm giới"  hủy ở đây nghĩa là không tuân thủ giới luật, phạm chính là làm trái với điều giới đã dạy. Người đã thọ giới nhứt định là phải giữ giới cho được thanh tịnh, người xưa nói " giữ giới như giữ tròng con mắt của mình" mọi người sống đều nhờ vào con mắt để tiếp xúc với đối tượng của mình, nếu con mắt không thấy được thì rất là khổ. Giới cũng vậy, nó giúp cho chúng ta được thanh tịnh, hết phiền não, phân biệt được thiện ác, do tâm không còn phiền não nên sanh ra trí tuệ chơn chánh. 

Gìới là nền tảng của Đạo. nếu như chúng ta không tuân thủ theo thì trên tiến tới quả vị giải thoát thì chúng ta không bao giờ đạt được cho nên cần phải giữ giới.

Lúc bấy giờ, trong hàng Ðại chúng có mười hai vị Dược Xoa đại tướng đều ngồi trong hội như:

Cung tì La đại tướng.
Phạt chiếc La đại tướng
Mê súy La đại tướng
An Ðể La đại tướng
Át Nể La đại tướng
San để La đại tướng
Nhơn Ðạt La đại tướng
Ba di La đại tướng
Ma hổ La đại tướng
Chơn đạt La đại tướng
Chiêu đô La đại tướng
Tỳ yết La đại tướng

Mười hai vị đại tướng nầy mỗi vị đều có bảy ngàn Dược Xoa làm quyến thuộc đồng cất tiếng bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn, hôm nay chúng con nhờ oai lực của Phật mà được nghe danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn tâm sợ sệt trong các đường ác thú nữa. Chúng con cùng nhau, đồng một lòng trọn đời qui y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Tùy nơi nào hoặc làng xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có kinh này lưu bố đến hay có người thọ trì danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, thì chúng tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ mong cầu việc chi cũng đều được thỏa mãn. Nếu có ai bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi thì cũng nên đọc kinh nầy và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mới mở gút ra".

Trong pháp hội có 12 tướng dược xoa, mỗi người có 7.000 người thân quyến, thưa Phật rằng, nhờ sức oai thần của đức Như Lai hộ niệm nên nay chúng con nghe được danh hiệu của đứa Dược Sư Như Lai sanh tâm vui vẻ và không còn lo sợ trong chốn ác đạo nữa. Chúng ta thấy đó, những hàng quỉ dược xoa này khi nghe danh hiệu Phật Dược Sư và bổn nguyện sâu rộng của ngài liền phát tâm chánh tín nên tâm không lo sợ trong những đường khổ, còn chúng ta có làm được như vậy không? Hay cho vào tai bên này rồi cho nó ra tai bên kia, không những không phát tâm chánh tín mà còn sanh tâm nghi hoặc, nên quí vị cũng vẫn là quí vị, không thay đổi gì cả, hàng quỉ dược xoa tuy sống trong đường ác đạo nhưng khi nghe danh hiệu của Đức Như Lai mà còn hưởng được niềm an lạc như vậy, huống chi là chúng ta là mhững chúng sanh may mắn sanh làm người mà không làm theo ư?

Những vị quỉ Dược Xoa này, vì đức ân đức của Như lai nên phát nguyện gánh giác cho chúng hữu tình và làm lợi ích cho chúng sanh, còn chúng ta nghe những công hạnh của đức Như Lai làm lợi ích cho chúng sanh như vậy, nên phát nguyện gì đây? Để hầu báo đáp một phần ân đức của Như Lai. Quỉ dược xoa phát nguyện không làm khổ và hại chúng sanh khác nữa mà trái lại sẽ làm lợi ích cho chúng sanh. Có người trong chúng ta ở  trong pháp hội thì ba nghiệp còn  được thanh tịnh, khi ra về là trở về đối mặt với những vấn đề phiền não, bất như ý, có sanh tâm buồn phiền muộn không? Và có thối tâm chánh Tín đối với Phật không? Hay là thối lui đi, chúng ta nên nhớ rằng, chúng ta được nghe những hạnh nguyện  và danh hiệu của Phật Dược Sư, là chúng ta đang sống trong bản nguyện của ngài, nên chúng ta cầu những việc gì thì ngài cũng sẽ cho chúng ta toại nguyện; cho nên, chớ sanh tâm hờn giận, ganh ghét đối trước những cảnh bất như ý đến với chúng ta. Mà phải dùng tâm thương yêu từ bi hỷ xả mà đối đãi với họ, thì chắc chắn rằng Dược Sư Phật sẽ không bao giờ bỏ chúng ta mà làm ngơ đi.
 

Lúc ấy đức Phật Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “ Hay thay! Hay thay! Ðại Dược Xoa tướng, các ngươi nghĩ muốn báo đáp ân đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nên mới phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả chúng hữu tình như vậy".

"Hay thay! hay thay" là lời khen ngợi của Đức Thế Tôn khen ngợi những vị dược xoa, vì muốn báo đáp ân đức cứu độ của đức Như Lai mà phát nguyện làm lợi ích cho chúng hữu tình như vậy. Nếu như chúng cũng phát nguyện làm như vậy. thì Đức Phật Thích Ca cũng khen ngợi chúng ta như vậy. Cho nên, những gì chúng ta nghe ở đây giống như những sinh viên Đại Học đang học và sẽ ra trường rồi thì phải đem những gì mà mình đã học áp dụng ngay vào công việc của mình chớ nên sanh tâm lười biếng phải làm lợi ích cho mỗi chúng sanh đều hưởng lợi ích, nếu ai làm được như vậy thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ gặp lại và tham dự pháp hội ở thế giới Tịnh Lưu Ly, không bao giờ sai biệt.

Là người trí thức thì hành vi, cử chỉ, lời nói đều phải chân thật, dù cảnh duyên đó có thuận hay nghịch thì cũng giữ lòng thanh tịnh. Đối với tha nhân phải lấy tứ vô lượng tâm mà đối đãi, không nên làm cho người khác sanh tâm phiền muộn. Đừng nói, anh đánh tôi, anh chửi tôi, tôi không ăn cơm, phải nói anh đánh tôi, anh chửi tôi, tôi vẫn ăm cơm. 

Đối với tôi, tôi xem quí vị như là thiện tri thức của tôi vậy, tuy bên ngoài một số quí vị là đệ tử của tôi nhưng đó chỉ là phương tiện để dìu dắt nhau trên con đường giác ngộ. Ai muốn cúng dường tôi thì phải nhớ những gì học được hôm nay và suy nghĩ kỹ, đem nó ra thực hành một cách chân thành như vậy tức là quí vị đã cúng dường vật quí giá mà trên thế gian này không thể nào tìm kiếm được. Đừng đem  vàng bạc, hay những thứ quí báu của thế gian mà cúng dường cho tôi, vì những thứ đó không phải là điều tôi mông đợi. Hãy đem những thứ ấy thay vì dâng cúng dường cho tôi thì hãy đem chúng hiến tặng cho những ai cần đến, chớ nên để tâm phân biệt. 

Ai làm được như vậy, quí vị mới thật là người Phật tử chơn tín và lãnh ngộ những chơn lý của cuộc đời. Là một Tăng  ni, tôi luôn luôn mày dũa tâm tham sân si của mình để chúng có thể theo chánh Pháp mà giúp chúng nhập Niết Bàn tịch diệt. Cho nên tôi hy vọng  nếu quí vị thương tôi thì phải hộ trợ cho tôi, chớ nghĩ rằng dâng cho thầy món ngon vật lạ, tiền cho nhiều là thương tôi. Không phải như vậy đâu, đó không phải là biểu lộ tình thương quí vị dành cho tôi mà quí vị đang gíup tôi tạo nghiệp vì tôi tuy sống trong Phật pháp nhưng vẫn là một phạm Phu thì dễ dàng khởi dậy tâm tham của mình. Tuy không nên sanh tâm phân biệt nhưng tôi phải để quí vị hiểu tâm tôi, chỉ hy vọng rằng mình ngày một buổi để nuôi thân thể bất tịnh; có sức để tu tập giáo lý mầu nhiệm xuyên khắp ba cõi để ra khỏi chốn hầm lửa đang cháy rực rỡ này.

Nam Mô Bổn Sư Tuyên Hóa Tỳ Kheo Bồ Tát, tác đại chứng minh.
 

Ðồng thời, ông A Nan lại bạch Phật rằng: " Bạch Ðức Thế Tôn, pháp môn nầy gọi là tên gì? Và chúng con phải phụng trì bằng cách nào?".

Khi Phật khen những hạnh nguyện của những Tướng Dược Xoa xong, Ngài A Nan tiếp lời hỏi Phật, Tôn giả hỏi Đức Phật những gì?  bạch đức Thế Tôn pháp Môn này tên gọi là gì? và chúng con phụng trì kinh này như thế nào?
 

Phật bảo A Nan:" pháp môn nầy gọi là Thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bổn nguyện công đức, cũng gọi là thuyết Thập nhị thần tướng nhiêu ích hữu tình kiết nguyện thần chú và cũng gọi là Bạt trừ nhứt thế nghiệp chướng. Cứ nên đúng như vậy mà thọ trì".

"Thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bổn nguyện công đức" "thuyết"  là lời nói giữa người với người, (tức là Phật nói cho đại chúng  nghe) phần còn lại đã giải thích ở trên . "Thập nhị thần tướng nhiêu ích hữu tình kiết nguyện thần chú"  Kiết nguyện là những sự mong cầu chơn chánh của chúng sanh thì, 12 vị tướng này đều thành tựu cho họ,  thần chú ở đây là văn đà ra ni vậy (trong bốn đà ra ni là văn, nghĩa, chú, nhẫn).

"Bạt trừ nhứt thế nghiệp chướng"  là có công năng nhổ sạch ác nghiệp của chúng sanh trong đời hiện tại. Kinh này thật không thể nghĩ bàn có công năng như vậy đó nên chúng ta cần phải thọ trì và phát tâm ấn tống bộ kinh này để cho mọi người cùng nhau biết, hầu trả được một phần nào ân đức của Đức Như Lai đối với chúng ta.

Khi đức Bạt Già Phạm nói lời ấy rồi, các hàng Ðại Bồ tát , các Ðại Thinh Văn, cùng quốc vương, Ðại thần, Bà la môn, Cư sĩ, Thiên, Long, Dược Xoa, Kiền thát bà, A tu la, ca lầu la, Khẫn na la, ma hầu la dà, người cùng các loài quỉ thần, tất cả đại chúng, đều hết sức vui mừng và đồng tin chịu vưng làm.

Nếu như chúng Ta muốn đền ân đức Phật thì phải nên phát tâm chánh tín đối với kinh điển này, và thực hành theo lời dạy trong kinh.
 


Nam Mô Dược Sư Hải Hội Phật Bồ Tát ( 3 lần).



c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx